Những kỹ năng giao tiếp, ứng xử của Thẩm phán

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 192 - 196)

Thứ nhất, kỹ năng định hướng: Định hướng trong giao tiếp, ứng xử là một hoạt động có tính xác định trước đối tượng, nội dung giao tiếp và mục đích của giao tiếp mà có cách thức ứng xử cho phù hợp. Quá trình này giúp cho người Thẩm phán có sự chủ động chuẩn bị cho hoạt động giao tiếp, ứng xử khi giải quyết các vụ án được giao.

Nội dung của kỹ năng này đặt ra đối với người Thẩm phán trong hoạt động tố tụng là phải nắm vững diễn biến sự việc, nội dung vụ án; đối tượng và thái độ của từng đương sự trước khi tiếp xúc.

Kỹ năng định hướng giúp Thẩm phán định hướng được những vấn đề cần làm sáng tỏ trong quá trình giải quyết vụ án.

Thẩm phán có thể định dự kiến được các tình tiết có thể xảy ra tại phiên tòa, từ đó đưa ra những câu hỏi để đối tượng trả lời..., dự kiến chiến thuật lấy lời khai của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định.

Kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc với các đương sự còn thể hiện khi Thẩm phán nghiên cứu các đặc điểm tâm lý, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, sự hiểu biết, tính cách, khí chất, trạng thái tâm lý của đương sự, trên cơ sở đó Thẩm phán cần dự đoán xem những đối tượng trên sẽ có những phản ứng như thế nào với nội dung sẽ được đưa ra khi tiếp xúc với họ. Điều này giúp cho Thẩm phán chù động, linh hoạt, sáng tạo, lựa chọn và áp dụng các phương pháp lấy lời khai của những đối tượng đó sao cho phù hợp, tránh những tình huống bất ngờ, bị động, lúng túng trước những phản ứng tiêu cự của họ. Khi đã dự kiến được các tình huống có thể xảy ra, Thẩm phán cần dự kiến cách mở đầu, diễn biến và kết thúc giao tiếp với họ.

Kỹ năng định hướng trong quá trình giao tiếp với đối tượng giao tiếp thể hiện ở việc khi tiếp xúc với họ, Thẩm phán phải quan sát nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói của đối tượng giao tiếp để nhanh chóng nắm bắt và phán đoán được trạng thái tâm lý, suy nghĩ, tình cảm của họ.

Ví dụ: Nếu quan sát thấy họ lắng tai chăm chú nghe Thẩm phán nói, có nghĩa là họ đang ở trạng thái tâm lý tích cực, họ đồng ý với Thẩm phán hoặc ít nhất là họ đang quan tâm đến những điều Thẩm phán nói.

Ngược lại, nếu họ cố tình lấn át, to tiếng tức là họ đang bức xúc, không quan tâm đến những điều người khác trình bày. Trên

cơ sở đó Thẩm phán cần định hướng được các hành vi của mình qua quá trình giao tiếp cho phù hợp.

Ví dụ: Khi đối tượng chưa muốn thổ lộ, bày tỏ ý kiến thì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành vi của mình Thẩm phán cần khuyến kích họ đặt niềm tin vào mình, từ đó họ mạnh dạn trình bày những suy nghĩ của mình một cách trung thực, cung cấp các tài liệu quan trọng cho việc giải quyết vụ án.

Thứ hai, kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài và những đặc điểm tâm lý bên trong của những người tham gia tố tụng: Kỹ năng này đòi hỏi Thẩm phán phải nhận biết những dấu hiệu bên ngoài và những đặc điểm bên trong của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán phải luôn giữ được sự bình tĩnh, tự chủ, sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến các đối tượng giao tiếp.

Thông qua sự giao tiếp trực tiếp, Thẩm phán có thể nhận thức về những đặc điểm bên ngoài như hình dáng, đầu tóc, trang phục, giới tính, lứa tuổi... và những đặc điểm tâm lý bên trong như tính cách, xúc cảm, năng lực, thái độ... Từ đó Thẩm phán có sự ứng xử phù hợp khi giao tiếp với từng đối tượng.

Ví dụ: Thông qua việc tiếp xúc với đương sự, người Thẩm phán có thể hiểu được yêu cầu, thái độ tâm lý để chọn lựa cách thưc, phương pháp hòa giải phù hợp và đảm bảo có sự thành công.

Hoặc việc giao tiếp tại phiên tòa thông qua các giai đoạn hỏi, xét hỏi và tranh luận các đặc điểm tâm lý của đương sự được thể hiện một cách rõ nét giúp Thẩm phán điều hành phiên tòa một cách tốt nhất. Đồng thời cũng là cơ sở để Thẩm phán có những quyết định xử sự đúng pháp luật.

Thứ ba, kỹ năng định vị khi giao tiếp: Đây là khả năng của Thẩm phán biết xác định vị trí của mình trong giao tiếp. Thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với bị can, bị cáo, đương sự và người tham gia tố tụng thẩm phán có thể xây dựng được mô hình về tính cách của các đối tượng từ đó thẩm phán có thể xác định được vị trí trong giao tiếp, biết đặt mình vào vị trí của đối tượng, biết xác định đúng không gian, thời gian và có cách ứng

xử cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Kỹ năng này đòi hỏi Thẩm phán phải biết đặt vị trí của mình vào vị trí của người khác và những người tham gia tố tụng để tạo mối quan hệ bình đẳng và sự đồng cảm, giúp họ có điều kiện tích cực, chủ động khi giao tiếp với mình.

Ví dụ: Khi hỏi bị cáo là người dân tộc thiểu số hoặc người chưa thành niên Thẩm phán phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý của họ, phải có thái độ tôn trọng, ân cần giải thích đúng đắn, tỷ mỉ những quy định của pháp luật về hành vi sai trái mà họ đã mắc phải.

Bên cạnh đó, Thẩm phán cũng cần phải xóa bỏ các chướng ngại về tâm lý ảnh hưởng tới quá trình xây dựng mối quan hệ giữa mình và đối tượng giao tiếp. Để có kỹ năng định vị tốt thẩm phán phải có kỹ năng và kinh nghiệm sống tốt.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý là cho dù có đặt mình vào vị trí của người khác ở một hoàn cảnh, thời gian, không gian nào đó thì cũng không được quên vị trí pháp lý của người Thẩm phán đang giải quyết vụ án.

Thứ tư, kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp ngôn ngữ nói, viết hay phương tiện phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt, tư thế, tác phong: Khi được phân công giải quyết vụ việc dân sự, thẩm phán phải trực tiếp xây dựng hồ sơ giải quyết vụ việc dân sự vì vậy họ phải tiếp xúc, trao đổi với cá nhân, tổ chức, một số cơ quan có liên quan… nhằm thu thập các chứng cứ của vụ án để có căn cứ giải quyết vụ việc dân sự.

Cùng với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết của Thẩm phán thể hiện trong bản án cũng có ý nghĩa trong hoạt động xét xử. Khi viết bản án đòi hỏi Thẩm phán phải sử dụng ngôn ngữ chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, không dài dòng, suy diễn. Văn trong bản án phải là văn nghị luận, khi Thẩm phán đưa ra các luận cứ, luận chứng, luận điểm phải rõ ràng..

Thứ năm, kỹ năng điều khiển, điều chỉnh trong quá trình giao tiếp: Khi tiếp xúc với một số đương sự hoặc là tất cả các đương sự trong vụ án ở bất kỳ giai đoạn nào, người Thẩm phán cũng phải chủ động điều khiển quá trình giao tiếp đó; đồng thời

phải biết điều chỉnh trong quá trình giao tiếp. Thẩm phán phải thể hiện được vai trò điều hành các mối quan hệ khi giao tiếp giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Thẩm phán và phải biết cách điều chỉnh hành vi ứng xử không đúng của các đương sự cũng như tự điều chỉnh thái độ, hành vi ứng xử không phù hợp của mình khi giao tiếp.

Ví dụ: Khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án7 (Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định thủ tục hòa giải là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử). Trong quá trình hòa giải thẩm phán giữa vai trò điều khiển, điều chỉnh các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau (về bản chất là quá trình giao tiếp).

Việc hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự, không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực bắt buộc cán bên đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình, nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội8.

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 192 - 196)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(214 trang)
w