MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIAO TIẾP, ỨNG XỬ

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 188 - 192)

Giao tiếp là một trong những hiện tượng tâm lý phức tạp.

Xung quanh khái niệm giao tiếp có nhiều quan điểm khác nhau, bởi mỗi tác giả khi đưa ra khái niệm giao tiếp đã nhìn nhận, nghiên cứu nó ở những góc độ khác nhau3. Chuyên đề này đi sâu nghiên cứu khái niệm giao tiếp theo khuynh hướng xem xét khái niệm giao tiếp thông qua việc xác định những khía cạnh tâm lý khác nhau chứa đựng trong nội hàm khái niệm giao tiếp.

Cách nhìn nhận khái niệm giao tiếp theo phương pháp này cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Có tác giả chỉ nhấn mạnh một khía cạnh trong nội hàm khái niệm giao tiếp như L.O.Retnhicov cho rằng: “Giao tiếp là sự tri giác hiểu biết lẫn nhau” hay tác giả G.Thines lại cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin, trong đó trạng thái của hệ thống phát thông tin ảnh hưởng tới trạngthái của hệ nhận tin”; có tác giả mở rộng khái niệm giao tiếp thì cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động giữa những con người với nhau và

3Qua nghiên cứu các công trình ở trong và nước ngoài về giao tiếp cho thấy các nhà tâm lý đã và đang tiếp cận khái niệm này ở năm khuynh hướng sau: Thứ nhất, Xem xét thông qua việc xác định những khía cạnh tâm lí khác chau chứa đựng trong nội hàm khái niệm giao tiếp; thứ hai, Xác định giao tiếp qua lăng kính các chuyên ngành khác nhau của tâm lý học; thứ ba, Xem xét giao tiếp từ góc độ các ngành ứng dụng của tâm lý học; thứ tư, xác định vị trí của giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù của tâm lý học; thứ năm, hiểu bản chất giao tiếp qua sự phân biệt giữa khái niệm giao tiếp với các khái niệm liện quan khác nhau như mối quan hệ xã hội, mối quan hệ thông tin, sự ứng xử.

giữa những động vật có tâm lý với nhau”; có tác giả đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của giao tiếp như tác giả A.G.Spirkin cho rằng:“Giao tiếp là quá trình trao đổi những ý nghĩa, tình cảm kiến thức, ý chí với mục đích người này điều khiển người kia”. Ở Việt Nam các nhà tâm lý học cũng có một số quan niệm khác nhau về khái niệm giao tiếp như: Tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho rằng “giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau”; tác giả Trần Tuấn Lé cho rằng: “giao tiếp là một nhu cầu là một hoạt động của mỗi người nhằm tiếp xúc, đối tác và giao lưu với người khác, để trao đổi sức lực, thông tin, kinh nghiệm, trí tuệ, tình cảm và thể xác với người khác”.

Các định nghĩa trên cho thấy cách tiếp cận của các nhà tâm lý có sự khác nhau có tác giả chỉ mới dừng lại ở việc mô tả bề ngoài, chưa nêu rõ bản chất bên trong của quá trình giao tiếp, có tác giả đồng nhất giao tiếp của người và động vật, đánh mất bản chất xã hội của giao tiếp con người, không thấy được sự khác nhau về chất giữa giao tiếp của người với sự thông báo, truyền tín hiệu ở động vật, có tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu bản chất giao tiếp và đã chỉ ra được các khía cạnh khác nhau của giao tiếp.

Từ các định nghĩa trên có thể thấy giao tiếp có những dấu hiệu cơ bản sau: Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, nghĩa là chỉ riêng con người mới có giao tiếp thực sự khi sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, đồng thời được thực hiện chỉ trong xã hội loài người; giao tiếp được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết lẫn nhau, sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau; giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người.

Theo quan điểm của chúng tôi khái niệm: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự giao tiếp tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau”4, là đầy đủ nhất, chứa đựng nội hàm của khái niệm giao tiếp.

4Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh “Giao tiếp sư phạm”, Nxb Giáo dục 1998.

2. Khái niệm về ứng xử

Ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử, mà ứng và xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như: Ứng phó, ứng đối, ứng biến và xử sự, xử lý, xử thế…, liên quan đến khái niệm ứng xử cũng có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo tác giả Hoàng Phê thì ứng xử là sự thể hiện thái độ, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác5.

Tác giả Nguyễn Thị Thu Vân đưa ra khái niệm: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong ứng xử có sự lựa chọn, có cân nhắc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng - Tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi con người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp6.

3. Ứng xử trong giao tiếp

Ứng xử trong giao tiếp được hiểu là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của một tổ chức, nhóm người, cá nhân,

… đến mình trong một tình huống cụ thể, nhất định. Con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất.

Ứng xử trong giao tiếp là làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của con người. Do đó, xử lý trong giao tiếp là một quá trình điều khiển. Trước hết là điều khiển chính bản thân chủ thể giao tiếp. Khi giao tiếp, ứng xử với người khác chúng ta phải lựa chọn, điều chỉnh hành vi, cử chỉ, điệu bộ, lời nói của mình cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp, môi trường giao tiếp. Đối với đối tượng giao tiếp, chủ thể giao tiếp phải làm sao cho đối tượng hòa đồng nhận thức, cảm xúc của mình, hiểu được mình

5Từ điển tiếng việt, Hoàng Phê (2008): Trung tâm từ điển học, Nxb. Đà Nẵng.

6Nguyễn Thị Thu Vân 2005, Giáo trình kỹ năng giao tiếp hiệu quả hành chính, Học viện hành chính quốc gia - NAPA, Hà Nội, tr.18.

trên cơ sở đó thay đổi nhận thức, thái độ hành vi theo mục đích của mình.

Ứng xử trong giao tiếp được thể hiện trong một tình huống cụ thể, nhất định do đó nó có vai trò quan trọng, cần thiết để con người phản ứng sự tác động của một tình huống giao tiếp cụ thể, lựa chọn thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng thích hợp nhất nhằm đạt kết quả trong giao tiếp giữa người với người.

Căn cứ vào yêu cầu đạo đức, xã hội; giá trị xã hội nhân văn;

kiểu hình thần kinh của khí chất; thái độ điệu bộ… có các kiểu ứng xử khác nhau như: Kiểu ứng xử tốt, ứng xử xấu; ứng xử cởi mở, có trách nhiệm; ứng xử độc đoán, tự do, dân chủ; ứng xử linh hoạt, bình thản…

4. Khái niệm về kỹ năng giao tiếp, ứng xử

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ hành vi phối hợp hài hòa hợp lý của con người, nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với đối tượng giao tiếp đạt kết quả cao nhất, với sự tiêu hao năng lượng ít nhất. Kỹ năng giao tiếp, ứng xử gồm:

Kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp, kỹ năng lắng nghe.

5. Vai trò của giao tiếp, ứng xử

Việc giao tiếp đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Giao tiếp tốt giúp chúng ta có được những mối quan hệ hữu ích cũng như có thể tăng thêm sức thu hút của chính bản thân. Tuy nhiên, đôi khi việc giao tiếp không hiệu quả lại khiến chúng ta tạo nên những mâu thuẫn trong các mối quan hệ, cũng như học tập và làm việc kém hiệu quả hơn.

Đối với người Thẩm phán, giao tiếp, ứng xử chuẩn mực là yếu tố giúp cho Thẩm phán giải quyết các vụ án đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao.

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 188 - 192)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(214 trang)
w