Để bảo đảm xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cần quán triệt đầy đủ và bám sát các quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, cùng với việc thi hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về kiện toàn, ổn định tổ chức gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cụ thể như sau:
3.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án
Lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước đã cho thấy mọi thắng lợi, thành tích mà nhân dân ta đã đạt được trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng được khẳng định cả trong lý luận và thực tiễn. Bản chất, vai trò và phương thức hoạt động của Đảng được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 như sau:
“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”.
Đối với Tòa án, là một bộ phận trong bộ máy nhà nước được giao thực hiện quyền tư pháp, đương nhiên tổ chức và hoạt động của Tòa án phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo Tòa án là để giữ vững bản chất và bảo đảm vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Với ý nghĩa chính trị quan trọng này, nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với cơ quan Tòa án phải được giữ vững cả về quan điểm và trên hành động thực tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án được thực hiện thông qua các Nghị quyết, văn kiện của Đảng và công tác cán bộ.
3.2. Các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong thời kỳ đổi mới
a) Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII (ngày 23/01/1995) về nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Về tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân, trên cơ sở kiện toàn tổ chức và cán bộ, nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án nhân dân cấp quận, huyện theo hướng việc xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở tòa án cấp này. Tòa án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các tòa án địa phương thực hiện xét xử thống nhất theo pháp luật. Hạn chế việc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Nghiên cứu tiếp tục thành lập các tòa chuyên môn. Tổng kết thực tiễn công tác quản lý tòa án địa phương, xác định rõ trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong việc quản lý các tòa án địa phương về tổ chức và cán bộ. Đẩy mạnh việc xét và giải quyết kháng cáo và các khiếu nại, tố cáo về công tác xét xử, bảo đảm công bằng và nghiêm minh”.
b) Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (ngày 18/6/1997) tiếp tục khẳng định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Bỏ thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương. Nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng. Tòa án nhân dân tối cao tập trung vào công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các tòa án địa
phương áp dụng thống nhất pháp luật và làm tốt chức năng giám đốc xét xử. Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán tòa án cấp tỉnh và tòa án cấp huyện; đồng thời căn cứ vào tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay mà điều chỉnh tiêu chuẩn tuyển chọn cho phù hợp, để kịp thời bổ sung thẩm phán cho tòa án cấp huyện và tòa án cấp tỉnh”.
c) Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII (ngày 16/8/1999) về nội dung kiện toàn tổ chức, bộ máy của ngành Tòa án: “Đảng đoàn Quốc hội phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc sắp xếp hợp lý tổ chức của hai ngành kiểm sát và tòa án;…; tổ chức nghiên cứu, xây dựng đề án cụ thể về tổ chức, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan kiểm sát, tòa án theo các định hướng đã đề ra ở Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII và Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần này”.
d) Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX với chủ trương cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của Tòa án nhân dân: “…Sắp xếp lại hệ thống tòa án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền và tổ chức các tòa án theo cấp xét xử; nâng cao tiêu chuẩn, năng lực, trách nhiệm công tác đối với những người làm công tác xét xử. Tăng cường đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân cả về số lượng và chất lượng”.
đ) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó có nhiệm vụ “xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh và tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, có chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp”.
e) Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra yêu cầu: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và
trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp. Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý Tòa án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét xử”.
g) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã đề ra phương hướng và các nhiệm vụ cơ bản đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án đến năm 2020; cụ thể là:
- Tổ chức lại Hệ thống Tòa án theo, hướng: “Tổ chức Hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập Toà chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành;
- Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền, hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình. Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính. Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự;
- Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Đối mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý;
- Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ, Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định;
- Xây dựng đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Tòa án các cấp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xét xử;
- Xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại, khoa học cho Tòa án các cấp và cung cấp đầy đủ kinh phí hoạt động cho Tòa án phù hợp tính chất đặc thù của công tác xét xử.
h) Nghị quyết Trung ương 4 khóa X (ngày 09/02/2007) về nội dung đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy đối với Tòa án nhân dân: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp trong giai đoạn mới; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, hạn chế tối đa các trường hợp oan sai. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng công tác xét xử của tòa án các cấp, bảo đảm tính chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu công tác xét xử hiện nay. Tích cực chuẩn bị để thành lập tòa án khu vực. Kiện toàn tòa án hành chính để giải quyết các khiếu nại về hành chính của công dân”.
i) Nghị quyết Trung ương 9 khóa X (ngày 02/02/2009) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020.
k) Kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát
và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định tổ chức Toà án theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW gồm 4 cấp; cụ thể là:
-Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Toà án (như Toà án nhân dân cấp huyện hiện nay) và từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính. Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh.
-Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thuộc địa hạt của tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh có một Toà án nhân dân cấp tỉnh như hiện nay, nhưng không còn Ủy ban Thẩm phán.
-Toà án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại kháng nghị.
Trước mắt, thành lập 3 Toà án nhân dân cấp cao tại ba khu vực:
Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
-Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; được tổ chức tinh gọn với số lượng thẩm phán từ 13 - 17 người, là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm xét xử và có uy tín cao trong xã hội.
l) Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI với chủ trương đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, đề cao
tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Đổi mới hệ thống tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách hoạt động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính”.
m) Kết luận số 20-KL/TW ngàỵ 25-5-2012 tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đã xác định bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
3.3. Các quy định của pháp luật
a) Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28/11/2013 quy định về Tòa án nhân dân:
“1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. 2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
(Điều 102); Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.”(Điều 106).
b) Luật tổ chức Tòa án nhân dân (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02-4-2002) quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, cụ thể: “quy định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Tòa án các cấp; các nguyên tắc trong xét xử; chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và bầu, cử Hội thẩm; quy định về vấn đề bảo đảm hoạt động của Tòa án”.
c) Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 04-10-2002) quy định về Thẩm phán và Hội thẩm, cụ thể: “quy định về các loại Thẩm phán, Hội
thẩm; tiêu chuẩn, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán; nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ đối với Thẩm phán; tiêu chuẩn, thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm và nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ đối với Hội thẩm; nhiệm kỳ của Thẩm phán và Hội thẩm”.
d) Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, có hiệu lực thi hành từ 01-7-2011, sửa đổi: “Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương sang ngạch Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán Tòa án quân sự khu vực sang ngạch Thẩm phán sơ cấp”.
Dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân đang được Quốc hội khóa XIII xem xét thông qua. Khi được thông qua, Luật này thay thế Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 33/2002/QH10 ngày 02-4- 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân số 02/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04-10-2002, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân số 14/2011/PL-UBTVQH12 ngày 19-02-2011 và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự số 04/2002/PL-UBTVQH11 ngày 4- 11-2002.
3.4. Sự chỉ đạo và hoạt động của Quốc hội đối với công tác Tòa án nói chung, trong đó có công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án
Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động của Quốc hội có vai trò quyết định đối với sự trưởng thành, lớn mạnh của Tòa án; có ý nghĩa quyết định đối với những đổi mới, cải cách nhằm nâng cao năng lực xét xử và giải quyết các vụ việc của Tòa án.
Bằng việc ban hành các Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực của Quốc hội) đã thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho những đổi mới về tổ chức và hoạt động của Tòa án. Luật Tổ chức Tòa án năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán