Điều ước quốc tế

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 30 - 33)

GIỮA CÁC QUỐC GIA

III. NGUỒN CỦA LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

2. Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi các điều ước này điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Ngày nay, khái niộm đối tượng của giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế đã được mở rộng. Chúng không chỉ dừng lại trong lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ mà còn được mở rộng sang cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ và đầu tư. Vì vậy, bất cứ điều ước nào được kí kết nhằm điều chỉnh thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư có yếu tố nước ngoài đều được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế quốc tế.

b. Phân loại điều ước quốc tế

- Căn cứ vào sô' lượng chủ thể của điều ước quốc tế, có thể chia thành hai loại: Điều ước quốc tế song phương (tay

đôi) và điều ước quốc tế đa phương (nhiều bên).

Điều ước quốc tế song phương là loại điéu ước quốc tế do hai bên chủ thể trong quan hệ quốc tế kí kết với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lí giữa hai bên trong hoạt động thương mại quốc tế. Thông thường, nội dung của loại điều ước này đề cập từng lĩnh vực cụ thể như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, hoặc các vấn đề có liên quan như hàng hải, hải quan, thanh toán quốc tế...

Những quy định trong các điều ước quốc tế song phương chỉ điêu chỉnh các quan hệ pháp lí giữa hai bên kí kết.

GIÁO TRlNH LUẬT THUệNG MẠI QUỐC TỂ

Điểu ước quốc tế đa phương là loại điểu ước quốc tế do ba chủ thể trong quan hệ quốc tế trở lên kí kết hoặc tham gia. Giống như loại điểu ước quốc tế tay đôi, loại điều ước quốc tế đa phương cũng đề cập từng lĩnh vực nhất định trong thương mại quốc tế. Ví dụ: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT - The General Agreement on Tariff and Trade) được kí kết năm 1947, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được kí kết năm 1980, Công ước Vacsava kí kết năm 1929 về thống nhất một số nguyên tắc vể vận tải hàng không quốc tế, Công ước Bruxen được kí kết năm 1924 về thống nhất một sô' quy tắc pháp lí về vận đơn đường biển... Các quy định điều ước quốc tế đa phương có

giá trị bắt buộc đối với các thành viên của điểu ước.

- Căn cứ vào tính chất điều chỉnh của điều ước quốc tế mà chúng được chia thành hai loại: loại điều ước quy định

những nguyên tắc chung và loại điều ước quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế.

Loại điều ước quy định những nguyên tắc chung là loại điều ước chỉ đưa ra những nguyên tắc mà theo đó các bên phải tuân thủ trong quá trình xác lập và thực hiên các giao dịch thương mại quốc tế. Các điều ước quốc tế loại này thườiỊg là các hiệp định thương mại, các hiệp định thương mại và hàng hải... Các hiệp định này chỉ đưa ra những nguyên tắc chung như nguyên tắc đãi ngộ như công dân, nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc có đi có lại... Trên cơ sở của những nguyên tắc này các chủ thể trong hoạt động

thương mại quốc tế phải tuân theo.

Loại điều ước quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các

PHẦN TH Ứ NHẮT - CHƯƠNG I - MỘT s ố VẤN Đ Ế L Í LUẬN V Ẻ LU ẬT TMQT

bên là loại điều ước chứa đựng các quy phạm điều chỉnh một cách rõ ràng, cụ thể đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế. V í dụ:

Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Trong đó, các quy định về việc kí kết hợp đồng, nghĩa vụ của người bán, nghĩa vụ của người mua, vấn đề chuyển dịch rủi ro đối với hàng hoá... được ghi nhận một cách rất cụ thể.• • •

c. Áp dụng các quy phạm trong điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước này có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda). Đây là nguyên tắc được áp dụng trong Công pháp quốc tế nhằm điều chỉnh các hành vi của các quốc gia. Như vậy, khi các nước kí kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại thì các quy phạm ghi nhận trong các điều ước về thương mại này sẽ đương nhiên áp dụng để điểu chỉnh các hành vi của quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế.

Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điểu ước quốc tế được áp dụng trên các nguyên tắc sau đây:

- Điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có quốc tịch hoặc có nơi cư trú ờ các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế đó.

- Trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế về thương mại và luật trong nước của nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

quốc tế được ưu tiên áp dụng.

- Trong trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không mang quốc tịch hoặc không có

nơi cư trú ò các nước thành viên của một điều ước quốc tế về thương mại thì các quy định trong điều ước này vẫn điều chỉnh quyén và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên thoả thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế đó.

d. Các điều ước quốc t ế là nguồn cùa luật thương mại quốc t ế Việt Nam

Ở Việt Nam, bên cạnh nhiểu điều ước quốc tế song phương còn có một sô' điều ước quốc tế đa phương về thương mại được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế Việt Nam. Việt Nam đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương về thương mại với các nước. Ví dụ: Các hiệp định về thương mại, các hiệp định về thương mại và hàng hải, các hiệp định vể thanh toán quốc tế, các hiêp định về đầu tư, về sở hữu trí tuộ... Việt Nam còn là thành viên của một số điều ước quốc tế đa phương về thương mại như Công ước Vacsava năm 1929 vể thống nhất trong vận tải hàng không quốc tế, Cổng ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các phán quyết của trong tài nước ngoài...Những điều ước quốc tế song phương và đa phương này là cơ sở pháp lí để Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 30 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)