CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Khái niệm dịch vụ và thương mại dịch vụ
GATS không có định nghĩa về dịch vụ. Để xác định hành vi hoặc hoạt động nào là dịch vụ, các nước phải tuân
PHẦNTHỨNHẤT-CHIIƠNGIV. PHÁP U IẬ TĐ IẾU CHĨNH M Ở r sốŨ N H v ự c CỦA TMQT
theo quy định cuả Liên hợp quốc vể dịch vụ, đặc biệt là phải tuân theo quy định tại Bảng phân loại các dịch vụ cơ bản cuả Liên hợp quốc (Danh mục PCPC/CPC). Bất cứ hành vi hoặc hoạt động nào được liệt kẻ vào, được mô tả và được mã hoá trong Danh mục PCPC/CPC nói trên thì hành vi hoặc hoạt động đó được thừa nhận là dịch vụ trong giao dịch thương mại quốc tế.
b. Định nghĩa "thương mại dịch vụ"
GATS có định nghĩa khá rõ ràng về thương mại dịch vụ.
Thương mại dịch vụ được hiểu là sự cung cấp dịch vụ:
- Từ lãnh thổ cuả nước này (nước cung ứng dịch vụ) đến lãnh thổ cuả nước khác (nước sử dụng dịch vụ) theo phương thức "cung ứng dịch vụ qua biên giới" (hay "phương thức 1"
theo ngôn từ cuả WTO);
- Trên lãnh thổ cuả nước này (nước sử dụng dịch vụ) cho người sử dụng dịch vụ cuả bất kì nước nào khác theo phương thức "tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài" (phương thức 2);
- Bởi người - tổ chức - cung ứng dịch vụ cuà nước này (nước cung cấp dịch vụ) tại bất kì nước nào khác (nước sử dụng dịch vụ) theo phương thức "hiện diện thương mại"
(phương thức 3);
- Bời người - thể nhân - cung cấp dịch vụ cuả nước này (nước cung cấp dịch vụ) tại bất kì nước nào khác (nước sử dụng dịch vụ) theo phương thức "hiện diện cuả thể nhân"
(phương thức 4).
c. Những nguyên tắc cơ bàn - Đối xử tối huệ quốc (MFN)
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ
ƯU đãi nào đã được dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ cuả một nước thì phải được dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ cuả tất cả các nước khác. Nguyên tắc MFN có nghĩa là tất cả các đối tác thương mại được đối xử cống bằng, theo đúng nguyên tắc không phân biột đối xử. Trong khuôn khổ cuả GATS, nếu môt nước mở cửa môt lĩnh vưc? • • • cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải dành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ cuả tất cả các nước thành viên WTO. Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về m ở cửa thị trường dịch vụ cuả mình cho các công ti nước ngoài trong khuôn khổ WTO.
Nguyên tắc MFN được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ nhưng các nước được phép tạm thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một sô' ngành dịch vụ đặc biột. Trước khi GATS có hiộu lực, một số nước đã kí với các đối tác thương mại những hiệp định ưu đãi về dịch vụ, trong khuôn khổ song phương hoặc giữa một nhóm nước nhất định. Các thành viên cuả GATS/WTO cho rằng cần duy trì các ưu đãi này trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, các nước tự dành quyền tiếp tục đối xử ưu đãi hơn đối với một sô' nước nào đó trong một số lĩnh vực dịch vụ nhất định bằng cách liệt kê các "ngoại lệ đối với nghĩa vụ MFN" đổng thời với các cam kết ban đầu cuả mình. Để bào vê nguyên tắc tối huệ quốc, các nước đã quyết định ngoại lê chỉ được chắp nhận một lần duy nhất và không được bổ sung thêm. Hiện nay, các ngoại lộ đang được xem xét lại như đã quy định và vé nguyên tắc, thời hạn cuả chúng là 10 năm.
PHẨNTHỬNHẴr-CHUƠNCIV- PHÁP LUẬT Điêu CHÍNH MỘT s ố ŨNH vự c CỦA TMỢT
- Tuân thủ các cam kết m ở cửa thị trường (MA) và đãi ngộ quốc gia (NT)
Cam kết cuả các nước về m ở cửa thị trường nội địa và mức độ mở cửa trong các lĩnh vực cụ thể chính là kết quả cuả các cuộc đàm phán. Các cam kết này được liệt kê lại trong các "danh mục" các ngành sẽ được mở cửa, mức độ mở cửa đối với mỗi ngành (những hạn chế đối với sự tham gia cuả đổi tác nước ngoài được nêu rõ nếu cần) và các hạn chế có thể có đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (tức khi một số ưu đãi được dành cho các công ti trong nước nhưng không dành cho các công ti nước ngoài). Ví dụ: nếu cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa, chính phủ một nước nào đó đã đưa ra cam kết về mở cửa thị trường. Nếu chính phủ đó hạn chế số lượng giấy phép được cấp thì đó chính là hạn chế mở cửa thị trường. Cuối cùng, nếu chính phủ đó tuyên bô' các ngân hàng nước ngoài chỉ có thể lập chi nhánh duy nhất trong khi các ngân hàng trong nước lại có thể lập nhiều chi nhánh thì đó được coi là ngoại lệ cuả nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.
Những cam kết này phải quy định rõ ràng là "ràng buộc". Cũng giống như các mức thuế quan "trần" trong thương mại hàng hoá, các cam kết trong thương mại dịch vụ chỉ có thể được thay đổi sau khi đã thương lượng với các nước liên quan. Do rất khó bị phá vỡ, các cam kết này chính là sự bảo đảm đối với điếu kiện hoạt động cuả các nhà xuất khẩu nước ngoài, các nhà nhập khẩu dịch vụ trong nước cũng như các nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
- Chấp nhân loại trừ các dịch vụ công (Governmental services)
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ
Các dịch vụ công được loại ra khỏi luật thương mại quốc tế và không có quy định nào cuả GATS buộc các cơ quan công quyền phải tư nhân hoá các ngành công nghiệp dịch vụ.
Trên thực tế, thuật ngữ "tư nhân hoá" thậm chí cũng không tồn tại trong vãn bản cuả GATS/WTO. GATS cũng không cấm độc quyền cuả nhà nước và độc quyền cuả tư nhân ưong lĩnh vực này.
Trong quan hộ giữa các nước thành viên WTO, ngoại lộ này tạo thành một cam kết rõ ràng từ phía các chính phủ thành viên WTO cho phép dùng quỹ công tài trợ cho các dịch vụ trong những lĩnh vực cơ bản thuộc trách nhiệm cuả các chính phủ. Các dịch vụ công ở đây được định nghĩa là các dịch vụ được cung ứng không mang tính thương mại hay cạnh tranh với các nhà cung ứng dịch vụ khác. Các dịch vụ này không chịu sự điều chỉnh cuả GATS/WTO, chúng không được đưa ra đàm phán và các cam kết về mở cửa thị trường, đãi ngộ quốc gia (tức đối xử như nhau đối với các công ti trong và ngoài nước) không được áp dụng cho các loại dịch vụ này.
Theo cách tiếp cận cuả GATS đối với các cam kết, các nước thành viên không bị buộc phải đưa ra cam kết về tất cả các ngành dịch vụ. Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh nước ngoài trong một ngành nhất định, bởi họ cho rằng đó là chức năng cơ bản cuả chính phủ hoặc vì bất cứ lí do gì khác. Trong trường hợp này, các chính phủ chỉ tuân thủ những nghĩa vụ tối thiểu như bảo đảm sự minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ này và không được phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau.
PHẦN THỨ NHẤT - CHƯƠNG IV - PHÁP LUẬT DIỀU CHÌNH MỘT s ổ ƯNH v ự c CỦA TMQT
- Bảo đảm tính minh bạch, công khai
Luật thương mại quốc tế quy định pháp luật trong nước phải bảo đảm tính minh bạch. Chính phù các nước phải công bô' tất cả các luật, quy định phù hợp và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính cuả mình. Từ các điểm thông tin này, các công ti và chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các quy định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác. Các nước thành viên GATSẠVTO phải thông báo cho WTO tất cả những thay đổi về quy định điều chỉnh các ngành dịch vụ là đối tượng cuả các cam kết cụ thể. Các quy định cuả pháp luật trong nước phải khách quan và hợp lí. Do quy định trong nước chính là công cụ tác động và kiểm soát đối với thương mại dịch vụ nên các nước phải điều tiết các ngành dịch vụ một cách hợp lí, khách quan và công bằng. Khi đưa ra một quyết định hành chính tác động đến dịch vụ thì chính phủ cũng phải lập cơ chế công minh cho phép xem xét lại quyết định này (như thông qua toàán).
GATS không buộc các nước phải dỡ bỏ mọi quy định trong bất cứ ngành dịch vụ nào. Các cam kết tự do hoá không làm phương hại đến quyền cuả các nước được ấn định những chuẩn mực về chất lượng, độ an toàn hay giá cả cũng như quyền được đưa ra các quy định nhằm theo đuổi bất cứ mục tiêu chung nào mà họ cho là phù hợp. Chẳng hạn, cam kết về đối xử quốc gia chỉ có ngh|a là các quy định được áp dụng như nhau cho các nhà cung ứng trong nước và nước ngoài. Đương nhiên là các nước vẫn có quyền đưa ra các quy định về trình độ chuyên môn cuả các bác sĩ hay luật sư và ấn
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ
định các chuẩn mực nhằm bảo đảm sức khỏe và sự an toàn• • •
cho người tiêu dùng.
- Công nhận hộ thống chất lượng
Khi hai (hay nhiẻu) chính phủ kí các hiộp định công nhận hộ thống chất lượng cuả nhau (chẳng hạn, trong việc cấp giấy phép hoặc chứng nhận cho các nhà cung ứng dịch vụ) thì họ phải tạo điều kiện cho các thành viên khác được đàm phán với họ về các thoả thuận tương tự. Việc công nhận hệ thống chất lượng cuả các nước không được mang tính phân biệt đối xử cũng như mang tính bảo hộ trá hình.
- Được thanh toán và chuyển tién quốc tế theo lô trình tự do hoá từng bước
Một khi đã cam kết m ở cửa một ngành dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì về nguyên tắc chính phủ không được cấm việc chuyển tiền ra nước ngoài dưói đanh nghĩa chi trả cho các dịch vụ đã tiêu dùng (giao dịch vãng lai) trong ngành này. Chỉ có một trường hợp ngoại lộ duy nhất được quy định trong Hiệp định đó là trường hợp một nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán nhưng ngay cả trong trường hợp này thì các quy định cấm đó chi có thể được áp dụng tạm thời và phải tuân thủ nhũng hạn chế và điều kiộn khác.