Tập quán quốc tế

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 33 - 46)

GIỮA CÁC QUỐC GIA

III. NGUỒN CỦA LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

3. Tập quán quốc tế

Cùng với pháp luật của quốc gia và điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt

PHẦN TH Ử NHẤT ■ CHƯƠNG I - MỘT s ố VẤN D Ế ú LUẬN VỀ LU ẬT TMQT

động thương mại quốc tế với tư cách là nguồn luật. Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến. Như vậy, không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng có thể được coi là nguồn luật thương mại quốc tế. Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thoả mãn các điều kiện pháp lí nhất định.

b. Các c ơ sở pháp lí đ ể xác định tập quán thương mại quốc t ế là nguồn của luật thương mại quốc tế

- Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời và phải được áp dụng liên tục.

Tính lâu đời và liên tục trong việc áp đụng tập quán thương mại quốc tế là cơ sở pháp lí đầu tiên để xác định tập quán thương mại là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế.

Nếu môt tập quán thương mại quốc tế có lịch sử hình thành lâu đen*nhưng nó chỉ được áp dụng cách quãng trong từng khoảng thời gian nhất định thì tập quán này không thể được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế.

- Tập quán thương mại phải có nội dung cụ thể rõ ràng.

Do tính chất đặc thù của sự hình thành tập quán thương mại quốc tế là nó không được ghi nhận một cách cụ thể (nếu có thì nó thường được ghi nhận trong các án lệ) cho nên nếu một tập quán thương mại quốc tế không có nội dung rõ ràng thì tập quán đó không thể coi là nguồn của luật thương mại quốc tế. Bởi vì tính rõ ràng và cụ thể của tập quán thương mại quốc tế không những là cơ sở pháp lí để các bên chủ thể thực hiộn quyền và nghĩa vụ của mình (nếu họ thoả thuận

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỐC TẾ

dãn chiếu đến) mà nó còn là cơ sở pháp lí để cơ quan xét xử áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên.

- Tập quán thương mại phải là thói quen duy nhất trong giao dịch thương mại quốc tế.

Tính duy nhất của tập quán thương mại quốc tế là cơ sở để loại trừ những trường hợp có nhiều thói quen có tên gọi

giống nhau nhưng khác nhau vẻ nội dung được dùng cho một giao dịch thương mại quốc tế. Tiêu chí này là cơ sở để xác định một cách chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên khi họ thoả thuận dẫn chiếu đến một tập quán thương mại quốc tế.

- Tập quán thương mại phải được đại đa số các chủ thể trong thương mại quốc tế hiểu biết và chấp nhận.

Tập quán quốc tế nếu không được hầu hết các chủ thể trong kinh doanh quốc tế biết đến và chấp nhận thì sẽ không được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế. Điẻu này thể hiện tính phổ biến và tính pháp lí của tập quán thương mại khi nó là nguồn của luật thương mại tế quốc tế. Dựa vào tính chất này mà trên thực tế, cơ quan xét xử có thể tiến hành giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế một cách công bằng và hợp lí. Trong trường hợp tranh chấp phát sinh nhưng hợp đồng do các bên kí kết không có điểu khoản cụ thể vể viộc giải quyết tranh chấp đồng thời luật trong nước và điều ước quốc tế liên quan cũng không có quy phạm điều chỉnh thì cơ quan xét xử có thể áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết. Nói cách khác, vì tập quán thương mại quốc tế đã được đại đa sô' chủ thể trong thương m ại quốc tế chấp nhận nên cơ quan xét xừ đã vận dụng nguyên tắc suy đoán rằng các bên chủ thể đã hiểu biết hoặc buộc phải biết các tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng đối với quyẻn và

PHẤN TH Ứ NHẮT - CHƯƠNG I - MỘT s ố VẮN Đ Ể L Í LUẬN V Ẻ LU Ậ T TMQT

nghĩa vụ của họ.

c. Giá trị pháp lí cùa tập quán thương mại quốc t ế trong giao dịch thương mại quốc tế

Về giá trị pháp lí, tập quán thương mại quốc tế không giống với luật quốc gia và điều ước về thương mại quốc tế.

Tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lí trong thương mại quốc tế ở các trưòng hợp sau:

- Tập quán thương mại được các bên thoả thuận áp dụng ghi trong hợp đổng.

Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên chủ thể. Vì vậy, nếu các bên chù thể của hợp đồng thoả thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của họ thì tập quán thương mại quốc tế có giá trị ràng buộc các bên. Tuy nhiên, theo quy định của luật pháp hầu hết các nước thì việc thoả thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế phải tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định. Ví dụ:

theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các bên trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài được phép thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó không trái vói pháp luật Việt Nam (khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2005, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005).

- Tập quán thương mại được các điều ước quốc tế liên quan quy định áp dụng.

Trong trường hợp điều ước quốc tế về thương mại có quy định sẽ áp dụng một hoặc một sô' tập quán thương mại quốc tế thì các tập quán thương mại quốc tế này sẽ đương nhiên được áp dụng cho các quan hệ của các bên chủ thể mang

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠ] QUỐC TỂ

quốc tịch hoặc có trụ sở ờ các nước thành viên của điều ước quốc tế đó. Điều này có nghĩa là kể cả trong trường hợp khi giao kết hợp đồng các bên chủ thể này đã không thoả thuận dẫn chiếu đến một tập quán thương mại quốc tế thì tập quán quốc tế vẫn được áp dụng nếu nó được quy định trong điều ước quốc tế về thương mại có liên quan.

- Tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng.

Trong trường hợp luật trong nước điều chỉnh quan hộ thương mại giữa các bên quy định áp dụng tập quán thương mại quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng.

- Cơ quan xét xử cho rằng các bên chủ thể đã mặc nhiên áp dụng tập quán thương mại quốc tế trong giao dịch thương mại của họ.

Đây là trường hợp áp dụng tập quán quốc tế trong việc xét xử các tranh chấp phát sinh từ giao dịch thương mại quốc tế. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận cụ thể về việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế đồng thời các điẻu ước quốc tế và luật trong nước có liên quan cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này thì cơ quan xét xử có thể . áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp.

Việc cơ quan xét xử sẽ áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp khi có đủ cơ sở pháp lí để khẳng định rằng ưong khi giao kết hợp đồng, các bên chủ thể đã ngầm hiổu là họ phải hành động theo tập quán thương mại quốc tế mà bất cứ nhà kinh doanh thượng m ại quốc tế nào cũng hành động như vây trong hoàn cảnh tương tự. V í dụ:

Điểu 9 Công ước Viên (1980) cùa Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế quy định: Các bên mặc

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - MỘT s ố VẨN Đ Ể ư LUẬN VẾ LU ẬT TMQT

nhiên bị ràng buộc bời tập quán quốc tế (mặc dù các bên không công khai thoả thuận áp dụng) nếu tập quán đó họ đã biết hoặc cần phải biết khi kí kết hợp đổng.

d. Một s ố vấn đề pháp lí về INCOTERMS

INCOTERMS được viết tắt từ các chữ tiếng Anh International Commercial Terms, tạm dịch là các điều kiện thương mại quốc tế. INCOTERMS là văn bản tập hợp các quy tắc giải thích một cách thống nhất các tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế (International Chamber o f Commerce - ICC) soạn thảo và ban hành.

Vào những năm 20 của thế kỉ XX, Phòng thương mại quốc tế đã tiến hành khảo sát về cách hiểu và áp dụng các tập quán thương mại quốc tế của các thương gia ở các nước khác nhau trong việc mua bán hàng hoá quốc tế. Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy việc giải thích và áp dụng tập quán thương mại quốc tế ở các nước khác nhau có khác nhau. Do đó, trong quá trìiih thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có áp dụng tập quán thương mại quốc tế thường xảy ra tranh chấp. Bởi vì trong quá trình kí kết hợp đổng, khi thoả thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên đã có cách hiểu không thống nhất về tập quán thương mại quốc tế cho nên trong quá trình thực hiện hợp đổng họ đã hành động khác nhau. Như vậy, có thể nói đây là một trong những nguyên nhân chù yếu dẫn đến tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế không những làm cho các bên hao phí tién bạc, thời gian mà còn làm giảm uy tín của họ đối với nhau và đối với các bạn hàng khác trong thị trường quốc tế. Đổ khắc phục tình hình trên, với mục đích giúp các thương gia hiểu và áp dụng thống nhất các tập quán

GIÁO TRèNH LUẬT THUệNG MẠI QUỐC TẾ

thương mại quốc tế trong mua bán hàng hoá quốc tế, Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã soạn thảo INCOTERMS và phát hành lẩn đầu tiên vào năm 1936. Sau đó, INCOTERMS được sửa đổi và bổ sung nhiều lần vào các năm: 1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và 2000. INCOTERMS năm 2000 có hiêu lực từ ngày 01/01/2000. Hiện nay nó được hầu hết các chủ thể trong hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế áp dụng.

Mục đích của INCOTERMS là cung cấp một bộ quy tắc để giải thích những điều kiện thương mại thông dụng nhất ừong mua bán hàng hoá quốc tế. Viộc làm này đã giúp cho các thương gia có cách hiểu thống nhất vể tập quán mua bán hàng hoá quốc tế nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tranh chấp có thể xảy ra.

Là tập hợp các tập quán trong mua bán hàng hoá quốc tế nên INCOTERMS chỉ có giá trị pháp lí đối với các bên của hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế trong m ột số trường hợp nhất định sau đây:

Thứ nhất, INCOTERMS chỉ có giá trị pháp lí bắt buộc các bên thực hiộn khi họ thoả thuận dẫn chiếu đến trong hợp đổng.

Như đã trình bày trên, INCOTERMS là tổng hợp các nguyên tắc giải thích thống nhất những tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế (một tổ chức phi chính phủ) soạn thảo và ban hành, do đó nó không có giá trị pháp lí bắt buộc các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế. INCOTERMS chỉ có giá trị pháp lí điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể nếu khi giao kết hợp đồng họ thoả thuận áp dụng. Nguyên tắc này thể hiện rất rõ trong quy định của INCOTERMS. V í dụ: Nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận tại Điểm 12 của INCOTERMS

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - M ỘT s ố VẤN Đ Ể L Í LUẬN V Ế LU Ậ T TMQT

1980 quy định tại Điểm 22 của INCOTERMS 1990 hoặc tại Điểm 2 của INCOTERMS năm 2000 quy định như sau:

"Các thương nhân muốn sử dụng INCOTERMS 2000 phải nêu rõ ràng và cụ thể rằng hợp đồng của họ được điều chinh bởi INCOTERM S 2000".

Thứ hai, những điều khoản riêng do các bên chủ thể giải thích trong hợp đồng có giá trị pháp lí cao hơn mọi điều giải thích của INCOTERMS.

Trên thực tế, các điều khoản của INCOTERMS có thể không phù hợp với một sô' thói quen giao dịch đối với một sô' ngành nghề hoặc một số tập quán khu vực nào đó. Do vậy, trong một số trường hợp, trong quá trình giao kết hợp đổng các bên có thể thoả thuận dẫn chiếu đến tập quán của một ngành riêng biệt, tập quán của một địa phương hoặc những thực tiễn mà bản thân các bên đã tạo nên trong quá trình giao dịch thương mại trước đó cùa họ. Trong các trường hợp này các điéu thoả thuân riêng biệt của các chù thể sẽ có giá trị pháp lí cao hơn cả các điều giải thích trong của INCOTERMS.

Nguyên tắc này được quy định rõ trong các INCOTERMS.

Vi dụ: nó được quy định tại Điểm 5, 6 của INCOTERMS 1980 và được quy định tại Điểm 6 của INCOTERMS 1990.

Như đã trình bày ở trên, INCOTERMS 2000 là hệ thống các điều kiện thương mại quốc tế hiện nay đang được hầu hết các thương gia trong hoạt động thương mại quốc tế thống nhất áp dụng. Do đó, để hiểu biết thêm về INCOTERMS 2000, chúng ta hãy xem xét cấu tạo toàn bộ INCOTERMS 2000 và cấu tạo của từng điều kiện của nó.

Thứ nhất, cấu tạo toàn bộ INCOTERMS 2000.

INCOTERMS 2000 bao gồm 13 điều kiện. Căn cứ vào

GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

mức độ trách nhiệm của người bán và người mua mà 13 điều kiện này được chia thành 4 nhóm: E, F, c , D. Theo thứ tự các nhóm này, trách nhiệm của người bán đối với người mua được tăng lên.

- Nhóm E (Có 1 điều kiện).

• EXW (Ex Works) Giao tại xưởng.

Theo điều kiện của nhóm này, người bán có nghĩa vụ đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người mua ngay tại xưởng của người bán.

- Nhóm F (gồm có 3 điều kiên).

• FCA (Free Carrier) Giao cho người chuyên chở;

• FAS (Free Alongside Ship) Giao dọc mạn tàu;

ôFOB (Free On Board) Giao trờn tàu.

Theo quy định của nhóm F thì người bán phải giao hàng cho người chuyên chở do người mua chỉ định.

- Nhóm c (gồm 4 điều kiộn)

• CFR (Cost and Freight) Tiền hàng và cước phí;

• CIF (Cost, Insurance and Freight) Tiển hàng, phí bảo hiểm và cước phí;

. CPT (Carnage Paid To) Cước phí trả tới;

. CIP (Carriage and Insurance Paid to) Cước phí và bảo hiểm trả tới.

Theo quy định của nhóm c thì người bán phải kí kết một hợp đổng vận tải nhưng không phải chịu rủi ro về mất mát, hư hại hàng hoá và những chi phí khác do những tình huống khác xảy ra sau khi hàng hoá đã được giao cho người chuyên chở.

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - M ỘT s ố VẨN Đ Ế L Í LUẬN v é LU ẬT TMQT

- Nhóm D (gồm 5 điều kiện).

. DAF (Deliverd At Frontier) Giao tại biên giới;

. DES (Delivered Ex Ship) Giao tại tàu;

. DEQ (Delivered Ex Quay) Giao tại cầu cảng;

. DDƯ (Delivered Duty Unpaid) Giao hàng thuế chưa trả;

. DDP (Delivered Duty Paid) Giao hàng thuế đã trả.

Theo quy định của nhóm D thì người bán phải chịu mọi chi phí và rủi ro đối với việc đưa hàng tới nơi đến.

Như vậy, theo thứ tự của các nhóm trên, nghĩa vụ của bên bán đối với bên mua được tăng lên từ các điều kiện của nhóm E đến nhóm D.

Thứ hai, cấu tạo của từng điều kiộn của INCOTERMS 2000.

Trong mỗi điều kiện của INCOTERMS 2000 gồm có 10 tiêu đề, mỗi tiêu đề quy định từng nghĩa vụ của bên bán và bên mua. Nghĩa vụ của bên bán được đạt tên là A và được quy định từ AI đến A 10. Nghĩa vụ của bên mua được đặt tên là B và được quy định từ BI đến B10. Trên nguyên tấc nghĩa vụ của các bên bán sẽ tương đương với quyền của bên mua và ngược lại nghĩa vụ của bên mua sẽ tương đương với quyền của bên bán.

Nội dung 10 tiêu đề trong mỗi điều kiện là:

a. Bên bán cung cấp hàng hoá đúng vói hợp đồng mà các bên đã thoả thuận đồng thời bẽn mua phải có trách nhiêm trả tiền.

b. Các vấn đề pháp lí liên quan tới việc xin giấy phép xuất nhập khẩu và làm các thủ tục liên quan tới xuất nhập khẩu.

c. Quy định nghĩa vụ về việc kí kết hợp đồng vận tải và bảo hiểm hàng hoá.

GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

d. Nghĩa vụ giao nhận hàng hoá.

e. Xác định nghĩa vụ về rủi ro đối với hàng hoá.

f. Xác định nghĩa vụ đối vói các chi phí cho việc giao hàng.

g. Nghĩa vụ thông báo những thông tin quan trọng cho việc giao nhận hàng.

h. Nghĩa vụ cung cấp bằng chứng của việc giao nhận hàng và các căn cứ thích hợp cùa việc giao hàng như vận đơn, thông báo điện tử.

i. Nghĩa vụ liên quan tới việc kiểm tra hàng hoá, bao bì, kí mã hiộu của hàng hoá.

j. Xác định các nghĩa vụ khác của các bên trong việc giao hàng.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 33 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)