Các quy định về chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 105 - 123)

CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

6. Các quy định về chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ

Điểu VI Hiệp định GATT 1994 quy định về chống bán phá giá (AD) như sau: "Các bên k í kết nhận thấy rằng bán phá giá, với việc sàn phẩm cuả một nước này được đưa vào kinh doanh trên thị trường cìiả một nước khác với gió thấp hơn giá trị bình thường cuả sàn phẩm này, phải bị lên án nếu việc đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất đáng k ể cho một ngành kinh t ế tại lãnh th ổ cuá một bên kí

PHẨN THỨNHẤT ■ CHƯƠNG IV ■ PHÁP LUẬT Đ IẾU CHÍNH MỘTSỐƯNH v ự c CỦA TMQT

kết h aV thực sự làm chậm trễ sự thiết lập một ngành kinh tế trong nước". WTO có Hiệp định về thực thi Điều VI cuả GATT nói trên, thường được gọi là "Hiệp định chống bán

phá giá" (Hiệp định AD).

Định nghĩa pháp lí về bán phá giá được nêu rất cụ thể trong Hiệp định AD, theo đó một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu cuả sản phẩm đó thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương mại bình thường (giá trị bình thường) cuả sản phẩm tương tự được tiêu thụ tại th ị trường nước xuất khẩu. WTO không đề cập trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự trong thị trường nội địa cuả một nước.■

Hiệp định AD có quy định chi tiết đối với việc so sánh về giá để đi đến quyết định cuối cùng vể việc bán phá giá;

quy định cách thức xác định "giá trị bình thường" (là giá bán tại t.hị trường trong nước hay nếu giá này không cho phép so sánh đúng thì là giá tại nước thứ ba hay giá "tính tóáh" từ các thông số vể chi phí)- Hiệp định AD yêu cầu phải có những nỗ lực để so sánh các sản phẩm "tương tự", mặc dù các sản phẩm đó không nhất thiết phải là giống hệt. Điểm then chốt trong việc xác định có bán phá giá hay không là yêu cầu phảii có sự "so sánh công bằng" giữa giá trị bình thường cuả sản phẩm tại thị trường trong nước và giá xuất khẩu sản phẩim này. v ề cơ bản, việc tính toán đó có điểu chỉnh đối với cả giá trị bình thường và giá xuất khẩu trên cơ sở giá xuất xưởmg thông qua những điểu chỉnh cần thiết liên quan tới nhữmg khác biệt về chi phí bán hàng, vận chuyển, đặc điểm vật Hí và các yếu tố khác "có ảnh hưởng tới khả nàng so sánh cuả giá". Các nước có thể áp dụng nhiều phương pháp tính

GIẮO TRèNH LUẬT TH Iĩ N G MẠI QUỐC TẾ

toán khác nhau để biết liệu một sản phẩm bị phá giá nhiéu hay ít. Hiệp định AD chỉ cho phép ba phương pháp tính toán

"giá trị bình thường" cuả một sản phẩm, phương pháp chính dựa trên mức giá được áp dụng trên thị trường cuả nước xuất khẩu. Nếu phương pháp này không áp dụng được thì có thể sử dụng hai cách sau: hoặc dựa trên mức giá m à nhà xuất khẩu áp dụng tại một nước khác; hoặc tính mức giá theo chi phí sản xuất, các chi phí khác và mức lợi nhuận thông thường cuả nhà xuất khẩu. Hiệp định AD cũng quy định rõ làm thế nào để so sánh một cách công bằng mức giá cuả nhà xuất khẩu với mức giá trị có thể được coi là bình thường. Sự khác biột về phương pháp tính toán "giá trị bình thường" cuả một sản phẩm không nhất thiết tạo ra cơ sở để kết luận có bán phá giá hay không. Vấn đề cốt lõi là nếu so sánh hai loại giá trên và nhận thấy có sự khác biệt giữa giá trị bình thường và giá xuất khẩu (hiộu cuả chúng lớn hơn 0) thì có thể xác định là có bán phá giá.

Hiệp định AD cho phép chính phủ các nước có biện pháp chống bán phá giá khi ngành sản xuất trong nước thực sự bị thiột hại vật chất do việc bán phá giá gây ra. Muốn vậy, chính phù nước có liên quan phải chứng minh được là có hành vi bán phá giá, tính được biên độ phá giá (mức độ thấp hơn, chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá lưu hành trên thị trường nội địa cuả nước xuất khẩu) và chứng minh được rằng việc bán phá giá đang gây ra hoăc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất đáng kể. Hiệp định AD, pháp luật AD cuả Viột Nam và nhiều nước khác đều thừa nhận việc chống bán phá giá bất kể hành vi nào có hợp lí hay bất hợp lí từ góc độ kinh tế và bất kể có đem lại lợi ích cho người tiêu dùng hay không.

PHẦN THỨ NHẤT - CHƯƠNG IV - PHÁP LUẬT ĐIỂU CH In hm ộ t s ố ŨNH v ự c CỦA TMQT

Hiệp định AD quy định chi tiết các thủ tục liên quan tới việc khởi kiộn chống bán phá giá, cách thức tiến hành điều tra và những điều kiện phải tuân thủ nhằm bảo đảm cho tất cả các bên liên quan quyền được đưa ra bằng chứng có lợi cho mình. Nhiểu nội dung Hiộp định AD dành cho các quy định vể tính công bằng về thủ tục cho nhà sản xuất nước ngoài bị điều ưa về AD. Chẳng hạn, Hiệp định AD quy định

"cân nhắc đặc biệt" đối với các nước đang phát triển thành viên WTO trong các vấn đề vé AD (Điều 15); yêu cầu vụ kiện phải được tiến hành "đại diện" cho ngành kịnh tế trong nước; viộc điều tra phải được tiến hành một cách minh bạch hợp lí, cho phép các nhà sản xuất nước ngoài có cơ hội được tham gia công bằng và được trình bày. Tuy vậy, trên thực tế, pháp luật và thực tiễn nhiều nước không đưa ra sự khác biệt nào giữa các nước phát triển và đang phát triển trong thủ tục điều ư a về AD, trong tính biên độ phá giá...

Biện pháp chống bán phá giá thường được quy định là đánh thuế quan bổ sung lên sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đẩy giá cuả sản phẩm đó ngang bằng với "giá trị bình thường" hoặc nhằm chấm dứt thiệt hại m à ngành sản xuất cuả nước nhập khẩu phải chịu. Một biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng nếu việc phá giá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất đáng kể cho ngành sản xuất cuả nước nhập khẩu. Do đó, trước khi áp dụng biện pháp chống phá giá, nước nhập khẩu phải tiến hành điều tra kĩ càng, phù hợp với những quy trình tố tụng cụ thể. Cuộc điều tra phải cho phép đánh giá được tất cả các yếu tố kinh tế cần thiết có ảnh hưởng tới tình hình cuả ngành kinh tế bị thiệt hại. Nếu điều ưa cho thấy có hiện tượng bán phá giá và ngành kinh tế

GIÁO TRỈNH LUẬT THUŨNG MẠI QUỐC.TẺ'

trong nước bị thiệt hại vật chất đáng kể thì doanh nghiệp xuất khẩu có thổ cam kết nâng giá bán cuả mình lên inứe thoà thuận đạt được để tránh phải chịu thuế chống phá giá khi đưa hàng vào nước nhập khẩu.

Các cuộc điều tra chống phá giá phải chấm dứt ngay lập tức, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định được rằng biên độ phá giá là quá nhỏ tức dưới 2% giá xuất khẩu. Các điều kiện khác cũng được nêu ra trong Hiệp định AD chẳng hạn cơ quan có thẩm quyền cũng phải chấm dứt điều tra nếu hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá với sô' lượng không đáng kể, tức lượng hàng xuất khẩu bán phá giá cuả một nước thấp hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu cuả sản phẩm đó. Tuy nhiên, các euộc điều tra AD có thể được tiếp tục nếu tổng lượng hàng xuấtìchẩu bán phá giá cuả những nước thuộc diện này chiếm ít nhất 7% tổng giá trị nhập khẩu.

Các biện pháp chống phá giá phải chẫm dứt sau năm năm kể từ ngày đưa vào áp dụng các biện pháp đó, trừ phi có cuộc điều tra AD khác chứng minh rằng việc bãi bò biện pháp AD này có thể gây ra thiệt hại cho ngành kinh tế trong nưdc.

b. Trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Luật thương mại quốc tế có quy định khá cụ thể về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp trong thương mại quốc tế. WTO có Hiệp định về trợ cấp và các biộn pháp đối kháng (Hiệp định SCM). Hiệp định SCM có chức năng kép: thiết lập kỉ cương đối với trợ cấp cuả các quốc gia và quy định các biện pháp mà các nước có thể áp dụng nhằm bù đắp các hâu quả cuả trợ cấp.

Hiệp định SCM đưa ra định nghĩa pháp lí về trợ cấp.

PHẨNTHỨNHẤT-CHƯƠNG / V -PHÁP LUẬT Đ iêu CHÍNH MỘT s ố LỈNH v ự c CÙATMQT

Theo Điều 1 Hiộp định SGM, "trợ cấp" được hiểu là khoản tài chính được chính phù hay các cơ quan công quyền cấp cho tổ chức thương .mại hoặc doanh nghiệp thông qua: a) Chuyển kinh phí trực tiếp; b) Miễn giảm khoản thu cuả nhà nước; c) Cung cấp miễn phí dịch vụ hay hàng hoá thay vì cơ sở hạ tầng chung hoặc chi khoản kinh phí để tài trợ cho các hoạt động liên quan đến thực hiộn các mục a, b, c nói trên, với điều kiện là trong mỗi trường hợp đó lợi ích thuộc về tổ chức thương mại hoặc doanh nghiệp nhận khoản tài chính đó.

Hiệp định SCM có quy định ba loại trợ cấp:

- Các trợ cấp bị cấm (hay còn gọi là trợ cấp đèn đỏ), đó là các khoản trợ cấp có kèm điều kiện buộc người hưởng trợ cấp phải đạt được m ột số yêu cầu về xuất khẩu hoặc ưu tiên sử dụng hàng sản xuất trong nước hcm là hàng nhập khẩu.

Loại trợ cấp này bị cấm vì chúng rõ ràng được sử dụng để bóp méo cạnh tranh trong thương mại quốc tế, đo đó có nguy cơ gây hại cho thương mại cuả các nưóc khác. Nếu các nhà sản xuất trong nước bị thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ cấp thì nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng (Phần II).

- Các trợ cấp có thể bị đối kháng (hay còn gọi là trợ cấp đèn vàng), tức là trợ cấp không bị cấm nhưng là đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp đối kháng. Đây là loại trợ cấp có tính đặc thù, dành cho một nhóm doanh nghiệp hoặc nhiều ngành công nghiệp nhất định nằm trong một vùng địa lí nhất định thuộc quyền quản lí cuả cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Phần III).

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỐC TẾ

- Các trợ cấp không thể bị đối kháng (hay còn gọi là trợ cấp đèn xanh), tức là những trợ cấp không mang tính đảc thù hoặc những trợ cấp đặc thù nhưng đáp ứng m ột số điều kiện nhất định như:•

- Trợ cấp nghiên cứu, phát triển, tức là trợ cấp hỗ ừợ cho hoạt động nghiên cứu cuả các công ti hay cơ quan giáo dục hoặc các hoạt động nghiên cứu được tiến hành dựa trên hợp đổng kinh tế kí kết giữa công ti và cơ quan nghiên cứu;

- Trợ cấp phát triển khu vực, tức là trợ cấp cho các khu vực nằm trong khu vực kém thuận lợi ữong phạm vi lãnh thổ cuả nước thành viên dựa trên chương trình chung vé phát triển khu vực và trợ cấp này không được mang tính đậc thù (theo quy định cuả Điều 2) đối với khu vực được hưởng trợ cấp. Các khoản trợ cấp khu vực được nhiều nước đang phát triển sử dụng để khuyến khích việc công nghiệp hoá lại các khu vực có tỉ lộ thất nghiệp cao hay có cơ sở hạ tầng hạn chế. Ngoại lệ này cuả WTO đối với các khoản trợ cấp đó khi chúng sẩn có trong các ngành ở cắc vùng kém phát triển đã bảo vệ các nước này khỏi các vụ kiộn theo Hiệp định SCM chống lại hàng hoá xuất khẩu từ các vùng này.

- Trợ cấp bảo vệ môi trường, tức là trợ cấp nhằm thúc đẩy, nâng cấp các thiết bị hiộn có phù hợp với các quy định mới vẻ môi trường, được phép sử dụng khi việc nâng cấp các thiột bị này gây ra sức ép nặng nề hay những gánh nặng tài chính đối với các doanh nghiộp (Phần IV).

Hiệp định SCM thừa nhận hai phương thức thưèng tổn tại song song được phép áp dụng để xử lí các trường hợp trợ cấp bất hợp pháp.

PHẦN THỨNHẨr - CHUƠNG rv - PHÁP LUẬT ĐIẾU CHÍNH MỘT s ố LĨNH v ự c CÙA TMQT

Thứ nhất, đó là các bên tư nhân tại nước thành viên có thể khởi kiện theo pháp luật trong nước để áp đặt một khoản thuê nhằm làm cân bằng lại hay đối kháng lại các khoản trợ cấp bất hợp pháp, nếu các yêu cầu về pháp lí và thủ tục tố tụng được thoả mãn. Những yêu cáu và thủ tục tố tụng này tương tự nhu các yêu cầu và thù tục tô' tụng trong các vụ kiện chống bán phá giá. Luật thương mại quốc tế có một sô' biện pháp chế tài giống với chế tài đối với hành vi bán phá giá.

Nếu nước nhập khẩu đã tiến hành một cuộc điều tra chi tiết tương tự như điều tra đối với các biện pháp chống phá giá thì nước đó có thể áp dụng thuế đối kháng. Tuy vậy, Điều 27 Hiệp định SCM thừa nhận đối với các sản phẩm cuả các nước đang phát triển thì mọi cuộc điều tra thuế đối kháng đều phải chấm dứt nếu tổng số trợ cấp cho một sản phẩm không vượt quá 2% giá trị cuả nó tính theo trị giá trên cơ sở

mỗi đơn vị sản phẩm hoặc khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp cuả một nước chiếm dưới 4% tổng hàng tương tự nhập khẩu vào nước điều tra, trừ khi tổng thị phần hàng nhập khẩu có trợ cấp dưới mức 4% đó cuả mỗi nước đang phát triển nhập vào một nước lớn hơn 9% tổng thị phần sản phẩm tương tự nhập khẩu vào nước điểu tra.

Thứ hai, chính phủ nước thành viên có thể có biện pháp thông qua cơ quan giải quyết tranh chấp cuả WTO nếu nước nguyên đơn chứng minh được rằng các loại trợ cấp này vi phạm Hiệp định SCM và gây thiệt hại đối với lợi ích cuả mình.

Hiệp định SCM nêu ra ba loại thiệt hại có thể có: a) Thiệt hại cho m ột ngành kinh tế trong nước cuả nước nhập khẩu hàng; b) "Làm mất đi hay gây thiệt hại tới" các quyén cuả nước nhập khẩu hàng theo Hiệp định SCM hoặc c) "Gây

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

thiệt hại nghiêm trọng" cho ngành kinh tế trong lãnh thổ cuả nước nhập khẩu hàng. Nếu nước nguyên đcm thắng thì nước đã đưa ra trợ cấp sẽ phải tuân theo quyết định cuả cơ quan giải quyết tranh chấp cuả WTO để loại bỏ trợ cấp hay chấp nhận trừng phạt thương mại.

Ngoài ra, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau vé vấn đề tác động cuả các biộn pháp chống trợ cấp đối với quá trình cổ phần hoá hoặc tư nhân hoá đối với doanh nghiệp nhà nước đã nhận được các khoản trợ cấp đem lại các lợi ích cho doanh nghiệp đó trong một giai đoạn dài. Hiệp định SCM không xử lí trực tiếp vấn đề này nhưng nhiều nước thành viên WTO đã lập luận là "vì các lợi ích" đã dành cho một doanh nghiệp nhà nước đã được tư nhân hoá và sau khi đã được bán thì không một khoản thuế đối kháng nào có thể được áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước đó. Hoa Kỳ và một số nước từ lâu đã có quan điểm là nếu một doanh nghiệp nhà nước cụ thể đã nhận được các khoản trợ cấp đem lại các lợi ích trong một giai đoạn dài thì khoản trợ cấp đó vẫn coi là tiếp tục có ngay cả sau khi doanh nghiộp đó đã được tư nhân hoá thông qua việc bán cho người mua cổ phẩn trên thị trường tự do.

c. Các biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp

Hiệp định GATT tại Điều XIX có "điều khoản giải thoát khỏi nghĩa vụ" cho phép các thành viên WTO được "chạy thoát" khỏi các nghĩa vụ về giảm thuế cuả mình trong các tình huớng nhất định,, theo đó nếu do hậu quả cuả những tiến triển không lường trước được và do ảnh hường cuả các cam kết đối với một bên kí kết theo Hiệp định này, kể cả các

PHẦNTHỨNHẤT - CHCƠNGIV- PHÁP U IẬ T DIẾU CHÍNH MỘT s ố LĨNH vực CỦA TMQT nhượng bộ về thuế, bất kì sản phẩm nào được nhập kiiẩu vào lãnh thổ cuả bên kí kết đó với số lượng tàng và trong các điéu kiện gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sàn xuất trong nước hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp ưong nước tại lãnh thổ đó thì bên kí kết này được quyền dừng việc thực hiộn toàn bộ hay một phần nghĩa vụ hoặc rút lại hoặc sửa đổi sự nhượng bộ liên quan tới sản phẩm đó mức độ và trong khoảng thời gian có thể là cần thiết để ngăn chăn hay khắc phục thiệt hại này. WTO có Hiệp định về thực thi Điều XIX nói trên cuả GATT, thường được gọi là "Hiệp định về các biện pháp tự vệ" (Hiệp định tự vệ).

Hiệp định tự vệ đưa ra khuôn khổ về các thủ tục trong nước mà theo đó có thể đem lại quyết định hạn chế nhập khẩu hàng hoá đã hoặc đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất các hành hoá tương tự trong nước. Các thù tục này cơ bản tương tự các thủ tục trong theo Hiệp định AD và SCM. Nhìn chung, các biện pháp tự vệ được áp dụng đối với hàng nhập khẩu bất kể là từ nước nào. Nước xuất khẩu thông thường được phép phản ứng lại các hạn chế thương mại cuả nước nhập khẩu. Một trong sô' các yêu cầu vể thủ tục cuả Hiệp định tự vê là yêu cầu nước thành viên khi xem xét sử dụng biện pháp tự vệ phải "đưa ra cơ hội thích hợp đ ể tham vấn trước với các nước thành viên có quyền lợi đáng k ể với tư cách là các nhà xuất khẩu sản phẩm liên quan".

Luật thương mại quốc tế quy định, để có thể lí giải cho việc áp dụng bỉện pháp tự vê, phải chứng minh hàng nhập khẩu gia tăng mạnh thực sự (tăng tuyột đối) hoặc đơn thuần là tăng thị phần trên một thị trường đang giảm sút, ngay cả khi khối lượng nhập khẩu không tăng (tăng tương đối). Các

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 105 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)