Khái niệm về đầu tư nước ngoài

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 144 - 147)

CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1. Khái niệm về đầu tư nước ngoài

Có thể nói chưa có định nghĩa thống nhất về dầu tư nước ngoài (ĐTNN). Nhưng ĐTNN có thể hiểu là giản đơn là hình thức lưu chuyển tư bản từ nước này sang nước khác nhằm mục đích kinh tế, kinh tế - xã hội nhất định.

Tư bản lưu chuyển gọi là vốn đầu tư. Vốn đầu tư có thể là: ngoại tệ mạnh và nội tệ; tư liệu sản xuất, hàng hoá, các tài sản hữu hình; các tài sản vô hình như sức lao động, công nghệ, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại và các tài sản đặc biệt khác như cổ phiếu, trái phiếu, vàng bạc, đá quý,

V.V.. Vốn ĐTNN có thể thuộc sở hữu cuả nhà nước, tổ chức quốc tế (Ví dụ: IM F, WB, ADB...) hoặc cuả tư nhân.

- Có hai loại hình ĐTNN phổ biến là: Đầu tư công cộng nước ngoài và đầu tư tư nhân nước ngoài.

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ

+ Đầu tư công cộng nước ngoài: Là đầu tư nước ngoài dưới dạng cho vay, tín dụng, trợ cấp hay viện trợ không hoàn lại cuả các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế liên chính phủ cấp cho một nước (thường là nước đang phát triển) nhằm chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiộn mức sống ở nước đó, với những điều kiện tài chính dễ dàng, không á p dụng trong quan hệ thương mại thông thường.

+ Đầu tư tư nhân nước ngoài: Là đầu tư nước ngoài cuả cá nhân hay tổ chức trên lãnh thổ quốc gia khác nhằm mục đích kinh tế, kinh tế-xã hội nhất định. Hình thức đầu tư này làm phát sinh nhiểu mối quan hộ pháp lí (giữa tư nhân xuất vốn với quốc gia nhập vốn hay với tư nhân nhập vốn thuộc quốc gia đó; giữa quốc gia có người xuất vốn với quốc gia nhập vốn). Các quan hệ pháp lí này vừa có nội dung pháp lí quốc tế, vừa có nội dung pháp lí quốc nội về dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Đầu tư tư nhân nước ngoài có thổ tổn tại dưới các hình thức chính sau: Đầu tư trực tiếp (chủ đầu nước ngoài đầu tư

số vốn cần thiết vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và được• • • ' phép trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn

đầu tư); đầu tư gián tiếp (chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp số vốn tối đa nào đó dưới hình thức mua cổ phiếu và không tham gia trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư);

và tín dụng quốc tế (đầu tư dưới hình thức cho vay kiếm lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay).

b. Nguyên nhân hình thành các dòng đầu tư nước ngoài Có bốn nguyên nhân chính:

PHẦNTHỨNHẤr-CHƯƠNG IV- PHÁP LUẬT DIẾU CHỈNH MỘT s ố ŨNH vực CỦA TMQT

- Trình độ phát triển không đều về lực lượng sản xuất làm cho chi phí sản xuất giữa các nước không giống nhau.

Ngoài ra, điều kiộn sản xuất (sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kĩ thuật, vị trí địa lí...) giữa các nước cũng khác nhau;

- Các nước công nghiệp phát triển do tỉ suất lợi nhuận trong nước thấp nên có xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;

- Nhiểu nước đang phát triển rất cần vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hoá, chuyển đổi kết cấu nền kinh tế;

- Xu hướng bảo hộ thương mại ngày càng tăng, nên đầu tư ra nước ngoài là biện pháp hữu hiộu để thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, tránh hàng rào bảo hộ thương mại, giảm chi phí vận chuyển hàng xuất khẩu.

c. Vai trò cuả đầu tư nước ngoài

Đối với các nước xuất vốn đầu tư, ĐTNN góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; xây dựng thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định, giá hạ và bành trướng sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế.

Đối với các nước nhận vốn đầu tư, ĐTNN giúp giải quyết những khó khăn về kinh tế và xã hội trong nước như nạn thất nghiộp, lạm phát; tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế; tạo môi trường cạnh tranh để thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại trong nước, giúp các nhà doanh nghiệp địa phương học hỏi kinh nghiệm quản lí tiên tiến, ứng dụng kĩ thuật mới và giảm một phần nợ nước ngoài.

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 144 - 147)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)