Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 185 - 200)

II. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THUƠNG MẠI GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG KHUÔN KHỔ CỦA WTO

2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO

Ngoài các nguyên tắc chung nói trên, khi giải quyết tranh chấp, DSB dựa trên những nguyên tắc cụ thể sau:

T hứ nhất - nguyên tắc bình đẳng giữa các nước thành viên tranh chấp

Theo nguyên tắc này các nước thành viẽn tranh chấp dù là nước lớn hay nhỏ, phát triển hay chậm phát triển đều bình đẳng như nhau trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh.

Nguyên tắc này chi phối tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp: bình đẳng khi tham vấn, bình đẳng khi đưa tranh chấp ra Ban hội thẩm, trong quá trình kháng cáo,

khi thi hành khuyến nghị, phán quyết của DSB.

Nguyên tắc bình đảng cũng chi phối hoạt động của các hội thẩm viên, các thành viên Cơ quan phúc thẩm. Trong quá trình giải quyết tranh chấp các hội thẩm viên, các thành viên của Cơ quan phúc thẩm hoàn toàn bình đẳng với nhau trong việc đưa ra ý kiến, quan điểm vể các vấn đề cần giải quyết.

PHÁN THỨ NHẤT ■ CHƯƠNG VI - GIẢI QUYẾTTRANH CHẮP TMQTGIỮA CÁC QUỐC GIA

Thứ hai - nguyên tắc bí mật

Các cuộc họp của Ban hội thẩm, của Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công khai, các bên tranh chấp chỉ được mời tham dự khi cần thiết. Như vậy nội dung các cuộc họp của Ban hội thẩm, cơ quan phúc thẩm là bí mật đối với các nước thành viên thứ ba. Nguyên tắc bí m ật phần nào cũng thể hiộn trong giai đoạn tham vấn, đó là nội dung tham vấn giữa các nước thành viên tranh chấp không được thông báo cho các nước thành viên WTO biết.

Thứ ba - nguyên tắc "đồng thuận phủ quyết" (hay "đồng thuận nghịch")

Theo Điều 2.4, Điều 6.1, Điều 16.4 và Điều 17.14, viộc ra quyết định thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đều dựa trên nguyên tắc đổng thuận phủ quyết (hay đồng thuận nghịch), nghĩa là trong mọi trường hợp, Ban hội thẩm sẽ được thành lập để giải quyết tranh chấp và các báo cáo của Ban hội thẩm, của Cơ quan phúc thẩm sẽ được thông qua, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Ban hội thẩm hay không thông qua các báo cáo này. Điểu này dẫn tới viộc hầu như Ban hội thẩm được thành lập một cách tự động khi có yêu cầu bằng văn bản của nguyên đcm và các báo cáo cũng được thông qua một cách tự động.

Đây là điểm độc đáo và tiến .bộ trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO so với GATT năm 1947 trước đây.

Trong cơ chế của GATT năm 1947, nguyên tắc đồng thuận biểu hiện ở việc Ban hội thẩm chỉ được thành lập và m ột báo cáo chỉ được thông qua khi có sự nhất trí của tất cả các thành

GIÁO TRỈNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

viên trong Hội đổng GATT. Vì vậy, khi một bên tranh chấp không có thiện chí có thể gây ra tình trạng trì trệ trong viộc thành lập Ban hội thẩm. Nhiều báo cáo của ban hội thẩm đã không được thông qua hoặc chậm trễ trong việc thông qua do một hay một sô' bên không chấp nhận những đề xuất trong báo cáo.

Thủ tư - nguyên tắc đối xử ưu đãi đối với các nước thành viên đang phát triển và chậm phát triển nhất

Việc đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển chỉ thể hiện chỗ Ban thư kí dành hỗ trợ vẻ mặt pháp lí cho các nước này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế cùa các nước này sẽ được chú ý tới trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp.

3. Quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế cùa WTO

Thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO thường trải qua các giai đoạn: tham vấn, hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, thi hành phán quyết. Tuy nhiên, không phải bất kì tranh chấp nào cũng đẻu phải trải qua tất cả các giai đoạn này. Tùy thuộc vào nội dung của tranh chấp, tính chất phức tạp của tranh chấp, thiện chí của các bên mà tranh chấp có thể được giải quyết tại giai đoạn tham vấn hoặc tại giai đoạn hội thẩm.

a. Giai đoạn tham vấn

Giai đoạn đầu tiên của việc giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO là tham ván. Tham vấn là viêc các nước tranh

PHẨN THỨNHẤT ■ CHƯƠNG VI - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TMQTGIỮA c á cq u ố cg ia

chấp tiến hành đàm phán với nhau để đưa ra thoả thuận thống nhất về việc giải quyết tranh chấp.

Tham vấn là thù tục bắt buộc các bên phải tiến hành, chỉ khi các bên đã tham vấn hay đàm phán với nhau mà không đạt được kết quả thi mới tiến hành các thủ tục tiếp theo của quy trình giải quyết tranh chấp. Quy định này nhằm tránh sự đối đầu giữa các thành viên của WTO khi giải quyết các tranh chấp phát sinh.

Bước đầu tiền trong giai đoạn tham vấn là khi một nước thành viên của WTO (gọi là nước khiếu nại) thấy nước thành viên khác (gọi là nước bị khiếu nại) tiến hành một hay một số hành vi thương mại trái với các quy định của Hiệp định hay thòa thuận cùa WTO, gây thiệt hại cho mình thì nước khiếu nại yêu cầu nước bị khiếu nại tiến hành tham vấn với mình. Việc yêu cầu tham vấn phải được nước khiếu nại thông báo bằng vãn bản cho DSB và các ủy ban có liên quan cùa WTO. Trong yêu cầu tham vấn phải thể hiện rõ biộn pháp để tiến hành tham vấn, cơ sở pháp lí để nước khiếu nại có quyền yêu cầu tham vấn (không đáp ứng yêu cầu này, thành viên yêu cầu tham vấn sẽ m ất quyển được lập Ban hội thẩm để giải quyết tranh chấp nếu tham vấn không thành công). Điều này đã được quy định trong Điều 4.4 cùa Thỏa thuận DSƯ: "Bất cứ yêu cầu tham vấn nào cũng s ẽ phải đệ trình lên bằng văn bản và đưa ra li do yêu cầu, k ể cả việc xác định mức độ của vấn đ ề và chỉ ra cơ s â pháp lí cho việc khiêu kiên".

Nội dung tham vấn giữa các bên được giữ bí mật và việc tham vấn không làm ảnh hưởng đến quyén lợi của các nước

GIÁO TRÌNH LUẬT THIX3NG MẠI QUỐC TẾ

trong các giai đoạn sau của quá ưình giải quyết tranh chấp.

Theo quy định, nước bị khiếu nại phải trả lời nước khiếu nại về yêu cầu tham vấn trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn và các bên tranh chấp sẽ tiến hành tham vấn một cách thiện chí trong thời hạn 30 ngày sau ngày nhận được yêu cẩu với quan điểm cố gắng đạt được giải pháp thoả đáng cho các bên, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.•

Nếu nước bị khiếu nại không trả lồi trong thời hạn 10 ngày sau ngày nhận được yêu cầu hoặc không tiến hành tham vấn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn hoặc một thời hạn khác do các bên thoả thuận sau ngày nhận được yêu cầu thì khi đó nước khiếu nại có thể trực tiếp yêu cầu DSB thành lập Ban hội thẩm.

Nếu việc tham vấn không giải quyết được tranh chấp của các bên trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn hoặc trong thời hạn 60 ngày kể trên nếu các bên tham vấn cũng cho rằng việc tham vấn không thể giải quyết được tranh chấp thì bên khiếu nại có thể yêu cầu DSB lập Ban hôi thẩm.•

Trong trường hợp khẩn cấp, cũng như trong trường hợp có liên quan đến hàng dễ hư hỏng, các thành viên phải tiến hành tham vấn trong khoảng thời gian không quá 10 ngày sau khi nhận được yêu cầu tham vấn. Nếu viộc tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày sau ngày nhận được yêu cầu, bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm.

Nếu trong giai đoạn tham vấn, các nước tranh chấp

PHẨN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG VI - GIẢI QUYỂTTRANH CHẤP TMQTGIỮA CÁC QUỐC GIA

thống nhất được giải pháp cho vụ tranh chấp thì tranh chấp đã được giải quyết. Nếu các nước tranh chấp không thoả thuận được giải pháp thoả đáng cho vụ tranh chấp thì việc giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành ở bước tiếp theo tại Ban hôi thẩm.

b. Giai đoạn hội thẩm

Thủ tục tố tụng tại Ban hội thẩm là giai đoạn thứ hai của tiến trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO. Khi có yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của nước khiếu nại, DSB sẽ nhóm họp để xem xét yêu cầu này. Ban hội thẩm sẽ được thành lập vào phiên họp tiếp theo của DSB, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở nhất trí không thành lập Ban hội thẩm.

Nhiệm vụ của Ban hội thẩm là đánh giá khách quan vấn đề tranh chấp, bao gồm cả các tình tiết thực tế, khả năng áp dụng các hiệp định, thoả thuận có liên quan cùa WTO và tìm hiểu điều tra thêm để hỗ trợ DSB đưa ra các khuyên nghị hoặc phán quyết.

Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành vãn bản. Văn bản yêu cầu này phải chỉ rõ thủ tục tham vấn đã được tiến hành nhưng tranh chấp chưa được giải quyết, xác định rõ các biện pháp cụ thể đang được bàn cãi và cung cấp tóm tắt ngắn gọn về cơ sở pháp lí của đơn kiện và trình bày vấn đề một cách rõ ràng. Trong trường hợp bên nộp đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm vói các điéu kiện khác với các điều khoản tham chiếu chuẩn thì văn bản yêu cầu này sẽ kèm theo văn bản đề xuất về các điều khoản tham chiếu đặc biệt.

Khi thành lập Ban hội thẩm, DSB có thể ủy quyền cho

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUÓC TẾ

Chủ tịch DSB soạn thảo các điều khoản tham chiếu của Ban hội thẩm có sự tham vấn với các bên tranh chấp. Các điều khoản tham chiếu được soạn thảo như vậy sẽ được gửi tới các thành viên. Nếu các bên thoả thuận điều khoản tham chiếu khác với điều khoản tham chiếu chuẩn thì bất kì thành viên nào cũng có thể nêu ván để liên quan đến các điẻu khoản đó với DSB.

Ban thư kí WTO sẽ đề nghị tên của ba người tham gia Ban hội thẩm cho các bên tranh chấp lựa chọn, kèm theo danh sách các ứng cử viên có trình độ.

Nếu trong vòng 20 ngày sau ngày thành lập Ban hội thẩm mà không có sự nhất trí về thành phần của Ban hội thẩm theo yêu cầu của bất cứ bên nào, Tổng giám đốc WTO, sau khi tham văn với Chủ tịch DSB và Chủ tịch hội đồng hoặc các ủy ban có liên quan, sẽ quyết định thành lập Ban hội thẩm bằng việc bổ nhiệm các hội thẩm từ những người mà Tổng giám đốc cho là thích hợp nhất với bất kì quy tắc hoặc thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung có liên quan được áp dụng cho tranh chấp đó, sau khi tham vấn với bên tranh chấp. Chủ tịch cùa DSB sẽ thông báo cho các thành viên về thành phần của Ban hội thẩm đã được thành lập không quá 10 ngày kể từ ngày Chủ tịch DSB nhận được yẻu cầu như trên.

- Thủ tục làm việc của Ban hội thẩm • • •

Các cuộc họp Ban hội thẩm được tiến hành theo nguyên tắc họp kín. Các bên tranh chấp và những bên có quan tâm chỉ có mặt tại các buổi họp khi được Ban hội thẩm mời.

Việc nghị án của Ban hội thẩm và những tài liêu được đê

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG VI - GIẢI QUYỂTTRANH CHẤP TMQTQỮA CÁC QUỐC GIA

trình lên sẽ được giữ bí mật. Các bên tranh chấp có quyền nêu quan điểm, ý kiến cùa mình. Các thành viên sẽ coi thông tin do thành viên khác cung cấp là thông tin bí mật nếu thành viên đó cho rằng đó là thông tin bí mật. Các bên sẽ phải đệ trình lên Ban hội thẩm một bản chi tiết của hồ sơ vụ kiện. Những thông tin chi tiết này sẽ được giữ bí mật. Bên cạnh đó, các bên tranh chấp cũng sẽ phải cung cấp một bản tóm tắt về những thông tin chứa trong bản đệ trình đó và được công bô' công khai cho tất cả các thành viên của WTO nhằm mục đích công khai hóa trong quá trình tô' tụng.

- Trước buổi họp chính thức đầu tiên, Ban hội thẩm yêu cầu các bên tranh chấp phải chuyển tới Ban văn bản đệ trình trong đó trình bày các tình tiết của vụ kiện và những lập luận cùa họ.■

- Trong cuộc họp đầu tiên, các bên nguyên đơn và bị đơn sẽ trực tiếp trình bày quan điểm của mình.

- Tất cả các bên thứ ba có liên quan sẽ được mời dự để trình bày quan điểm của mình về lợi ích thương mại có liên quan trong một phiên của cuộc họp chính thức đầu tiên của

Ban hội thẩm được tổ chức riêng cho mục đích này.

- Các bên tranh chấp chỉ có quyền lập luận, bác bò ý kiến của bên kia tại cuộc họp thứ hai của Ban hội thẩm.

- Trong bất cứ thời điểm nào, Ban hội thẩm cũng có thể đưa ra câu hỏi đối với các bẻn và yêu cầu họ giải thích hoặc ngay trong cuộc họp hoặc bằng văn bản.

- Để đảm bảo tính minh bạch, các bài trình bày, bác bỏ và tuyên bố sẽ được đọc tại phiên họp với sự có mặt của các bên liên quan.

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ

- Giai đoạn xét xử tại Ban hội thẩm bao gồm các bước sau:

Bước 1: Trước phiên họp đầu tiên

Các bên tranh chấp gửi hồ sơ trình bày các tình tiết của vụ kiện và lập luận của mình cho Ban hội thẩm. Ban hội thẩm kiểm tra các hiộp định có liên quan do các bên tranh chấp tríeh dẫn, váh đẻ được dẫn chiếu tới DSB trong văn bản (khoản 1 Điẻu 7 Thỏa thuận DSU).

Bước 2: Xem xét cùa Ban hội thẩm

Ban hội thẩm tổ chức các cuộc họp với các bên tranh chấp và bên thứ ba có lợi ích thương mại liên quan để xác định vấn đẻ tranh chấp và tìm kết luận cho vụ việc. Cuộc họp• X • t • • • &

chính thức đầu tiên dành cho bên nguyên đơn và bị đơn. Tại đó, hai bên sẽ được trình bày quan điểm của mình và chỉ nêu ý kiến chứ không được đối chất. Bên thứ ba có lợi ích thương mại đáng kể liên quan sẽ được mời dự và trình bày ý kiến của mình trong một phiên họp dành riêng của cuộc họp thứ nhất này. Ban hội thẩm sẽ lắng nghe ý kiến của tất cả các bên.

Trong cuộc họp chính thức thứ hai, hai bên bị đơn và nguyên đơn sẽ đối chất trực tiếp với nhau. Trước khi cuộc họp này diễn ra, các bên sẽ chuẩn bị lí lẽ giải trình để bảo vê mình và đệ trình sự bác bỏ bằng văn bản lên Ban hội thẩm.

Bước 3: Tham khảo ý kiến các chuyên gia

Trong giai đoạn Ban hội thẩm xem xét, nếu xét thấy vụ việc có liên quan đến nhiều VỐI đề khoa học, kĩ thuật đặc thù thì Ban hội thẩm có thể tham khảo ý kiến tham vấn của các chuyên gia thẩm định. Ngoài quyền tìm kiếm thông tin từ bất kì nguồn nào có liên quan thì đây là một quyển được

PHẦN THỨ NHẤT - CHƯƠNG VI - GIẢI QUYÉTTRANHCHẤPTMQĨGIỮA c ắ c QUốCGIA

Điều 13 Thỏa thuận DSU quy định rất rõ. Phụ lục 4 Thỏa thuận DSU còn bổ sung thêm quy tắc thành lập và các thủ tục làm việc của nhóm chuyên gia này. Sau đó, Ban hội thẩm sẽ chuyển các phần mô tả (thực tế và lập luận) của bản dự thảo báo cáo cùa mình cho các bên tranh chấp. Các bên sẽ có hai tuần để đệ trinh các nhận xét của mình bằng văn bản về phần mô tả báo cáo.

Bước 4: Lập báo cáo sơ bộ

Sau khi hết hạn tiếp nhận ý kiến của các bên tranh chấp về mô tả báo cáo, Ban hội thẩm sẽ đưa ra một bản báo cáo sơ bộ cho các bên bao gồm các phần mô tả, báo cáo điều tra và các kết luận của Ban hội thẩm (khoản 2 Điều 15 Thỏa thuận DSU). Nếu sau một tuần các bên không có yêu cầu gì về việc rà soát lại các phần của báo cáo thì báo cáo giữa kì này được coi là bản báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm. Nếu có yẽu cầu xem xét lại các kết luận, phán quyết thì Ban hội thẩm có thể triệu tập thêm một cuộc họp với các bẻn về những vấn đề được chỉ rõ trong các văn bản nhận xét. Thời gian dành cho việc này không quá hai tuần.

Bước 5: Lập báo cáo cuối cùng

Sau giai đoạn xem xét lại báo cáo sơ bộ, Ban hội thẩm sẽ hoàn tất và đưa ra báo cáo cuối cùng. Báo cáo cuối cùng này được gửi cho các bên tranh chấp và tất cả các nước thành viên. Thời gian để Ban hội thẩm hoàn thành báo cáo cuối cùng là từ 6 đến 9 tháng kể từ ngày thành lập Ban hội thẩm.

Đối với các trường hợp khẩn cấp, thời gian này rút xuống còn 3-6 tháng (khoản 8, 9 Điều 12 Thỏa thuận DSƯ). Đôi với các thành viên đang phát triển thì khoảng thời gian có

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 185 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)