CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
II. WTO VÀ VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1. Mục tiêu bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường được quy định rõ là một trong các mục tiêu cùa WTO. Hiộp định Marrakesh thành lập WTO năm 1995 đã nhấn mạnh vai trò bảo vệ môi trường trong hệ thống thương mại đa phương này. Phần mở đầu cùa Hiệp định này quy định như sau: "Các bên kí kết Hiệp định này, thừa nhận rằng tất cả những mối quan hệ cùa họ trong lĩnh vực kinh tế
và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ công ăn việc làm và một khối lượng thu
PHẤN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU Ậ T TMQT VÀ VAN D Ế BẢO V Ệ MÔI TRƯỜNG
nhập và nhu cầu thực t ế lớn vá phát triển Ổn định; mờ rộng sàn xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn bảo đàm việc sử dụng tối ưu nguồn lực của th ế giới tuân theo mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp đ ể thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi
bên ớ các cấp độ phát triển kinh t ế khác nhau".
2. Thành lập ủ y ban về thương mại và môi trường trong WTO
WTO đã xây dựng cơ chế để xem xét vấn đề bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với tự do hoá thương mại. Tháng 4/1994, khi kết thúc vòng đàm phán thương mại Uruguay, các nước thành viên của GATT đã ra "Nghị quyết Marrakesh về thương mại và môi trường" và "Nghị quyết về thương mại dịch vụ và môi trường", trong đó kêu gọi các nước thành viên bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững đổng thời duy trì và bảo vệ hệ thống thương mại đa phương mò, không phân biệt đối xử và công bằng. Bên cạnh đó, Nghị quyết này đã yêu cầu Đại hội đồng WTO thành lập Uỷ ban về thương mại và môi trường (Committee on Trade and Environment - gọi tắt là GTE) trong cuộc họp đầu tiên nhằm đánh giá mối quan hệ giữa các biện pháp thương mại và môi trường, cũng như sự liên quan của nó đối với việc thúc đẩy sự phát triển bền vững, nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị xem các quy định của hệ thống thương mại đa phương này có cần thiết phải được sửa đổi để đáp ứng các mục tiêu môi trường, bên cạnh đó vẫn duy trì được tính chất mở, công bằng và không phân biêt đối xử của hệ thống thương mại này
GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỐC TẾ
hay không. Trên cơ sở quyết định này, CTE đã được thành lập vào 31/01/1995. CTE có ưách nhiệm nghiên cứu và đề ra các kiến nghị đối với các vấn đề sau:
(1) Mối quan hộ giữa các quy định về thương mại của hệ thống thương mại đa phương và các biộn pháp thương mại nhằm đạt được các mục tiẻu về môi trường, bao gổm cả những biên pháp được quy định trong các Hiệp định đa phương về môi trường.
(2) Mối quan hệ giữa các chính sách về môi trường có liên quan đến các biện pháp thương mại và môi trường đồng thời có những ảnh hưởng quan trọng đến thương mại và các điều khoản quy định của hộ thống thương mại đa phương.
(3) Mối quan hệ giữa các điều khoản của hệ thống thương mại đa phương về các vấn đề như: thuế và lê phí nhằm mục đích bảo vộ môi trường; những yêu cầu đối với các loại sản phẩm hàng hoá bao gồm cả tiêu chuẩn sản phẩm, các quy định về kĩ thuật cùa sản phẩm, các yêu cầu về bao gói, nhãn hiệu và khả năng tái chế sau khi sử dụng cùa sản phẩm nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường.
(4) Tính minh bạch của các biộn pháp thương mại được sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu và yêu cầu về môi trường có tác động quan trọng đến thương mại.
(5) Mối quan hệ giữa các cơ chế giải quyết ưanh chấp trong hệ thống thương mại đa phương với các hiêp định thương mại đa phương vể môi trường.
(6) Tác động của các biện pháp về môi trường đến việc tiếp cân thị trường, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, các nước chậm phát triển và những lợi ích về mặt mối
PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU Ậ T TM QT VÀ VẤN Đ Ể BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
trường trong quá trình loại bỏ các hạn chế và những biện pháp có tác động bóp méo thương mại.
(7) Vấn đề xuất khẩu các sản phẩm bị cấm trong nước.
(8) Các điều khoản liên quan trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property
Rights, dưới đây gọi tắt là gọi tắt là Hiệp định TRIPs).
(9) Chương trình hành động đề ra trong Quyết định về thương mại dịch vụ và môi trường.
(10) Các thoả thuận phù hợp nhằm điều chỉnh mối quan hệ với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ.
Trong quá trình hoạt động CET đã đưa ra một số báo cáo về chính sách môi trường của WTO.(1> Trong đó, CTE tuyên bô' rằng các nước thành viên của WTO cam kết không sử dụng các biộn pháp bảo hộ thương mại nhằm bù đắp lại những ảnh hưởng bất lợi mà chính sách môi trường đang được áp dụng có thể đem lại cho ngành công nghiệp trong nước. CTE cho rằng các biện pháp này đi ngược lại bản chất của WTO là hệ thống mở, công bằng, không phân biệt đối xử và phản tác dụng đối với các mục tiêu môi trường. Bên cạnh đó, CTE cũng khuyến cáo rằng các nước thành viên WTO cần phải sử dụng các biên pháp đa phương dựa trên sự đổng thuận quốc tế để xử lí vấn đẻ môi trường mang tính toàn cầu thay vì các hành động đơn phương của một bộ phận
(1). Tại H ội nghị bộ tnrởng các nước thành viên W TO tổ chức tại Singapore tháng 11 năm 19% , CTE đ ó đ ư a ra báo cáo về chính sách m ôi truờng của W T O . Xem W TO C om m ittee o n T rade and Environm ent, Report o f the C om m ittee o n T rade and E nvừonm ent, W TO D oc. W T/C TE/1, Nov. 12,1996.
GIÁO TRlNH l u ậ t THUệNG MẠI QUỐC T Ế
các nước thành viên.
3. Các quy định của W TO liên quan đến bảo vệ môi trường Ngoài Điều XX đoạn b và g của GẠTT 1994 nêu ở phần trên, WTO đã chi tiết hoá các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường trong đó có sức khoẻ và cuộc sống của con người, động thực vật ưong các hiộp định như Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ (Hiệp định SPS); Hiềp định về các hàng rào kĩ thuật đối với thương mại (Hiệp định TBT), Hiộp định nông nghiộp, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyén sở hữu trí tuệ (TRIPs), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).
a. Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ - SPS Hiệp định này cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống của con người, động vật hoặc thực vật khỏi các hiểm họa phát sinh từ việc nhập khẩu.
Măt khác, để đảm bảo cho mục tiêu tự do hoá thương mại, cụ thể là để bảo đảm rằng các biộn pháp vệ sinh dịch tễ mà các nước thành viên sử dụng hoàn toàn chi nhằm bảo vệ môi trường chứ không phải là biện pháp phân biệt đối xử, bảo hộ mậu dịch trá hình, Hiộp định cấm các nước thành viên sử dụng biện pháp vê sinh dịch tễ như rào cản bất chính đối với thương mại. Viộc duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu tự do hoá thương mại với mục tiêu bảo vệ môi trường mà cụ thể là sức khoẻ, cuộc sống của con người, động thực vật được thể hiộn qua quy định các nước thành viên phải sử dụng những biện pháp vệ sinh dịch tễ dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn, các hướng dẫn hoặc khuyến nghị quốc tế (Điều 3.1).
PHẨN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU Ậ TTM Q T VÀ VẤN Đ Ể BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Tuy nhiên, trong trường hợp các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế không đạt được các yêu cầu của quốc gia, Hiệp định cũng cho phép các nước thành viên áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia cao hơn các tiêu chuẩn quốc tế nhằm bảo vộ cuộc sống sức khoẻ cùa con người, động thực vật nhưng với các điều kiện sau (Điều 3.3):
Thứ nhất, tiêu chuẩn này phải được chứng minh bằng các chứng cứ khoa học hoặc trên cơ sở đánh giá nguy cơ đối với cuộc sống, sức khoẻ của con người, động thực vật (Điều 5.2) đổng thời phải áp dụng các biộn pháp ít hạn chế thương mại nhất khi xác định mức bảo vệ động thực vật phù hợp (Điều 5.4).
T hứ hai, các tiêụ chuẩn quốc gia này không phải là các biện pháp phân biệt đối xử một cách tùy tiộn hoặc không chính đáng giữa các thành viên có điều kiện tương tự hoặc giống nhau (Điều 5.5). Mặt khác, các nước thành viên phải giải thích lí do áp dụng tiêu chuẩn, cung cấp các thông tin vé thủ tục đánh giá nguy cơ đó cho các nước thành viên khác khi có yêu cầu (Điều 5.8; khoản 3 Phụ lục B).
Mặt khác, để xử lí vấn đề là khi khoa học chứng minh được sự nguy hại cùa sản phẩm nhất định đối với sức khoẻ, cuộc sống của con người, động thực vật thì đã quá muộn, Hiệp định cho phép các nước thành viên áp dụng biện pháp phòng ngừa để bảo vệ môi trường. Cụ thể là các nước thành viên được phép áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm . thời đối với trường hợp chưa có đủ các các thông tin, bằng chứng khoa học liên quan.
Tuy nhiên, để đảm bảo rằng việc áp dụng này không nhằm
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ
mục đích bảo hộ mâu dịch, Hiộp định yêu cầu nước thành viên áp dụng biện pháp phòng ngừa đó phải tìm kiếm các thông tin có thể sử dụng để đưa ra các đánh giá khách quan hơn về nguy cơ trong khoảng thời gian hợp lí (Điều 5.7).
b. Hiệp định vê các hàng rào k ĩ thuật đối với thương mai - TBT
\
Hiệp định TBT cho phép các nước được áp dụng các quy định tiêu chuẩn kĩ thuật cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và môi trường; mỗi nước được quyền quy định cấp độ bảo vệ khác nhau (Điều 2.2).
Trên cơ sở này, Hiệp định TBT chia các yêu cầu vé kĩ thuật thành hai nhóm: quy định kĩ thuật và tiêu chuẩn kĩ thuật, trong đó, quy định kĩ thuật là bắt buộc còn tiêu chuẩn kĩ thuật là tùy nghi. Quy định kĩ thuật được định nghĩa là tài liệu chứa đựng đặc tính của sản phẩm hoặc quy trình và các phương pháp sàn xuất có liên quan, gồm có các quy định về hành chính được áp dụng một cách bắt buộc. Chúng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan riêng đến thuật ngữ chuyên môn, các biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu hoặc nhãn hàng được áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất (Điều 1 Phụ lục 1). Còn "tiêu chuẩn kĩ thuật" là tài liệu được chấp nhận bời m ột tổ chức, được công nhận, đề ra, để sử dụng chung và nhiều lần, các quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính của sản phẩm hoặc các quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm đó m à việc thực hiện là không bắt buộc. Nó cũng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan đến một trong các yếu tố như: thuật ngữ chuyên môn, biểu tượng, yêu cầu vể bao bì, mã hiộu hoặc
PHẨM TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU ẬT TM QT VÀ VẤN Đ Ể BẢO V Ệ MÔI TRƯỜNG
nhãn hàng được áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất (Điều 2 Phụ lục 1).
Các nước thành viên được sử dụng các "quy định kĩ thuật" và "tiêu chuẩn kĩ thuật" để bảo vệ sức khoẻ hoặc an toàn của con người, động thực vật hoặc môi trường. Tuy nhiên, viộc sừ dụng này có kèm theo các điều kiện sau:
Thứ nhất là không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu cùng loại từ tất cả các nguồn, cũng như không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa cùng loại. Tức là phải đàm bảo thực hiộn hai nguyên tắc cơ bản là đối xử quốc gia và đãi ngộ tối huệ quốc.
Thứ hai là không được gây ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại. Điều này có nghĩa là việc thực hiện các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật này không được vượt quá mức cần thiết để thực hiện các mục tiêu hợp pháp trong đó có tính toán đầy đủ các rủi ro do không thực hiộn được các mục tiêu đó. Một trong các mục tiêu hợp pháp này là bảo vộ môi trường.
Thứ ba là áp dụng trên cơ sở thông tin khoa học rõ ràng (Điều 2.1; 2.2).
Bên cạnh đó, Hiệp định TBT quy định nghĩa vụ thông báo các yêu cầu kĩ thuật quy trình đánh giá sự phù hợp thông qua cơ chế hỏi đáp quốc gia. Mục đích của quy định này là minh bạch hoá các yêu cầu kĩ thuật đối với hàng nhập khẩu và hạn chế tối đa sự bóp méo thương mại mà các yêu cầu kĩ thuật gồm cả các quy định và tiêu chuẩn môi trường có thể gây ra.
Các biện pháp môi trường được thông báo gồm có: các biện pháp hạn chế ô nhiễm, quản lí rác thải, bảo tổn năng lượng, các biện pháp bảo tổn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các biện
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỚC TẾ
pháp thực hiện, các hiệp định đa phương về môi trường.
Dưới đây là một số các yêu cầu kĩ thuật liên quan đến môi trường.
- Yẽu cầu về bao bì của sản phẩm
Để bảo vệ môi trường, nước nhập khẩu có quyển đưa ra các quy định về bao gói sản phẩm phải tái chế đuợc. Điểu này liên quan đến việc xử lí các chất thải rắn. Các quy định vể đóng gói bao gồm nhũng quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, quy định về tái sinh, xử lí và thu gom sau quá trình sử dụng. Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liêu đóng gói đòi hỏi vi ộc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc dùng lại. Những sản phẩm không phù hợp có thể bị từ chối với lí do về mặt nguyên liệu đóng gói và sản phẩm chứa bên trong bao bì.
- Yêu cầu vẻ dán nhãn sinh thái
Điều này có nghĩa là nước nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu phải thực hiộn viộc dán nhãn mác sản phẩm của mình theo những tiêu chuẩn nhất định nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng về sinh thái cho các nước nhập khẩu. Sản phẩm được dán nhãn sinh thái (hay còn gọi là sản phẩm "xanh") nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết là sản phẩm đó thân thiộn đối với môi trường. Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích chu kì sống cùa sản phẩm. Một chu kì sống của sản phẩm bao gổm các giai đoạn sau: tiền sản xuất (chế biến các nguyên liệu thô);
sản xuất; phân phối (bao gổm đóng gói); sử dụng; loại bỏ sau khi sử dụng Cụ thể là người ta sẽ đánh giá mức độ ảnh
PHẲA ' TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V- LU ẬT TM QT VÀ VAN D Ể BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
hưởng của sản phẩm đối với môi trường trong từng giai đoạn này của chu kì sống của sản phẩm.
Việc sử dụng nhãn sinh thái được coi là công cụ để thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng đối với sản phẩm thân thiộn với môi trường (sản phẩm "xanh") đồng thời nó cũng tác động ngược trở lại tới cạnh tranh thương mại quốc tế giữa các sản phẩm cùng loại nhưng một bên được dán nhãn sinh thái và sản phẩm không dán nhãn đó.
- Yêu cầu về quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm (Process and Production Methods-PPMs)
Theo quy định về tiêu chuẩn, quy định kĩ thuật của TBT thì các quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm có liên quan sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Hiệp định này.
Vấn đề đặt ra ià PPMs có "liên quan" được hiểu theo nghĩa là chỉ những PPMs có ảnh hưởng đến đặc thù và chất lượng của sản phẩm xuất khẩu hay bao gồm cả các PPMs không có tác dộng trực tiếp đến chất lượng và đặc thù của sản phẩm xuấi khẩu song lại có tác động tiêu cực đến môi trường tại nơi sản xuất sản phẩm đó. Xét về mặt môi trường, việc xem xét PPMs là một trong 3 khâu quan trọng của quá trình quản lí môi trường đối với một sản phẩm: sản xuất, tiêu dùng và vứt Dỏ, xem các khâu này có ảnh hưởng xấu đến môi trường hay không. Nếu như PPMs có liên quan được hiểu là bao gồir. cả các PPMs không tác động trực tiếp đến chất lượng và đặc thù của sản phẩm xuất khẩu thì các sản phẩm xuất khẩu có PPMs ảnh hưởng xấu đến môi trường tại nơi sản xuất cũng sẽ có nguy cơ bị cấm nhập khẩu vào một nước thành viên. Điều này có nghĩa là nước nhập khẩu có thể dùng các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật về PPMs để buộc nước xuất