Đầu tư tư nhản nước ngoài

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 149 - 154)

CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

3. Đầu tư tư nhản nước ngoài

- Cho đến nay, chưa có một điều ước quốc tế có tính toàn cầu thống nhất điều chỉnh toàn bộ các hoạt động đầu tư tư nhân nưóe ngoài.

Dựa trên thực tiễn đầu tư tư nhân nước ngoài và xu hướng hiên nay về tạo thuận lợi cho việc di chuyển các luồng vốn đầu tư quốc tế, Ngân hàng thế giới (WB) đã soạn thảo văn kiện gọi là những chỉ dẫn về đối xử đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Văn kiện này gồm những nguyên tắc cụ thể nhằm hướng dẫn cách xử sự cuả chính phủ nước nhận đầu tư đối với đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, WB còn có MIGA và ICSID có các quy định liên quan đến ĐTNN.

Mặc dù các vản kiện quốc tế nói trên không có giá trị ràng buộc đối với các quốc gia nhưng đó là cơ sở đổ các quốc gia tham khảo trong khi xây dựng luật quốc gia điều chỉnh đầu tư nước ngoài trên lãntì thổ cuả mình.

Có một số điều ước quốc tế khu vực được kí giữa các quốc gia liên quan đến đầu tư nước ngoài, như: Hiệp ước Roma ngày 25/3/1957 lập ra Cộng đổng kinh tế châu Âu với phương châm thực hiộn tự do lưu chuyển tư bản giữa các nước thành viên với nhau và với các nước thứ ba; Hiệp định Cactahena ngày 26/5/1969 lập ra Thị trường chung Andin, thực hiện một chế độ chung mang tính chất ngăn ngừa và đối phó trong đối xừ với vốn đẩu tư nước ngoài;

Công ước ngày 27/5/1971 lập ra Công ti liên Arập để bảo đảm đầu tư. ASEAN thì có Hiệp định khuyến khích và bảo

PHẤN THỨNHẤT - CHUƠNG N - PHÁP LUẬT Đ IỂU CHÌNH MỘT s ố ŨNH v ự c CỦA TMQT

hộ đầu tư 15/12/1987.

- Rất nhiều hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư được kí kết. Trong các hiệp định này thường có các quy định về: Các biện pháp chung vẻ đối xử đối với đầu tư nước ngoài; bảo vộ quyền lợi cuả Nhà đầu tư trong trường hợp bị trưng thu tài sản; bồi thường thiệt hại do xung đột vũ trang hoặc biến động trong nước; chuyển lợi nhuận, vốn ra nước ngoài; giải quyết tranh chấp...Việt Nam đã kí kết với nhiều nước hiộp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư theo các mô hình phổ biến vể loại hiệp định này.

- Pháp luật quốc gia có vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tư tư nhân nước ngoài. Pháp luật này có hai loại:

pháp luật cuả nước xuất khẩu tư bản đối với đầu tư cuả tổ chức, cá nhân nước mình ở nước ngoài và pháp luật cuả nước nhập khẩu tư bản đối với đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ cuả mình.

b. M ột s ố nội dung cụ thể

- Tiếp nhận đầu tư nước ngoài

Mỗi quốc gia có quyẻn quyết định việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ cuả mình. Quyền này bao gồm: từ chối hay ngăn cấm đầu tư nước ngoài mà quốc gia đó cho là không phù hợp với yêu cầu về an ninh quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế hay các lợi ích khác cuả quốc gia, áp đặt những điều kiện hoạt động cho đầu tư nước ngoài, cho việc sở hữu tài sản cuả người nước ngoài hay cho hoạt động cuả các công ti xuyên quốc gia trên lãnh thổ cuả quốc gia đó... Nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ mọi luật lộ liên quan cuả nước sở tại trong các hoạt động đầu tư trên lãnh thổ nước đó.

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỐC T Ế

Trong khi thực hiện quyền nói trên, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể có những quy định tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận và triển khai đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ cuả mình. Thực tiễn luật đầu tư nước ngoài cuả các quốc gia cho thấy các nước hiện đểu cô' gắng ban hành cơ chế đầu tư nước ngoài "một cửa". Thực tế cho thấy cũng có thể có các quy định có tính chất hạn chế hoạt động đầu tư nước ngoài, quy định trái với luật lộ thương mại quốc tế như ấn định tỉ lệ sở hữu và tham gia điéu hành cuả bên sở tại ưong các liên doanh, quy định về các chỉ tiêu xuất khẩu, yêu cầu về tỉ lệ cấu thành nội địa trong mỗi sản phẩm đầu tư, quy định áp dụng các biện pháp TRIMS, các biện pháp trợ cấp thông qua chế độ miễn giảm thuế, quy định hạn chế đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực hay khu vực cụ thể mà họ muốn kiểm soát...

- Đối xử với đầu tư nước ngoài

Tiêu chuẩn đôi xử với đầu tư nước ngoài được nhấn mạnh trong hầu hết các văn kiện pháp lí quốc tế và quốc gia liên quan đến đầu tư, được hiểu là mỗi quốc gia sẽ đối xử với đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ cuả mình một cách công bằng và thoả đáng. Nội dung cơ bản nhất cuả đối xử công bằng, thoả đáng là không phân biệt đối xử. Nguyên tắc không phân biột đối xử ỏ đây có hai mức độ khác nhau:

Không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quốc tịch (tối huộ quốc); và không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước sở tại (đãi ngộ quốc dân).

Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thực hiện phổ biến các lĩnh vực sau: bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản và

PHẲNTHỨNHÁT - CHƯƠNG IV - PHÁP LUẬT DIẾU CHÌNH MỘT s ố ŨNH vực CỦA TMQT lợi ích kinh tế cuả nhà đầu tư; cấp phép đầu tư, xuất khẩu;

thuê nhân công không phân biệt trên cơ sở quốc tịch; bảo đảm các thủ tục thị thực xuất nhập cảnh cho nhân công nước ngoài được thuê và di chuyển vốn, lãi, tiền lương, thu nhập hợp pháp, các khoản thanh toán theo các hợp đổng liên quan đến đầu tư.

Vấn đé lưu thông và chuyển đổi tiền tệ cũng là một khía cạnh quan trọng cuả chế độ đối xử với đầu tư nước rigoài.

Các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến khả năng chuyển các khoản lãi và vốn cuả họ ra nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài và hiệp định song phương cuả nhiều nước quy định về viộc nước tiếp nhận bảo đảm cho nhà đầu tư được tự do hồi hương các khoản lãi ròng, tiền lương, tiền tiết kiệm, các khoản thanh toán và hợp đồng, lãi thanh lí đầu tư, với một số ngoại tộ sau: Các ngoại tộ được nêu trong Quy chế cuả IMF (nếu nước đó là thành viên IMF và duy trì các thoả thuận và hạn chế xuyên quốc gia được IMF thông qua), bao gồm cả các hạn chế về hối đoái; trong trường hợp lãi thanh lí đầu tư với khối lượng lớn thì thực hiện việc lưu chuyển trong từng giai đoạn hạn chế (tới năm năm) nếu tình hình cán cân thanh toán cuả quốc gia đòi hỏi như vậy.

Liên quan đến việc đối xử với đầu tư nước ngoài, những quy định nhằm ngăn ngừa và kiểm soát các hành động tham nhũng trong việc xét duyệt và thực hiện đầu tư nước ngoài cũng cẩn thiết để bảo đảm thi hành trên thực tế nguyên tắc đối xừ công bằng thoả đáng giữa các nhà đầu tư nước ngoài.

- Trưng thu tài sản, những thay đổi đơn phương về phía nước nhận đầu tư•

Mỗi quốc gia sẽ không trưng thu một phần hay toàn bộ

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

Vốn đầu tư cuả tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ cuả mình, hay có những biộn pháp đem lại hậu quả tương tự, trừ khi viêc đó được thực hiộn theo đúng các thủ tục pháp lí hiện hành, một cách thiện chí, vì mục đích công cộng, không phân biệt đối xử trên cơ sở quốc tịch và phải có bổi thường thích đáng. Một sô' quốc gia, trong đó có Việt Nam còn quy định rõ trong Luật đầu tư cuả mình sẽ không tiến hành quốc hữu hoá doanh nghiộp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Giải quyết tranh chấp

Tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia nhận đầu tư thường được giải quyết thông qua thương lượng giữa họ với nhau. Trường hợp thương lượng không thành thì giải quyết tại toà án nước nhận đầu tư hay giải quyết theo một cơ chế khác theo thoả thuận cuả hai bên.

Cơ chế đó có thể là cơ chế ngoài tài phán (thương lượng, hoà giải...) hoặc thông qua các cơ quan tài phán (chủ yếu là trọng tài quốc tế).

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU ẬT TM QT VÀ VẤN Đ Ể BẢO V Ệ MÔr TRƯỜNG

CHUÔNG V

LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAN ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tự do hoá thương mại được coi là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia. M ặt khác, nó cũng nhân lên gấp bội tác động của các hoạt động kinh tế đến môi trường sống. Do đó, xu th ế hiện nay là gắn vấn để bảo vệ môi trường với các hoạt động kinh tế trong nước và thương mại quốc tế. Các quy định của WTO cũng không nằm ngoài xu thế này.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 149 - 154)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)