KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC THIẾT CHẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 68 - 74)

GIỮA CÁC QUỐC GIA

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC THIẾT CHẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1. K hái niệm•

Dưới góc độ của luật thương mại quốc tế, các thiết chế thương mại điều chỉnh quan hệ thương m ại quốc tế được hiểu là các cơ quan, các tổ chức do các quốc gia thoả thuận xây dựng hoặc thừa nhận nhằm điéu chỉnh quan hộ thương mại giữa các bên hữu quan.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu, các thiết chế điểu chỉnh quan hệ thương mại quốc tế càng có ý nghĩa quan trọng. T ự do hoá thương m ại ở các cấp độ khác nhau đòi hỏi phải có nhiéu hơn những tổ chức, cơ quan với công cụ hữu hiệu là hệ thống các văn bản pháp lí quốc tế làm cơ sở cho quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phát triển, đáp ứng được lợi ích của cộng đồng các quốc gia. WTO, Liên minh châu  u (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp định về khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)... ra đời là nhằm đáp ứng đòi

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ

hỏi này.

Thực tiễn của sự phát triển quan hộ thương mại trên thế giới trong thời gian qua cho thấy vai trò không thể thiếu của các thiết chế thương mại quốc tế đặc biệt là của các tổ chức quốc tế liên chính phủ đối với nền thương mại của thế giới nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Chính vì vậy, không thể không tiếp cận các thiết chế điều chỉnh thương N mại quốc tế khi nghiên cứu về luật thương mại quốc tê.

2. Lịch sử ra đời và phát triển

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các tổ chức quốc tế nói chung trong đó có các thiết chế thương mại quốc tế nói riêng hình thành tương đối sớm. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà những tổ chức quốc tế đầu tiên là những tổ chức có tính chất phi chính phủ, có phạm vi hoạt động hạn hẹp và vì mục đích nhân đạo là chủ yếu.

Khi những tổ chức quốc tế liên chính phủ đầu tiên ra đời thì một trong những mục đích hoạt động cơ bản của chúng là đều hưóng vào lĩnh vực hợp tác về kinh tế. Đặc biột, kể từ sau Đại chiến thế giới lẩn thứ n , các tổ chức quốc tế kể cả tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức chung và tổ chức chuyên môn có sự gia tảng mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô.

Cơ sở hình thành và phát triển của các thiết chế thương mại quốc tế.

- Cơ sở thực tế

Các quốc gia trên thế giới những mức độ khác nhau đều có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, điểu kiên tự nhiên, thổ chế chính trị... Bài học của việc thực thi chính sách "tự cung tự cấp", "bế quan toả cảng" của một số quốc

PHẦN TH Ứ NHẮT - CHƯƠNG III - CÁC TH IẾT C H Ế c ơ BẢN Đ IỂU CHÌNH TMQT

gia trong các thời kì khác nhau cho thấy hợp tác để phát triển là thực tế mà không quốc gia nào có thể đứng ngoài. Vì vậy, các thiết chế thương mại quốc tế ra đời, tồn tại và phát triển chính là một ưong những hình thức hợp tác hiệu quả thông qua việc điều hoà, phối hợp lợi ích giữa các thành viên. Mật khác, trong những thập niên gần đây đặc biột là sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế diễn ra rất mạnh mẽ, các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển đa dạng, các vấn đề mang tính toàn cầu tác động đến lợi ích kinh tế của mỗi quốc gia xuất hiện ngày càng nhiều đòi hỏi sự phối hợp chạt chẽ hơn nữa của các quốc gia trong các tổ chức hoặc diễn đàn thích hợp nhằm duy trì, ổn định và phát triển trật tự các quan hộ quốc tế nói chung và quan hộ kinh tế quốc tế nói riêng. Thiết chế thương mại quốc tế chính là m ột trong những hình thức này. Như vậy, sự ra đời và phát triển của các thiết chế thương mại quốc tế là tất yếu khách quan.

- Cơ sở pháp lí

Các thiết chế thương mại quốc tế ra đời trên cơ sở các văn bản pháp lí quốc tế do các quốc gia thoả thuận kí kết hoặc do các cơ quan có thẩm quyền của một sô' tổ chức quốc tế liên chính phủ ban hành như các điều ước quốc tế, các nghị quyết, các thoả thuận quốc tế... Những văn bản này không chỉ là tiền để cho sự ra đời cùa tổ chức, thiết chế mà nó thường bao gồm cả những quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng quyén hạn của chính các thiết chế đó. Ví dụ như:

Liên hợp quốc ra đời trên cơ sở của Hiến chương, ASEAN ra đời trên cơ sở của Tuyên bô' Băng Cốc, Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCTTRAL) được thành lập

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

ngày 17/12/1966 theo Nghị quyết số 2205 (XXI) của Đại hội đổng Liên hợp quốc... Với các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các văn bản pháp lí quốc tế này còn là một trong những cơ sở xác định quyền năng chủ thể luật quốc tế của chính những tổ chức đó.

3. Đặc điểm của các thiết chế thương mại quốc tế hiện nay

Xuất phát từ những nguyên nhân như: Mục đích thành lập và hoạt động, tác động của xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá... nên so với các tổ chức quốc tế khác, các thiết chế thương mại quốc tế hiộn nay thường có một số đặc điểm đặc trưng sau:

- Sự đa dạng vể hình thức tổ chức

Để đáp ứng nhu cầu và lợi ích kinh tế cùa mình, các thực thể tham gia quá trình hợp tác quốc tế có xu hướng tạo lập ra nhiều "mô hình" tổ chức rất phong phú. Bên cạnh các tổ chức kinh tế quốc tế liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức có quy mô toàn cầu (Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới....), tổ chức khu vực (Liên minh châu Âu, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á...) còn xuất hiộn cả những hình thức mới như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (A PEQ . Ngoài ra, trong khuôn khổ của các tổ chức quốc tế liên chính phủ m à hoạt động của nó bao trùm trên nhiều lĩnh vực khác nhau (tổ chức quốc tế chung), để thực hiện mục tiêu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế thương mại, trong cơ cấu của những tổ chức này còn có những cơ quan chuyên thực hiện chức năng phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong lĩnh vực kinh tế như Hội đổng kinh tế - xã hội, Uỷ ban luật thương mại quốc tế, Hội nghị về hợp tác

PHẦN TH Ừ NHẤT - CHƯƠNG m ■ CÁC T H lẾ r C H Ế c ơ BẢN Đ IẾU CHÍNH TMQT

và phát triển... cùa Liên hợp quốc, Hội đồng AFTA, Hội đồng AIA, Hội nghị bộ trường kinh tế của ASEAN...

- Sự đa dạng về thành viên

Sự gia tăng về số lượng các thiết chế thương mại quốc tế và số lượng thành viên của mỗi thiết chế cho thấy những khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, về khu vực địa lí, về quan điểm chính trị giữa các quốc gia đã không còn bị coi là "rào cản" không thể vượt qua khi hội nhập vào các thiết chế quốc tế này. "Hiộn tượng" này có thể gặp không chỉ ở những tổ chức toàn cầu mà còn ngay cả trong một sô' tổ chức quốc tế khu vực. Điển hình như đối với ASEAN, trong các thành viên của tổ chức này có cả những quốc gia rất phát triển như Singapore và có quốc gia đang phát triển như Viột Nam, Lào, Cãmpuchia... có quốc gia đang thực hiên nền kinh tế chuyển đổi (Việt Nam) và các quốc gia đã có nền kinh tế thị trường

"truyền thống" (Thái Lan, Singapore)... Hơn nữa, quy chế cùa một số thiết chế thương mại quốc tế còn cho phép cả những thực thể phi quốc gia nếu đáp ứng được các quy định về tiêu chaẩn thành viên thì hoàn toàn có thể trở thành hội viên của những thiết chế này (như trường hợp Hổng Kông, Ma Cao là thành viên của WTO). Đây là điều khó có thể được chấp nhận trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác mà hợp tác kinh tế thương mại không chỉ là mục tiêu duy nhất.

- Mối quan hệ gắn kết giữa các thiết chế thương mại quốíc tế

Các thiết chế thưcmg mại quốc tế có mối liên hệ ngày càn.g chật chẽ với nhau không chỉ ờ cấp độ tổ chức, thành viên mà còn trong cả lĩnh vực hoạt động. Mối quan hệ này đặc biệt được thể hiện rất rõ trong quan hệ giữa Liên hợp

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỔC TẾ

quốc với các tổ chức chuyên môn thuộc hộ thống Liên hợp quốc, giữa Liên hợp quốc và một sô' tổ chức khu vực. Đứng trước xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng gia tăng, có thể nói hiện nay không có quốc gia nào trên thế giới lại không phải là thành viên của một tổ chức quốc tế nào đó.

Xuất phát từ mục đích tăng cường hiộu quả hoạt động của mỗi tổ chức quốc tế, mặt khác việc đổng thời là thành viên cùa các tổ chức quốc tế khác nhau cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đan xen các hoạt động, các thoả thuận, cam kết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên và cả các tổ chức quốc tế hữu quan.

Với chủ trương "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", Viột Nam không chỉ là thành viên cùa Liên hợp quốc mà còn tham gia vào các tổ chức toàn cầu như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức lương thực và nông nghiệp quốc tế (FAO)...

các tổ chức khu vực như: ASEAN, APEC... và đã gia nhập vào WTO.

4. Vai trò của các thiết chế thương mại quốc tế

Cùng với sự phát triển cùa các quan hệ quốc tế, các thiết chế thương mại quốc tế đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các quốc gia nói riêng. Vai trò của những thiết chế này được thể hiộn ưên những lĩnh vực cơ bản như:

Hoạt động của các thiết chế thương mại góp phần hài hoà lợi ích kinh tế giữa các thành viên thông qua việc phối hợp hành động, bổ sung, hoàn thiộn các kế hoạch hợp tác kinh tế, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước, giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề mang tính toàn cầu hiên nay như: vấn đề môi trường, an ninh lương thực, năng lượng...

PHẦN T H Ứ NHẤT - CHƯƠNG I I I ■ CÁC T H lẾ r C H Ế c ơ BẢN D IÊU CHÌNH TMQT

Các thiết chế thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đàm phán và kí kết các điều ước quốc tế ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật thương mại quốc tế nói riêng, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh hơn;

Đối với các tranh chấp phát sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, cơ chế giải quyết tranh chấp của các thiết chế thương mại quốc tế như WTO, EU, ASEAN... là một trong những đảm bảo pháp lí cho quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 68 - 74)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)