CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
4. Các quy định về tiêu chuẩn và an toàn sản phẩm
PHẲNTHỬNHẴr -CHOƠNGIV- PHÁP LUẬT DIẾU CHÌNH M ộ rsố Ũ N H v ự c CỦA TMQT
WTO CÓ riêng hai hiệp định điều chỉnh mức độ an toàn cuả lương thực, sức khỏe và sự an toàn cho các loài động thực vật (Hiệp định SPS), cũng như tiêu chuẩn kĩ thuật đối với một số sản phẩm (Hiệp định TBT).
a. Các quy định vê an toàn đối với lương thực, động vật và tliực vật
Các quy tắc nền tảng nhằm đảm bảo cung ứng cho người tiếu dùng các sản phẩm lương thực an toàn đồng thời tránh việc sử dụng các quy định chặt chẽ về vệ sinh dịch tễ như một cái cớ để bảo hộ các nhà sản xuất trong nước đưa vào một hiệp định chuyên biệt về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ đối với động thực vật. Hiệp định này có tên là Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS).
Hiệp định SPS cho phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng song cũng quy định các tiêu chuẩn này phải có cãn cứ khoa học. Các quy định về vộ sinh dịch tễ chỉ có thể đuợc áp dụng trong chừng mực cần thiết để bảo vệ sức khỏe cuả con người và các loài động thực vật. Chúng cũng không được gây ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô căn cứ giữa các quốc gia có điều kiện giống hệt nhau hoặc tương tự như nhau.
Các nước thành viên WTO được khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn, định hướng hoãc khuyến nghị quốc tế sẵn có.
Tuy vậy, các nước vẫn có thể thông qua những biện pháp sử dụng những chuẩn cao hơn nếu họ có cơ sở khoa học. Họ cũng có thể xây dựng những tiêu chuẩn khắt khe hơn dựa trên việc đánh giá hợp lí các rủi ro, với điều kiện phương
GIÁO TRỈNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TỂ
pháp tiến hành phải chạt chẽ và không tùy tiện. Trong chừng mực nào đó, các nước này có thể áp dụng "nguyên tắc phòng ngừa", cách tiếp cận theo kiểu "an toàn là trên hết" trong trường hợp chưa có căn cứ khoa học chắc chắn. Khoản 7 Điều 5 Hiộp định SPS cho phép các nước đưa ra các biện pháp "phòng ngừa" tạm thời.
Cũng theo Hiệp định này, các nước vản được áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau và các phương pháp kiểm hoá khác nhau. Nếu nước xuất khẩu chứng minh được rằng các biện pháp mà nước này áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu có cùng mức độ bảo vệ về vệ sinh dịch tễ với nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu về nguyên tắc phải chấp nhận các tiêu chuẩn và phương pháp mà nước xuất khẩu áp dụng.
Hiệp định SPS còn có các điều khoản về thủ tục kiểm tra, giám định và công nhận độ an toàn. Chính phủ các nưốc phải thông báo trước những quy định mới hoặc được sửa đổi về vệ sinh dịch tễ mà mình sẽ áp dụng và thiết lập một cơ sở thông tin quốc gia. Hiệp định này bổ sung cho Hiệp định về những rào cản kĩ thuật đối vói thương mại.
b. Các quy định vê' k ĩ thuật và tiêu chuẩn
Các quy định về kĩ thuật và các tiêu chuẩn công nghiệp đóng vai trò quan trọng nhưng mỗi nước lại đưa ra những quy định và tiêu chuẩn khác nhau. Việc có quá nhiều tiêu chuẩn khác nhau như vậy thường gây khó khăn cho các nhà sản xuất và xuất khẩu. Nếu các tiêu chuẩn được quy định một cách tùy tiộn thì chúng có thể được sử dụng như là phương tiện bảo hộ. Do đó, các tiêu chuẩn k ĩ thuật có thé trờ thành những rào cản đối với thương mại.
PHẦNmỨNHẨr-CHƯƠNG IV-PHÁP LUẬT ĐIỂU CHÌNH MỘT SỔ ŨNH v ự c c ủ ATMQT
Hiệp định vể những rào cản kĩ thuật đối với thương mại (Hiệp định TBT) có mục đích làm sao để các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và quy trình thử nghiộm và công nhận không gây ra những trở ngại không cần thiết.
Hiệp định TBT thừa nhận quyền cuả các nước được đưa ra những chuẩn mực mà họ cho là thích hợp để bảq vệ sức khỏe và cuộc sống cuả con người và động vật, để bảo tồn các ỉoài thực vật, bảo vệ môi trường hay các quyền lợi khác cuả người tiêu dùng... Các nước thành viên Hiệp định này không bị cấm thông qua các biện pháp cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực này. Để tránh có sự chênh lộch quá lớn, Hiệp định khuyến khích các nước áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế khi chúng tỏ ra phù hợp.
Hiệp định TBT còn là bộ luật ứng xử trong việc soạn thảo, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn cuả các cơ quan trung ương cuả các nước thành viên; quy đinh cách thức để các chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ áp dụng các quy định riêng cuả mình; quy định về quy trình đánh giá sản phẩm tuân thủ các tiêu chuẩn cuả một nước.
Hiệp định quy định không áp dụng các phương pháp thiên vị đối với các sản phẩm trong nước, khuyến khích các nước công nhận các quy trình xét nghiệm cuả nhau. Các nhà sản xuất và xuất khẩu cần phải được biết về các tiêu chuẩn mới được ban hành tại những thị trường mà họ đang tìm cách thâm nhập. Để việc tiếp cận các thông tin này được dễ dàng, các nước thành viên WTO phải thiết lập các điểm thông báo quốc gia có tính chất quốc tế.
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUÔC TỂ
5. C ác quy định về dệt may
Từ năm 1974 đến cuối Vòng đàm phán ưrugoay, thương mại sản phẩm dệt may chịu sự điều chỉnh cuả Hiệp định đa sợi (MFA). Hiộp định này tạo khung pháp lí cho việc thiết lập các hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sờ các thoả thuận song phương hoặc bằng các biộn pháp đơn phương nhằm hạn chế nhập khẩu vào thị trường các nước mà ngành sản xuất có nguy cơ bị rối loạn do sự lan tràn cuả hàng nhập khẩu.
Các hạn ngạch (quota) là phần nổi bật cuả hệ thống này, khuyến khích áp dụng thuế quan hơn là các biện pháp hạn chế định lượng. Chúng đã tạo nên một ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa tất cả các đối tác thương mại trong hệ thống cuả GATT. Từ năm 1995, Hiệp định dột may cuả WTO (ATC) đã thay thế cho Hiộp định đa sợi. Đến ngày 01/01/2005, ngành dột may cần phải áp dụng hoàn toàn hệ thống các luật lộ thông thường cuả GATT, đặc biêt các nước phải xoá bỏ hạn ngạch và các nước nhập khẩu không được đối xử phân biột giữa các nước xuất khẩu,