CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
2. Bảo hộ quyền sỏ hữu trí tuệ
Mức độ bảo vệ và tôn trọng các quyền này ở các nước rất khác nhau. Do sờ hữu trí tuệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thương mại nên những khác biệt đó đang trở
GIÁO TRÌNH LUẬT THIX3NG MẠI QUỐC TẾ
thành nguyên nhân gây căng thẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Việc xây dựng các quy định pháp luật thương mại mới Ưên phạm vi toàn thế giới nhằm điều chỉnh quyẻn sở hữu trí tuệ đã ữ ở thành phương tiện giúp củng cô' trật tự quốc tế, khả năng dự báo, cũng như giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế có hiộu quả hơn.
Với Hiệp định TRIPs được đàm phán ưong Vòng đàm phán Ưrugoay từ năm 1986 đến năm 1994 lần đầu tiên những quy định về sở hữu trí tuộ được đưa vào hộ thống pháp luật thương mại đa biên. Hiộp định TRIPs có mục tiêu là giảm bớt sự khác biột trong cách thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuộ trên thế giới và đưa ra các quy định quốc tế chung điều chỉnh sự bảo hộ này. Hiệp định ấn định các mức độ bảo hộ tối thiổu mà mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm cho quyền sở hữu trí tuệ cuả các quốc gia thành viên khác. Trên cơ sở đó, Hiệp định tạo sự cân bằng giữa lợi ích lâu dài và chi phí ngắn hạn đối với xã hội. Chính phủ các nước được phép giảm các chi phí ngắn hạn bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ: để đối phó với các vấn đề y tế công cộng. Hơn nữa, hệ thống giải quyết tranh chấp cuả WTO cho phép giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có hiệu quả.
Các lĩnh vực thuộc phạm vi điẻu chỉnh cuả Hiệp định TREPs bao gồm: Bản quyền và quyền liên quan; nhãn hiộu hàng hoá và dịch vụ; chì dẫn địa lí; bản vẽ vể kiểu dáng công nghiệp; bằng sáng chế; sơ đổ bô' trí mạch tích hợp; bảo vệ thông tin bí mật. Hiệp định để cập năm nội dung chính: các nguyên tắc cơ bản cuả hộ thống thương mại và các hiộp định quốc tế khác về sở hữu trí tuệ được áp dụng; mức độ bảo hộ
• •
PHÁN THI 'rNHẤT - CHi 'ÔNG [V - PHÁP LUẬT ĐlẾU CHÍNH MỘT số ƯNH vực CỦA TMQT
thích hợp đối với quyền sở hữu trí tuệ; bảo đảm cho các quyén này được tôn trọng một cách thoả đáng trên lãnh thổ cuả nước thành viên; giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên WTO; áp dụng các thoả thuận đặc biệt trong thời gian chuyển đổi cũng như các thoả thuận trong các Hiệp định GATT và GATS, Hiệp định TRIPs dựa trên một số nguyên tắc cơ bản. Hiệp định TRIPs nhấn mạnh tới nguyên tắc không phân biệt đối xử: đối xử quốc gia (bình đẳng đối xử giữa người trong nước và người nước ngoài) và đối xù tối huộ quốc (bình đảng đối xử giữa kiều dân cuả tất cả các nước thành viên khác cuả WTO). Đối xử quốc gia cũng là nội dung cốt lõi cuả các hiệp định khác về sở hữu trí tuệ được kí kết ngoài khuôn khổ WTO.
Hiệp định TRIPs còn đưa ra nguyên tắc quan trọng khác, đó là bảo hộ sở hữu trí tuệ phải góp phần cải tiến kĩ thuật và chuyển giao công nghệ. Bảo hộ sở hữu trí tuộ phải đem lại lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, góp phần gia tãng sự no ấm về kinh tế và xã hội.
Điéu 1 Hiêp định thương mại Viêt Nam-Hoa Kỳ cũng quy định: Để bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và có hiệu quả, mỗi bên tối thiểu phải thực hiện Chương này và các quy định có nội dung kinh tế cuả-
- Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao chép trái phép năm 1971 (Công ước Geneva);
- Công ước Beme về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1971 (Công ước Beme);
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1967 (Công ưởc Paris);
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TÊ'
- Công ước quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới, năm 1978 (Công ước UPOV (1978)) hoặc Công ước quốc tê vé bảo hộ giống thực vật mới năm 1991 (Công ước ƯPOV (1991)); và
- Công ước về phân phối tín hiệu mang chương trình truyển qua vệ tinh (1974).
Điều 1 Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ cũng quy định một bên có thể thực hiện việc bảo hộ và thực thi quyền sờ hữu trí tuệ theo pháp luật quốc gia cuả mình ờ mức độ rộng hơn so với yêu cầu tại Chương này, với điểu kiên là việc bảo hộ và thực thi đó không mâu thuẫn với Chương này.