Pháp luật quốc gia

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 24 - 30)

GIỮA CÁC QUỐC GIA

III. NGUỒN CỦA LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

1. Pháp luật quốc gia

a. Khái niệm

Pháp luật là công cụ pháp lí cơ bản và chủ yếu để nhà nước thực hiện các chức năng của mình. Cũng như mọi lĩnh

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - MỘT VÂN Đ Ể ú LUẬN VỂ LU ẬT m Ọ T

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

11 ■ ‘ * * * ■ — ằ * ' ằ * m w ■ ■■ ■ ■ ■ — <■ ! ... I ... . ■ ■■■* ! ■ ■ r *•****,+ . - . , ■ I ,

Vực khác, trong thương mại quốc tế, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chinh các hoạt động của các chủ thể. Về mặt lịch sừ, khi quan hộ thương mại quốc tế mới được hình thành, các quy phạm của pháp luật trong nước của mỗi quốc gia điều chỉnh quan hệ này được quy định một cách đơn giản và được tổn tại một cách riêng lẻ trong từng lĩnh vực của hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, sau này khi hoạt động thương mại quốc tế phát triển và đãc biệt là khi kĩ thuật lập phầp được nâng cao thì luật quốc gia về thương mại quốc tế được quy định chặt chẽ và đổng bộ.

Pháp luật của mỗi quốc gia là tổng thể các quy tắc, các quy định điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của quốc gia đó. Các quy tắc và các quy phạm này, tùy theo hộ thống pháp luật của mỗi nước, chúng có thể được thể hiện dưới hình thức thành vãn bản hoặc không thành vãn bản.

V í dụ: Đối với các nước theo hệ thống châu Âu lục địa (Civil Law) pháp luật được thể hiộn dưới hình thức vãn bản. Ở các nước này, chỉ có các quy phạm được ghi trong các văn bản pháp luật mới có giá trị pháp lí. Trong khi đó ở các nước theo hộ thống pháp luật chung Anh - Mỹ (Common Law), luật không chỉ được thể hiện dưới hình thức vân bản mà còn dược thể hiộn dưới hình thức không phải là văn bản đó là án lệ (case).

Luật quốc gia trong thương mại quốc tế là tổng hợp các quy định điều chỉnh các hoạt động cùa các chù thể trong hoạt động thương mại quốc tế. Với tư cách là nguổn của luật thương mại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc không được thể hiện dưới hình thức văn bản. Nguồn luật này được thể hiện dưới hình thức

PHẨN TH Ử NHẤT - CHƯƠNG I - MỘT s ố VẨN Đ Ế L Í LUẬN VẾ LUẬT TMQT

nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào từng hệ thống pháp pháp luật nhất định.

b. Áp dạng luật của mỗi quốc gia

Pháp luật của mỗi quốc gia được áp dụng trong thương mại quốc tế trong hai trường hợp, đó là: Khi các bên chủ thể thoả thuận áp dụng và khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật của quốc gia.

Thứ nhất, khi các bên chủ thể trong thương mại quốc tế thoả thuận áp dụng luật quốc gia. Ví dụ: trong quá trình kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên có quyền thực hiện nguyên tắc thoả thuận. Theo đó, các bên có thể thoả thuận mọi điều khoản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình bao gồm cả việc tự do thoả thuận chọn pháp luật áp dụng. Các bên có thể chọn pháp luật trong nước cùa mỗi bên hoặc có thể chọn pháp luật của nước thứ ba, với điéu kiện viộc chọn pháp luật áp dụng này không trái với quy định cùa pháp luật nơi kí kết hợp đổng.

Trên thực tế, khi thoả thuận luật áp dụng, các bên có thể thoả thuận áp dụng pháp luật của mỗi bên. Việc áp dụng luật của bên nào trong quan hộ hợp đồng là vấn đề không đơn giản. Bởi vì mỗi bên hiểu rõ pháp luật của mình hơn ai hết, do vậy nếu áp dụng luật của nước mình thì bẽn có pháp luật được áp dụng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với phía bên kia, đặc biệt trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì các bên đều muốn áp dụng luậl của nước mình vào hợp đồng nên việc thoả thuận chọn luật của một trong các bên thường gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, để đi đến thống nhất áp dụng pháp luật nước nào của một trong các bên chủ thể thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhân

GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ

nhượng và sự thuyết phục của các bên trong quá trình đàm phán. Việc áp dụng pháp luật của một trong các bên trong trường hợp này, thực chất là áp dụng luật của quốc gia theo sự thoả thuận của các bên.

Trong trường hợp các bên chủ thể không thể thoả thuận áp dụng pháp luật của một trong các bên thì các bên có thể thoả thuận áp dụng pháp luật của nước thứ ba. Pháp luật của nước thứ ba ở đây được hiểu là pháp luật của các nước có liên quan đến giao dịch kinh doanh quốc tế của các bên. Ví dụ: Luật nơi kí kết hợp đổng, luật nơi thực hiện hợp đổng, luật nơi có tài sản liên quan đến hợp đồng...

Trong trường hợp này, luật của nước thứ ba được coi là luật quốc gia do các bên lựa chọn đé điều chỉnh quan hê thương mại quốc tế cùa mình.

Trước khi thoả thuận áp dụng pháp luật cùa nước thứ ba, các bên cần phải tìm hiểu một cách kĩ lưỡng nội dung pháp luật của nước thứ ba đó. Bởi vì, nếu các bên không hiểu biết pháp luật của nước thứ ba thì hậu quả do pháp luật được lựa chọn này điều chỉnh có thể không phù hợp với mong muốn của một trong các bên, thậm chí khổng phù hợp với sự mong muốn của cả hai bên. Hơn nữa, trong nhiểu trường hợp nếu không tìm hiểu kĩ pháp luật của nước thứ ba sẽ làm cho những điều thoả thuận chọn luật cùa các bên sẽ không có giá t ậ pháp lí. Điều này xảy ra trong trường hợp khi pháp luật cùa các bên lựa chọn áp dụng bị cơ quan có thẩm quyẻn

tuyên bô' không có giá trị vì lí do bảo lưu trật tự công công.

Thứ hai, pháp luật quốc gia sẽ được áp dụng nếu có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến. Trong trường hợp, măc dù các bên chủ thể không thoả thuận chọn pháp luật áp dụng nhưng

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - M ỘT s ố VẤN Đ Ẻ ư LUẬN v é LU ẬT TMQT

trong các nguồn luật liên quan có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ được đem áp dụng để điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế. Ví dụ: để xác định năng lực kí kết và thực hiện hợp đổng thương mại quốc tế, tư pháp quốc tế của hầu hết các nước đều quy định áp dụng luật quốc tịch của các bên chủ thể. Theo đó pháp luật của nước mà các bên mang quốc tịch sẽ là pháp luật quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi giao kết hợp đổng của mỗi bên. Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù các bên không thoả thuận pháp luật áp dụng nhưng khi xác định năng lực pháp luật của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật thương mại quốc tế người ta vẫn áp dụng luật của quốc gia do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến.

Do đặc thù của quan hệ pháp luật trong hoạt động thương mại quốc tế m à các hệ thuộc luật sau đây thường được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến.

Luật quốc tịch cùa các bên chù thể (Lex nationalis);

Luật nơi cư trú cùa các bên chủ thể (Lex domicilii);

Luật nơi có vật (Lex rei sitae);

Luật nơi kí kết hợp đổng (Lex loci contractus);

Luật nơi thực hiện hợp đồng (Lex loci solutioniss).

c. Luật của Việt Nam - nguồn của luật thương mại quốc tế Pháp luật tròng nước của Việt Nam là pháp luật thành văn. Truyền thống luật thành văn của Việt Nam được hình thành và phát triển hàng trăm năm nay ngay từ thời kì phong kiến. Trải qua gần một thế kỉ dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, một nước điển hình theo hộ thống pháp luật thành văn,

GIÁO TRÌNH LUẬT THUONG MẠI QUỐC TỂ

truyền thống luật thành văn của Viột Nam không bị mai một.

Sau khi lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp giành được chính quyền, truyền thống luật thành văn của Việt Nam vẫn được k ế thừa và phát triển mạnh mẽ.

Như đã đề cập trên, luật trong nước với tư cách là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế là hình thức chứa đựng quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế. Do đó, nếu văn bản pháp lí chứa đựng ít nhất một quy phạm điểu chỉnh quan hộ thương mại quốc tế thì nó được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế.

Trong hộ thống pháp luật của Viột Nam có rất nhiều văn bản được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế. Các văn bản này có thể chứa đựng một hoặc nhiều quy phạm điểu chỉnh quan hệ thương mại quốc tế. V í dụ: một số văn bản pháp lí quan trọng sau đây cùa Viột Nam được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế Việt Nam:

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam;

- Bô luât dân sư Viêt Nam;■ • • a '

- Luật thương mại Việt Nam;

- Luật hàng hải Viột Nam;

- Luật hàng không dân dụng Việt Nam;

- Luật thuế xuất nhập khẩu.

Bên cạnh các văn bản pháp luật, một số vãn bản dưới luật nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế cũng được coi là nguồn cùa luật thương mại quốc tế của Việt Nam. Ví dụ: Nghị định của chính phủ sô' 57/1998/NĐ/CP ngày 31/7/1998 về quy định chi tiết thi hành Luật thương mại vể hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại ư,

PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG I - MỘT s ố VẤN D Ể ĩ LUẬN VỂ LUẬT TMQT

mua bán hàng hoá với nước ngoài; Nghị định cùa Chính phủ số 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP...

Một phần của tài liệu Giáo trình luật thương mại quốc tế (Trang 24 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(429 trang)