CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I. VẤN ĐÊ MÔI TRUỒNG TRONG GATT
1. Các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường của GATT 1947
Hiộp định chung về thuế quan và thương mại - GATT 1947 được xây dựng với mục đích m ở rộng tự do hoá thương mại giữa các nước tham gia chứ không phục vụ cho mục tiêu bảo vệ môi trường. Do đó, các điều khoản của Hiệp định đều nhằm loại bỏ các rào cản đối với tự do hoá thương mại như cắt giảm thuế quan, loại trừ các rào cản phi thuế quan (hạn chế số lượng nhập khẩu v.v, quy định các tiêu chuẩn lã thuật, vệ sinh dịch tễ với hàng nhập khẩu một cách không chính
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ
đáng V .V .). Các biện pháp này được thực hiện trên nguyên tắc cơ bản là không phân biột đối xử giữa các nước thành viên, cụ thể là nguyên tắc đãi ngộ tối huê quổc và đối xử quốc gia.
Bên cạnh đó, GATT 1947 cũng đưa ra một số các ngoại lệ cho phép các nước được áp dụng bịộn pháp phân biệt đối xử, hạn chế thương mại vói một số mục đích nhất định.
Trong sô' đó có ngoại lệ nhằm bảo vộ cuộc sống, sức khoẻ của cộng đồng, động thực vật, bảo vộ tài nguyên môi trường.
Ngoại lộ này được quy định tại đoạn b và g cùa Điéu XX.
Đoạn b Điều XX cho phép các nước kí kết thông qua và thực hiộn các biện pháp bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật với điều kiện nó là "cần thiết", trong khi đó đoạn g đặt ra yêu cầu các biện pháp được thông qua hoặc thi hành ở mức thấp hơn là "liên quan" tới việc gìn giữ nguổn tài nguyên có thể bị cạn kiột.
Mặt khác, để bảo đảm rằng các ngoại lộ này không bị lạm dụng để phân biột đối xử hoặc bảo hộ mậu dịch một cách trá hình, phần m ở đầu Điều XX đưa ra 3 điều kiện: (1) Không phân biệt đối xử tùy tiện, (2) Không phân biệt đối xử không chính đáng, (3) Không tạo ra sự hạn chế trá hình đôi với thương mại quốc tế.
Mục đích của quy định tại phần mở đầu này là nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi của nước viện dẫn ngoại lệ với quyền lợi của các nước có liên quan. Nó chỉ rõ rằng tất cả các ngoại lệ trong các đoạn của Điểu XX là các ngoại lệ của các nghĩa vụ nhưng có kèm điều kiện và bị giới hạn, mật khác các ngoại lộ nêu tại các đoạn của Điều XX có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào việc nó có thoả mãn
PHẦN TH Ứ NHẤT - CHƯƠNG V - LU ẬT TM QT VÀ VẤN Đ Ế BẢO VỆ M ÔI TRƯỜNG
được các điều kiện nêu tại phần mở đầu hay không. Đoạn đầu được nhận định là biểu hiện cùa nguyên tắc thiộn chí trung thực, là nguyên tắc chung của pháp luật và đồng thời cũng là nguyên tắc chung cùa luật quốc tế, nó kiểm chế
(control) việc sử dụng quyền của các nước kí kết. Như vậy, một nước muốn viện dẫn ngoại lệ nêu tại đoạn b hoặc g cùa Điểu XX thì phải chứng minh được rằng biộn pháp mà mình áp dụng không những phù hợp với quy định nêu trong từng đoạn m à còn đổng thời thoả mãn được các điều kiện nêu tại phần mở đầu cùa Điều xx.(,)
Tuy nhiên, kể từ khi thành lập cho đến năm 1994, nghĩa là cho đến khi WTO ra đời, kết thúc hoạt động cùa GATT, trong các vụ kiộn lên ban giải quyết tranh chấp của GATT, chưa nước nào thành công trong việc viện dặn đoạn b hoặc g cùa Điều khoản XX này để biện minh cho biện pháp hạn chế nhập khẩu của mình.(2) Đây cũng là một trong các nguyên nhân khiến GATT bị những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường chỉ trích là không thân thiộn với môi trường.(3)
(1). T h eo giải thích củ a cơ q u an thượng thẩm (A ppellate Body) trong vụ tranh chấp g iữ a Ản Đ ộ, M alaysia, Pakistani, T hái L an v ó i H oa K ỳ về lệnh cấm nhập khẩu lôm và các sản phẩm tôm củ a H o a K ỳ (W TO Doc. W T/DS58/AB/R, para.158).
(2). X em vụ tranh chấp giữa C anada và H oa Kỳ về lệnh cấm nhập khẩu cá ngừ và các sản phẩm cá n g ừ cù a H o a K ỳ (BISD 29S/91), vụ tranh chấp giữa Hoa K ỳ và T hái L an về hạn ch ế n h ập khầu và thuế n ộ i địa củ a T hái Lan đối với thuốc lá (BISD 37 S/200), vụ tranh chấp g iữ a M exico và H oa K ỳ về việc cấm n h ập khẩu c á ngừ vây vàng và các s in phẩm từ c á ngừ vây vàng và củ a H oa K ỳ (BISD 39/155).
(3). Xem: Thomas J. Schoenbaum, 'T rad e and Environment: Free International T rad e and Protection o f the Environm ent: Iireconciable C onflict?", 86 A m erican Journal o f International Law 700,
GIÁO TRèNH LUẬT THUệNG MẠI QUỐC TẾ
2. Những diễn biến trước khi WTO ra đời
Sự ra đời và phát triển của GATT 1947 đã khiến cho tự do hoá thương mại ngày càng được m ở rộng, dòng thương mại giữa các nước thành viên tăng mạnh. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại, các nước thành viên nhận thấy rằng sự gia tăng của các hoạt động thương mại tác động rõ rột đến môi trường, các vấn đề về môi trường cần được giải quyết trong khuôn khổ GATT 1947 vì các biện pháp về bảo vệ môi trường của các nước có liên quan đến hoạt động thương mại. Kết quả là tháng 11/1971, Nhóm các biện pháp môi trường và thương mại quốc tế (the GATT group Environmental Measures and International Trade - gọi tắt là E M U ) đã được thành lập trong khuôn khổ GATT để tiến hành điéu ư a về váh đé môi trường liên quan đến thương mại.
Vấn để này tiếp tục được các nước xem xét tại vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), cụ thể là ảnh hưởng của các biện pháp môi trường - chủ yếu là các quy định và tiêu chuẩn kĩ thuật - đến thương mại quốc tế. Kết quả là Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade, gọi tắt là TBT), trong đó có các quy định liên quan đến môi trường đã được kí kết tại vòng đàm phán Tokyo. Tuy nhiên, mục đích tự thân của GATT vẫn là tự do hoá thương mại nên các quy định mới liên quan đến bảo vệ môi trường trong Hiệp định này được xây dựng theo hướng ngăn ngừa các nước lạm dụng viộc bảo vộ môi trường như một công cụ để hạn chế thương mại một cách không chính đáng. Trên tinh thần này, TBT đề ra nguyên tắc minh bạch hoá và không phân biệt đối xử khi xây dựng, thông qua và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật trong đó có
PHẨN TH Ứ NHẮT - CHƯƠNG V - LU Ậ T TM QT VÀ VẨN Đ Ế BÀO VỆ MÔI TRƯỜNG
các quy định, tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ môi trường.
Sau đó, vấn để môi trường, bảo vệ sức khoẻ của con người còn được thể hiện trong quyết định của Hội nghị Bộ trưởng GATT năm 1982, tiến hành rà soát lại các biện pháp cần thiết để kiểm soát việc cấm xuất khẩu các sản phẩm bị cấm trong nước. Quyết định này nhằm giải quyết mối lo ngại của các nước đang phát triển rằng các sản phẩm bị cấm ở các nước phát triển với lí do nguy hại đến sức khoẻ hoăc an toàn của con người, động thực vật hoặc ảnh hưởng đến môi trường vẫn tiếp tục được sản xuất tại các nước này và sau đó nhập khẩu vào các nước đang phát triển.
Ngoài ra, Hội nghị bộ trưởng năm 1990 đã thừa nhận sự ảnh hường lẫn nhau giữa vấn đề môi trường với thương mại và đă ra tuyên bô' nhấn mạnh ưu tiên đến mối quan hộ giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường. Hội nghị đã nhất trí giao cho nhóm EMIT nhiộm vụ hoạt động rộng hơn như: nghiên cứu các quy định thương mại trong các hiệp định đa phương về môi trường và so sánh chúng với các nguyên tắc và quy định của GATT; minh bạch hoá các quy định môi trường quốc gia có ảnh hưởng đến. thương mại; nghiên cứu tác động thương mại của các yêu cầu mới về bao gói và nhãn mác nhằm mục đích bảo vệ môi trường.
Từ năm 1991 đến năm 1994, Nhóm EM IT đã tiến hành nhiều nghiên cứu và thảo luận về thương mại và môi trường trong phạm vi các nước kí kết GATT.
Trên cơ sờ của các kết quả trên, tháng 4/1994, Quyết định Marrakesh về thương mại và môi trường đã được thông qua, trong đó nhấn mạnh rằng bảo vộ hệ thống thương mại đa phương và bảo vê môi trường, phát triển bén vững không
GIÁO TRÌNH LUẬT THUƠNG MẠI QUỐC TẾ
được mâu thuẫn với nhau. Tại vòng đàm phán Uruguay thành lập WTO, vấn đề môi trường đã được đưa vào nội dung của nhiều hiệp định của WTO.