Chương 3. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA - MỘT HƯỚNG CÁCH TÂN THI PHÁP THỂ LOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT
3.2. Phương thức huyền thoại hóa và trò chơi liên văn bản
3.2.3. Đối thoại mở giữa các văn bản
Theo Bakhtin: “Tiểu thuyết, bản thân nó là hết sức đa dạng và phức hợp. Đa âm hoặc liên văn bản, bởi vì nó đối thoại với các văn bản đồng thời, nó quan hệ với các văn bản khác” [7; tr.110]. Chúng ta dần phải thừa nhận rằng, không có gì nằm ngoài diễn ngôn, hay nói cách khác, diễn ngôn tạo nên tất cả. Khi đó, việc đối diện tác phẩm văn chương hiển nhiên luôn là những cuộc đối thoại. Đọc văn chương là tham gia vào một cuộc giao tiếp với rất nhiều khả năng kết nối.
Lẽ thường, việc đọc tác phẩm văn chương nói riêng hay thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật nói chung, công chúng thường để cho cảm xúc, suy tư của mình trôi theo những sự kiện trong tác phẩm. Tuy nhiên, khi việc đọc được hình dung một cách bài bản, có tính chuyên nghiệp, hướng đến việc hình dung đầy đủ hơn sự hiện diện của tác phẩm nghệ thuật trong đời sống, chúng ta buộc phải đặt ra cho mình nhiệm vụ: đối diện với tác phẩm và khả năng đối thoại từ việc đọc. Nhưng đọc tác phẩm văn chương không đơn thuần là việc đọc con chữ, đọc văn bản, theo dõi sự kiện, cảm xúc trong tác phẩm. Mà thực chất, chúng ta đang đối diện với một thực tại có tính toàn thể. Một tiểu thuyết hay truyện ngắn, bút ký, tản văn, bài thơ,... trước khi là một tác phẩm văn chương, một hiện tượng nghệ thuật, nó là một hiện tượng xã hội. Bởi vậy, đối diện với tác phẩm văn chương trước hết chúng ta phải đối diện với thực tại bao quanh nó. Và hình thức đối thoại, đa âm luôn được các nhà văn khai thác, vận dụng triệt để. Ở đó, con người vừa cố gắng đối thoại với chính bản thân mình, vừa đối thoại với nhân loại để tự hiểu chính mình. Khi đưa vào tác phẩm các vấn đề nhức nhối, nhà văn không chỉ nói lên trăn trở của mình mà còn làm nên một cuộc đối thoại giữa nhà văn - văn bản - độc giả. Phương thức huyền thoại hoá đã góp phần đắc lực trong việc diễn đạt những đối thoại này.
Trong hầu hết các sáng tác của mình, Tạ Duy Anh đã nói lên những vấn đề nhức nhối, sự thật đáng sợ, đáng ghê tởm của con người trong đời sống nhằm đối thoại lại với hiện thực cuộc sống, với những giá trị nhân đạo đã bị lãng quên. Con người hoàn toàn
trong vô vàn mối quan hệ đời thường để đối thoại lại với bản thân mình, xoáy sâu vào phần khuất lấp và bi kịch nội tâm, nơi có sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối. Tạ Duy Anh trong Đi tìm nhân vật đã đưa ra phần phụ lục gồm tự sự dân gian được trích dẫn nguyên vẹn: Rùa và thỏ, Trí khôn của tao đây, Tấm Cám, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ.
Có thể coi sự xâm nhập của bốn truyện cổ này vào tác phẩm như một sự đối thoại liên văn bản với thế giới cổ tích. Cùng với điều đó, nhà văn đã tạo ra hai cuộc đối thoại bên trong cấu trúc tác phẩm: thứ nhất là đối thoại của một văn bản tiểu thuyết giàu chất “hậu hiện đại” với những áng truyện cổ quen thuộc của người Việt; thứ hai là cuộc đối thoại của Chu Quý với các nhà khoa học có cái nhìn và cách lý giải truyền thống về các câu chuyện dân gian nói trên. Cuộc đối thoại thứ nhất thể hiện nỗ lực xâu chuỗi các tư tưởng trong trước tác dân gian để tìm ra cái gọi là “tư duy người Việt” của nhà văn Chu Quý và
“khảm ghép” chúng vào tư tưởng của tiểu thuyết. Cuộc đối thoại thứ hai tạo ra làn sóng phẫn nộ của một cách giải thích quen thuộc với một lối diễn dịch “ngược dòng” của con người hiện đại với những giá trị tưởng đã viên thành, bất biến. Cả hai cuộc đối thoại đều chưa đi đến một kết quả cuối cùng, song dư vị mà nó để lại thật đặc biệt, nó giống như một hòn đá ném xuống mặt ao yên tĩnh ngàn năm, đánh thức những điều tưởng đã “an bài” trong mỗi người. Trong cuộc sống, mọi thứ đều có thể và cần phải nhận thức lại, diễn dịch lại, ngay cả với những giá trị truyền thống tưởng đã ăn sâu vào tâm trí con người. Nó không phải hành động phá huỷ, mà thực chất là một hành động tái thiết - sự tái thiết của tư duy với những điều đã cũ mòn, xơ cứng và có nguy cơ trở thành giáo điều. Qua cuốn tiểu thuyết Đi tìm nhân vật, có thể thấy, khát vọng lớn nhất của nhân vật và của chính nhà văn là khát vọng tìm thấy chân lý nhưng không phải theo con đường có sẵn kẻ khác đã “vạch ra” như một thứ bẫy với chính mình.
Bên cạnh đó, để lý giải nỗi băn khoăn trên hành trình đi tìm nguồn gốc của bản thể, nhà văn đặt nhân vật trong mối quan hệ với quá khứ, nguồn cội. Và dưới góc độ lịch sử, sự thật được dần làm sáng tỏ. Đó là những câu chuyện lưu truyền trong ký ức dân gian được xem là căn cứ để giải mã những bí ẩn chìm sâu trong lớp bụi thời gian. Soi rọi từ góc nhìn liên văn bản, người đọc sẽ gọi dậy những ký ức về văn hoá, lịch sư nhằm kiến tạo và thụ hưởng quá khứ theo cách riêng của mình.
Làng Thổ Ô trong Giã biệt bóng tối vốn xưa nay yên bình là vậy, nay bỗng nhiên dậy sóng với hàng loạt những cái chết khó lý giải. Báo chí đưa tin, các nhà khoa học nhanh chóng tìm hiểu nguyên nhân sự việc. Nhưng tất cả đều bất lực. Bí ẩn đó chỉ được tiết lộ và hoá giải dưới lăng kính của lịch sử, của những câu chuyện tưởng như quá hoang đường. Cuộc sống của người dân làng Thổ Ô dường như được kết nối đặc biệt với những sự kiện liên quan đến quá khứ, đến lịch sử của tổ tiên. Đó là ngôi
mộ rỗng của lão cố nông và con cuột thành tinh, chuyện cuốn sách cổ nơi lưu giữ những điều ước. Cuộc sống của dân Thổ Ô bị xáo trộn bởi những ràng buộc trong quá khứ. Chỉ lời nguyền trong quá khứ được hoá giải, con người hiện tại mới mong tìm lại cuọc sống bình yên. Như vậy, từ cách nghĩ, cách viết sáng tạo và có phần táo bạo, Tạ Duy Anh đã mang đến cho người đọc những cảm nhận mới lạ về thể loại tiểu thuyết được viết theo lối hậu hiện đại. Người đọc bắt gặp trong tác phẩm sự dung hợp của nhiều thể loại, sự đan xen các yếu tố lịch sử và dã sử, hiện thực và huyền thoại. Các biến cố, các sự kiện lịch sử được soi rọi qua lăng kính dân gian, sau đó được nhà văn nhào nặn lại theo tư duy và quy luật nghệ thuật trở thành tiểu thuyết. Nhân vật Tạ Duy Anh hầu hết đều phải tự đấu tranh để giành lấy sự sống, tìm lại niềm tin và hy vọng ở cuộc đời.
Đối diện với tác phẩm văn chương còn là một cơ hội để thực hiện các khả năng đối thoại văn hoá với cộng đồng và cá nhân. Rõ ràng, khi tiếp cận tác phẩm, chúng ta đã tiếp cận với một văn bản văn hoá thu nhỏ, nơi đan dệt các truyền thống, lịch sử, ngôn ngữ, nhu cầu, thị hiếu hay các diễn biến vi mô khác thuộc về cá nhân.
Bởi vậy, những ám ảnh vô thức, những góc mờ khuất, những thông điệp ẩn giấu, qua đặc trưng phản ánh gián tiếp của diễn ngôn nghệ thuật mới có cư hội dần hé lộ.
Chẳng hạn, khi đọc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, chắc chắn sẽ hiện ra những đối thoại về cái kỳ ảo, huyền bí, kì dị, về không gian Linh Sơn, Linh Nham, Thái Nguyên, về những nhân vật dị dạng, về cái chết hay về giấc mơ, những bám đuổi ráo riết trong trí tưởng tượng của tác giả. Đáng lưu ý là tiểu thuyết Mình và họ, tác giả đã viết nên bản giao hưởng thời hậu chiến. Không chỉ vọng về giai điệu của ký ức chiến tranh, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng vang lên âm thanh xô bồ, đa tạp của đời sống hiện tại. Trong tác phẩm, nếu dòng hồi ức chiến tranh mang lại âm hưởng trầm buồn, da diết thì cái hiện tại hậu chiến được thể hiện bằng giọng dửng dưng, lạnh lùng, hờ hững đến vô can của nhân vật. Những mối quan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu tình - tiền, những mối tình tay ba, những câu chuyện làm ăn, đổi chác, những ghen tuông, bạo lực... như là khúc biến tấu của bản nhạc thời hậu chiến.
Chiến tranh nhường chỗ cho những vấn đề mới nảy sinh liên quan đến kinh tế, xã hội, chính trị như chuyện hàng hoá Tàu cung cấp cho người dân từ A tới Z, nhà nào cũng thấy hàng của họ, khéo rồi biến thành họ lúc nào không hay. Đồng thời, những nỗi đau chiến tranh vẫn vang âm dai dẳng bởi những sang chấn tinh thần trong hồi ức, ám ảnh. Trở về từ chiến trường với vết thương ở đầu và bi kịch hôn nhân tan vỡ, nhân vật Anh ngay càng rơi vào trạng thái trầm uất: “Anh khóc, nấc lên từng chặp, lật sấp người xuống, giãy đành đạch như cá bị vứt lên cạn” [140, tr.87]. Anh trở nên
mất trí đến mức đeo đá giả làm lựu đạn, khoác chéo thanh gỗ như súng, và luôn trong tư thế chuẩn bị chiến tranh... Như vậy, tiểu thuyết Mình và họ nhìn chiến tranh từ số phận cá nhân, nhà văn có cơ hội chất vấn lại chiến tranh một cách toàn diện, đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội đáng để suy ngẫm.
Hay khi đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, không thể không tạo lập những liên tưởng, những đối thoại với thời đại, cuộc chiến tranh, con người trong và sau cuộc chiến. Ở đó, có văn hoá cộng đồng, hệ giá trị của thời đại, dân tộc và có cả trải nghiệm văn hoá của bản thân chủ thể kiến tạo diễn ngôn. Do vậy, đọc văn chương, không gì khác là một cuộc đối thoại liên văn hoá, liên chủ thể.
Tóm lại, đối diện với tác phẩm văn chương trong tính chất tự thân của hành động đọc, sau mọi quy chiếu, thực ra là đối diện với chính mình. Người đọc, thông qua trung gian là văn bản, bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm tự ngã. Tất cả mọi vang động của lịch sử, xã hội, văn hoá, thẩm mỹ, có cơ hội được đối thoại hay không phụ thuộc vào tầm vóc, khả năng cũng như nhu cầu của chủ thể người đọc. Ở đó, thông qua trung giới là tác phẩm văn chương, thực tại nghệ thuật trong tính toàn thể của nó đối thoại với thực tại trong kinh nghiệm của chủ thể đọc. Đời sống của tác phẩm vì thế sẽ không ngừng được tái sinh, được kiến tạo. Mỗi lần đọc, mỗi lần đối diện tác phẩm là một lần chúng ta cấp nghĩa cho văn bản, làm nên thân phận và hành trình của tác phẩm.