Chương 3. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA - MỘT HƯỚNG CÁCH TÂN THI PHÁP THỂ LOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT
3.2. Phương thức huyền thoại hóa và trò chơi liên văn bản
3.2.1. Sự lồng ghép văn bản qua phương thức huyền thoại hóa
Tiểu thuyết giống như một ống kính vạn hoa, luôn chứa trong mình muôn hình vạn trạng những con người và cuộc đời khác nhau. Khi tìm đến tiểu thuyết, ta có thể bắt gặp mọi vấn đề cuộc sống như triết học, văn nghệ, chính trị, kinh tế, đạo đức, quân sự, văn hoá... Để làm được điều này đòi hỏi tiểu thuyết phải dung nạp trong mình tất cả các thể loại. Phương thức huyền thoại góp phần liên kết, lồng ghép các văn bản trong một chỉnh thể thống nhất của tác phẩm.
Đức Phật, nàng Savitri và Tôi của Hồ Anh Thái là một tác phẩm có kiểu kết cấu liên văn bản – đây là kiểu kết cấu đặc biệt nhất trong hệ thống kết cấu của tiểu
thuyết. Bên cạnh những tư liệu về lịch sử cổ đại, tiểu thuyết còn cung cấp cho độc giả những giáo điều trong tôn giáo Bà La Môn vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Kinh dục lạc, kinh Vệ Đà, kinh Upanishad,... cũng được tác giả khái quát và đưa vào trong tiểu thuyết của mình bên cạnh hệ thống các thần được người dân Ấn Độ thờ phụng như: Thần Sáng Tạo Brahma, thần Bảo Vệ Vishnu, thần Huỷ Diệt và Tái Tạo Shiva, nữ thần Ganga, thần chết Yama,... Hệ thống giai cấp Ấn Độ cổ đại được nhà văn dùng làm một chi tiết của truyện để từ đó làm nổi bật vấn đề tôn giáo Bà La Môn thời kỳ cổ đại với âm mưu thống trị cùng với những cư xử bá đạo của mình đã bị dân chúng chán ghét. Người ta cũng ngán ngẫm với hệ thống đẳng cấp truyền đời gông cùm cuộc đời của họ, dân chúng bất mãn với đẳng cấp giáo sĩ ngang ngược, ngạo mạn, dốt nát thường xuyên bày ra những cuộc tế lễ tốn kém để rồi bao nhiêu trâu, bò, cừu đều rơi vào tay tầng lớp giáo sĩ này. Bên cạnh đó, cuốn tiểu thuyết sử dụng rất nhiều tư liệu lịch sử Phật giáo cũng như những triết thuyết, giáo pháp của Phật, kinh điển Tiểu Thừa, Đại Thừa, các công trình nghiên cứu Ấn Độ cổ đại của các chuyên gia Anh và Đức nhằm xây dựng hình ảnh Đức Phật qua hình tượng một nhân vật lịch sử, một nhà hiền triết. Tuy tác phẩm chứa rất nhiều tư liệu về xã hội, tôn giáo, văn hoá nhưng các tư liệu này được tác giả trình bày một cách hợp lý, tuỳ vào từng văn cảnh cụ thể để nhân vật của tiểu thuyết trở thành một nhân vật văn học chứ không phải là một hình tượng của lịch sử. Lời tuyên thệ trong giáo lý Phật giáo được tác giả sử dụng nguyên văn tiếng Phạn sau đó được dịch ra tiếng Việt cũng là một thủ pháp độc đáo để vừa tạo được cái mới trong văn bản vừa khắc hoạ được tính trang trọng nhưng giản dị trong buổi lễ thu nhận khất sĩ: “- Buddham Saranam Gacchami/ Dhammaam Saranam Gaccchami/Buddham Saranam Gacchami” và “Đệ tử nương tựa Phật. Đệ tử nương tựa Pháp. Đệ tử nương tựa Tăng” [146; tr.24]. Như vậy, bản thân nhân vật Đức Phật là một huyền thoại nhưng khi đi vào tác phẩm, Đức Phật lại được huyền thoại hoá ở tầm vóc của một nhà tư tưởng, một triết gia. Hồ Anh Thái không tuân theo kiểu kết cấu truyền thống mà viết theo lối tự nhiên. Tiểu thuyết của tác giả hầu hết đều có sự kết nối với các văn bản ở những thể loại khác nhau. Có khi là một câu chuyện ngụ ngôn được nhà văn kể lại bằng giọng văn của mình như câu chuyện về nghĩa quân Tần Đắc trên đảo Cát Bạc trong tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo. Cũng có khi sự lồng ghép các văn bản được tác giả thực hiện bằng cách kể lại một tình huống trong một văn bản. Tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng sử dụng tình huống nàng Tiên Dung vây màn tắm, nước dội đến đâu, cát lấp Chữ Đồng Tử đang ẩn nấp tan ra để lại một cuộc gặp gỡ bất tử với thời gian. Từ tình huống trong văn học dân gian ấy, Hồ Anh
Thái đã xây dựng cuộc gặp gỡ giữa Trang và Toàn. Và từ đây tạo được dấu ấn lãng mạn trong tiểu thuyết thời kỳ hậu chiến tranh.
Với Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh lại chọn cho mình lối viết “hậu hiện đại”
bằng cách sử dụng thủ pháp lồng ghép với nhiều thể loại, nhiều tác giả, nhiều nhân vật luân phiên nhau giữ vị trị chủ đạo... Toàn bộ tác phẩm xoay quanh “một câu chuyện hoang đường” mang màu sắc liêu trai. Đó là câu chuyện về làng Thổ Ô với những sự kiện lạ lùng tạo nên biến động lớn chưa từng có mà “những người yếu bóng vía” chỉ mới nghe qua đã không khỏi rùng mình. Tác phẩm được tạo dựng thông qua những lát cắt về số phận nhân vật. Ngôi người kể thay đổi liên tục đi kèm những mốc thời gian với sự kiện xác định. Bên cách những đoạn văn mang tính tự truyện với sự xứng tên của nhân vật “Tôi” - tức người dẫn truyện, tác phẩm được kết cấu khá linh hoạt và sinh động với sự biến đổi và chuyển hoá không ngừng bởi sự đan xen của nhiều thủ pháp nghệ thuật tạo nên một “tấm lưới” hình thức vô cùng đa dạng và phong phú. Chuyện về làng Thổ Ô được tác giả giới thiệu ngắn gọn dưới dạng một bản tin báo chí với những tình tiết giật gân về hàng loạt những cái chết đầy bí ẩn gây xôn xao dư luận, khiến cả một đoàn cán bộ khoa học được điều xuống để nghiên cứu. Chưa có một kết luận nào khiến người ta yên lòng ngoài cách giải thích: do địch phá hoại. Tạ Duy Anh mang ống kính nhà báo soi rọi tất cả biểu hiện của đời sống để tìm ra chân tướng sự việc. Mỗi chương, mỗi phần của tác phẩm là một thông tin, một phóng sự nhỏ về ngôi miếu hoang, về cuốn sổ, về bóng ma con chuột thành tinh, về cuộc đời của ả cave, số phận của thằng Thượng... Những mảnh lắp ghép ấy, vừa có tính thời sự vừa đáng tin cậy đề làm sáng tỏ những bí mật trong bóng tối. Tác giả đã khéo léo lồng ghép số phận của các nhân vật với quá khứ của tổ tiên, chuyển hoá những chuyện có thật thành chuyện hoang đường và chuyện hoang đường thành ra như có thật để mọi thứ trở thành hư ảo, hỗn mang. Không chỉ vậy, trong những lần xuất hiện của “kẻ ẩn mình trong bóng tối”, thì dường như, mọi sự việc diễn ra dưới tầm kiểm soát của gã dàn dựng thành một vở kịch đặc sắc mà không ai xa lạ - chính gã là đạo diễn. “Màn mở chưa nhỉ. Bọn hậu cảnh đâu. Bọn nhắc vở đâu... đã đủ chưa? Tất cả phải như thật ấy nhé... Mày thấy không, chỉ có kịch mới giống như thật. Xem tao diễn đây.” [119; tr.210]. Có thể nói, cái làm nên thành công của Giã biệt bóng tối chính là sự đổi mới cấu trúc tiểu thuyết hiện đại với sự “đứt đoạn văn bản” mà người đọc nếu không đọc một cách liền mạch toàn bộ tác phẩm thì không thể nào nắm được cốt truyện của nó.
Ngoài ra, phải kể đến Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, với sự lồng ghép văn bản lịch sử, văn hoá, huyền thoại đã khiến tác phẩm bàng bạc sắc màu vừa hư, vừa thực.
Tác giả dựa vào “Đại Việt sử ký toàn thư” và huyền tích dân gian để dựng lên một bức tranh hoành tráng nhiều mảng màu đối chọi. Chàng trai trẻ Từ Lộ chất chứa oan khuất và khổ đau trải qua hai kiếp: một của Đạo Hạnh đại sư theo con đường tu luyện khổ ải, một của bậc đế vương Thần Tông ngập chìm trong hậu cung đầy cung phi mỹ nữ. Đan chéo vào hai kiếp của Đạo Hạnh - Thần Tông là cô cung nữ Ngạn La vừa hoang dại vừa quyến rũ, là sư bà Nhuệ Anh với cuộc đời trôi dạt...
Có thể thấy, sự xuất hiện của lý thuyết Liên văn bản vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XX đã góp thêm một phương thức hữu hiệu để khám phá cấu trúc bề sâu của văn bản tự sự. Bản chất của tác phẩm văn học không gì khác là sự xếp chồng các văn bản lại với nhau. Lý thuyết liên văn bản được vận dụng rộng rãi trong sáng tác của hầu hết các nhà văn hậu hiện đại. Đây cũng là một hướng tiếp cận mới trong sáng tác và nghiên cứu văn học.