Chương 4. SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC HÌNH THỨC VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HOÁ TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
4.4. Huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
4.4.1. Huyền thoại hóa trong xây dựng nhân vật
Nhân vật văn học là nơi biểu hiện tư tưởng quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, nó quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố thuộc hình thức tác phẩm.
Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đang trong xu thế cách tân nghệ thuật xây dựng nhân vật. Từ chỗ coi nhân vật như trung tâm của đời sống xã hội, phản ánh con người xã hội với những vấn đề lớn lao nhiều nhà văn đã quan tâm tới đời sống tâm lí - tâm linh của nhân vật, quan tâm tới nhân vật trong tư cách một cá nhân, một số phận cụ thể. Nỗ lực đổi mới của Nguyễn Bình Phương ở phương diện xây dựng nhân vật cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của phương thức huyền thoại hóa.
4.4.1.1. Sự mờ nhòe bí ẩn của nguồn gốc, chân dung, tính cách nhân vật Trong tiểu thuyết truyền thống, tên tuổi, diện mạo, nghề nghiệp nhân vật chính thường hiện lên rõ nét ở các góc độ khác nhau, tạo được ấn tượng khó quên trong lòng người đọc và khu biệt nhân vật này với nhân vật khác.
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương lại khác, nhân vật thường ít được miêu tả với hình thức hoàn chỉnh, nhưng đó cũng không phải là điểm nhấn tác giả muốn tạo ra, có những nhân vật không có tên mà chỉ là những cách gọi, cách kí hiệu “thằng trí thức”,
“hai mươi bảy vết thương”,... nghề nghiệp cũng không cụ thể rõ ràng. Tác giả không tập trung mô tả và tường thuật lại đời sống xã hội của một con người, nghĩa là không quan tâm nhiều đến việc tồn tại trong xã hội, quan hệ xã hội với những nhân vật khác, xung đột mâu thuẫn và giải quyết như thế nào. Điều mà tác giả quan tâm và phản ánh chính là thế giới tâm lí - tâm linh của nhân vật... Và phương thức huyền thoại hóa đã tham gia đắc lực cho việc thực hiện ý đồ sáng tạo của nhà văn.
Tiểu thuyết Người đi vắng được tác giả xây dựng với khá nhiều nhân vật có sự thiếu vắng về tinh thần, trạng thái cảm xúc... Thắng là một nhân vật như thế!
Mặc dù có miêu tả, công việc của Thắng ở cơ quan nhưng đều mờ nhạt, lỏng lẻo, ngoài việc anh ta là một trưởng ban thì không thấy có sự miêu tả Thắng làm công việc cụ thể gì. Những người cùng cơ quan Thắng như bà Hường, ông Hùng, Chung, Hà cũng không được nhà văn miêu tả về hình thức hay những xung đột về lợi ích,
về công việc mà để nhân vật cứ “tự” bộc lộ, Hà mang nỗi ám ảnh người nhà quê, Chung ám ảnh bị thiến…có những lúc tưởng như người này làm ảnh hưởng đến người kia thì cũng không thành xung đột và không cần hiểu rõ sự việc. Đó là khi lá thư của Chung phát ra tiếng nói, hàng đêm tủ đựng thư của Chung phát sáng, thì những người chứng kiến sự việc cũng không yêu cầu Chung giải thích. Dường như mỗi nhân vật tồn tại trong tác phẩm như Sơn, Yến, Cương, Kỷ cũng vậy, họ luôn được rọi ngắm, soi chiếu với những chi tiết dị thường. Sơn luôn ám ảnh bởi cái dàn compac để rồi tự hủy diệt mình bằng cái chết để giải thoát khỏi ám ảnh. Cương thì trở thành người thần kinh không bình thường tâm sự với bầy ngựa về nỗi ám ảnh tại nạn của Hoàn. Yến thì luôn ám ảnh không thể thoát khỏi mùi cồn... Đặc biệt là nhân vật Hoàn, xuất hiện từ đầu tác phẩm nhưng chỉ thực sự sống ở 67 trang đầu. Hoàn bị tai nạn và “chết dần” trong tác phẩm, cô đứng giữa sự sống và cái chết. Ở những trang đầu, cô là một cô gái xinh đẹp luôn khao khát yêu đương mãnh liệt nhưng khi bị tai nạn, cô bước vào cuộc sống thực vật, mở đôi mắt nhìn mọi người nhưng không tồn tại... Các nhân vật trong tiểu thuyết dần dần xa xôi, mờ nhạt dần, mất dần sau từng trang tiểu thuyết. Việc tác giả để nhân vật đi vắng, rồi không đẩy câu chuyện về cuộc đời mỗi nhân vật đi đến một đáp án cuối cùng và đặc biệt là làm lỏng lẻo mối quan hệ của các nhân vật trong tác phẩm cũng là một cách tạo ra không khí kì ảo trong truyện.
Ở Trí nhớ suy tàn dù nhân vật chính hay phụ cũng không có tên, chỉ là người đàn ông trên phố Bà Triệu, thằng trí thức, chủ cửa hiệu cầm đồ, con bướm, hai mươi bảy vết thương... Ngay cả nhân vật chính cũng trở thành người không tên, được tác giả gọi là Em, đó là một cô gái 26 tuổi, người Hà Nội thích hoa điệp vàng, có đi làm ở một cơ quan nào đó, từng yêu Tuấn và giờ đang có quan hệ thân thiết với Vũ. Tất cả câu chuyện là dòng chảy của trí nhớ, không có tính cách nhân vật, không có biến cố, chi tiết sự kiện chỉ là những kí ức mờ nhạt, rời rạc, vụn vặt đang dần suy tàn trong chính nhân vật Em… Nhân vật Em sống giữa xã hội nhưng dường như lại không tồn tại trong xã hội đó, nó có một thế giới của riêng mình. Tất cả giống như một giấc mơ không có thực đầy hư ảo. Chính vì vậy nhân vật trở nên phi tính cách, tác phẩm không đi tới cùng cuộc đời của nhân vật, khiến nhân vật không thể đi trọn một hành trình. Cho nên tác phẩm luôn gợi mở sự hồ nghi và tưởng tượng của người đọc về sự tồn tại của kiếp khác, cõi khác, sự sống khác đang đồng thời tồn tại với cuộc sống của con người?
Trong Thoạt kì thủy các nhân vật bị phân tán trở thành chủ thể phi trung tâm, những mảnh vỡ và không có lấy một nhân cách rõ ràng, không chút lờ mờ cá tính,
tất cả đều bị lẫn lộn vào và trở thành những kẻ dở khùng dở dại, hoặc là điên hoặc không điên thì cũng toàn hội chứng không bình thường. Đó là một ông Phước suốt ngày gặm đít chén cho đỡ nhớ rượu, một ông Phùng trốn quê nằm mơ giữa ban ngày chờ giải thưởng văn học, một Hiền chấp nhận cuộc hôn nhân với gã dở điên dở vật để trở thành một cái bóng khao khát không bến bờ, rồi những nhân vật đau đớn không lành lặn đến tội nghiệp như Bồi què, vợ chồng bà Xuân Toét, Xuân điếc, Kim quắc…Đặc biệt nhân vật Tính là dấu ấn sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Bình Phương. Tính có một cuộc đời điên loạn trọn vẹn, từ khi mới lọt lòng tới khi tự xọc dao vào cổ mình. Tính hiện lên với một tâm hồn khuyết tật, do tác động đa chiều.
Trong bụng mẹ, Tính đã bị hành hạ bởi những cú đạp của cha. Hắn chào đời cùng tiếng gặm đít chén lách cách ghê rợn, tuổi thơ không sách vở, đầy rẫy ám ảnh chết chóc, máu me, bạo lực. Tính xa tình yêu, xa cái đẹp, xa loài người. Những đoạn độc thoại nội tâm của Tính tạo nên sự hão huyền, những dòng vô thức lộn xộn đó như một dòng chảy không ngừng của ý thức, bản năng đã khơi gợi bản chất của nhân vật.
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả xây dựng nhân vật mất đi tính dục mà đấy chính là biểu hiện loài, để duy trì sự sống. Con người đánh mất đi tính người, chìm đắm trong bạo lực thì chẳng khác nào tự tách mình ra khỏi cộng đồng người để tự hủy diệt. Tính đã có mong muốn hủy diệt điên rồ: “Bao nhiêu là yết hầu. Họ phơi ra nhiều quá bố ạ.
Cho lão Khoa một nhát thì kêu…” [139; tr.77]. Tuy tâm lí của Tính không bình thường nhưng là một con người Tính cũng có những cung bậc cảm xúc, có những băn khoăn với điều diễn ra trong cuộc sống xung quanh: “ Bố còn gặm chén, không ai hiểu được…” [139; tr.25], có những rung động trước người con gái đẹp: “ Hiền có bả vai tròn. Tròn sáng quắc” [139; tr.45]…Việc khắc họa nhân vật Tính với vẻ điên loạn, nhà văn thể hiện lối viết mới mẻ, táo bạo, lí giải thế giới nội tâm đầy bí ẩn của con người. Dường như cuộc đời của mỗi con người là một hành trình gian khổ đấu tranh với cái bản năng để sâu thẳm tâm can là nỗi cô đơn, sợ hãi…
Tiêu biểu nhất là tiểu thuyết Ngồi, tác giả đã tập trung miêu tả nhân vật Khẩn với những biến đổi tâm lí phức tạp. Mở đầu tác phẩm là sự xuất hiện méo mó, lạnh lẽo, chết chóc của Khẩn: “Cúi xuống nhặt xác một con chim đã chết cứng lên ngắm nghía. Đó là con chèo bẻo màu ghi xám,ức trắng, mỏ đen bóng, các móng co thắt lại, đầu rụt sâu vào trong thân, hai cánh ép sát lườn nhưng đôi mắt vẫn mở trừng trừng… nhìn thấy hình bóng già nua của mình thấp thoáng trong đôi mắt chết ấy”
[138; tr.9]. Kết thúc tác phẩm là sự chiêm nghiệm của Khẩn giữa vòng xoáy cuộc đời, xuất hiện với dáng ngồi Thiền nhưng kết thúc tác phẩm lại là kẻ ngồi xổm vệ đường, cạnh cột đèn tín hiệu và soi mình xuống một vũng nước bẩn, ngồi tưởng đỡ
mệt nhưng lại rơi vào trạng thái không đi được, không đứng lên được. Nhân vật Khẩn được đặt trong một mối quan hệ giữa không gian hai chiều, một bên là thực tại, một bên là cõi tiềm thức nhạt nhòa của những giấc mơ. Khẩn ý thức được bản thân mình là vô nghĩa, cuộc sống xung quanh mình là sai trái nhưng chính anh cũng không thể nào thoát ra khỏi những ám ảnh đó. Con người bị xô đẩy bởi dòng chảy ào ạt của đời sống, bị chi phối bởi tiền bạc, quyền lực và tình dục. Và con người lại tìm về cõi vô thức, tiềm thức xa xôi. Chịu sự ám ảnh của quá khứ giấc mơ và cõi vô thức, nhân vật Khẩn mãi mãi quẩn quanh và theo đuổi lí tưởng của cõi mộng và xa rời cõi thực, sống bản năng buông thả và vô trách nhiệm với chính bản thân mình.
Khẩn luôn day dứt tìm kiếm vô vọng một giá trị hiện hữu cho cuộc sống của mình.
Nhân vật chênh vênh, chới với giữa dòng thiện ác, giữa bản năng và tính thiện, và chính lí tưởng cùng hình ảnh êm đềm thơ mộng của những giấc mơ đã giúp Khẩn không bị trượt dốc trước cuộc đời. Nhân vật Kim trong tác phẩm được nhắc đến như kỉ niệm trong kí ức của Khẩn nhưng cho đến cuối tác phẩm người đọc vẫn không chắc chắn được Kim đang tồn tại là quá khứ hay là ảo ảnh của Khẩn. Sự tồn tại của Kim, Khẩn và Kim yêu nhau như thế nào, tại sao lại rời xa nhau? Đó luôn là điều bí ẩn đối với độc giả. Dù vậy Kim vẫn luôn xuất hiện xuyên suốt tác phẩm như một điều không thể thiếu. Và chính điều đó khiến tác phẩm bàng bạc không khí huyền thoại, rất hấp dẫn. Nhân vật Quân lại được nhìn nhận ở khía cạnh khác, đó là nhân vật có thực, xuất hiện với việc ôm trọn 500 triệu đồng của cơ quan biến mất mà không ai biết. Cơ quan, người thân ráo riết đi tìm nhưng đều vô vọng. Không biết Quân đi đâu, ở đâu và làm gì nhưng hồn vía Quân vẫn lẩn khuất mọi nơi, lúc là con bướm, lúc là tiếng bước chân lội nước bì bõm... Người đọc không biết hơn gì về Quân và càng về cuối tác phẩm càng mờ nhạt dần. Chính việc dừng lại chứ không bám đuổi cho hết câu chuyện về mỗi nhân vật đã tạo nên cho tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương một biên độ lớn để dãn nở theo sự tưởng tượng của độc giả.
Nhân vật bị cắt đứt mọi ràng buộc về tiểu sử, nhân thân trở nên mờ ảo và bí ẩn. Nó tạo nên ấn tượng về những mối quan hệ phức tạp và huyền ảo của những kiếp nhân sinh, tạo cảm giác do dự, phân vân nơi người đọc.
Có thể nói, các nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường xuất hiện đột ngột, không xuất xứ, như vô tình ném ra giữa cuộc đời. Dường như họ chỉ là cái bóng của hiện thực, là những khuôn mặt tượng trưng cho một kiểu người nào đó trong xã hội. Ở họ luôn tiềm tàng nỗi cô đơn, lạc loài, tâm trạng hoài nghi trước cuộc sống, mất khả năng giao tiếp, khó hòa hợp với thế giới xung quanh. Nguyễn Bình Phương đã thành công trong hành trình đổi mới tiểu thuyết, nhân vật được xây
dựng dưới cái nhìn hậu hiện đại cho người đọc thấy rõ hơn hình ảnh con người đa chiều, đa dạng. Đó là những mảnh vỡ của cuộc sống không toàn vẹn, là những lát cắt của cuộc đời. Nhà văn không có ý can thiệp phân tích tâm lí nhân vật mà chỉ kể về những diễn biến tâm lí ấy. Từ đó thể hiện trọn vẹn những ước vọng, những nỗi bất an và những ám ảnh vô hình cất lên từ bên trong con người. Họ đã phá vỡ tính nhân quả trong chuỗi sự kiện, cho thấy những suy nghĩ khó đoán định của con người trong hiện thực đa tầng của cuộc sống.
Bên cạnh đó, nhân vật của Nguyễn Bình Phương luôn có những vật lộn giằng xé sâu trong tâm hồn, nhân vật nào cũng có một lần mơ. Giấc mơ phản ánh một phần đời sống hàng ngày của con người, mở ra một thế giới xa xăm nào đó về cõi vô thức sâu bên trong tâm hồn. Cái đáng nói ở đây là nhà văn diễn tả thế giới vô thức nhưng không bị rối rắm vào một mê cung của giấc mơ hay những điều hoang tưởng, ngược lại nhà văn lại làm cho người đọc như bị lạc vào mê cung của những điều đó. Nhân vật của Nguyễn Bình Phương được nhìn theo cái nhìn đa diện, và nếu như coi tác phẩm của Nguyễn Bình Phương là một bức tranh cuộc sống hiện thực xã hội hiện đại thì con người trong bức tranh đó chỉ là những nét phác thảo không rõ mặt mũi, chỉ nhìn thấy đó là những nét vẽ nguệch ngoạc, méo mó. Sự đan cài các yếu tố ý thức - tiềm thức - vô thức đã góp phần tạo nên tính cách phức tạp trong quá trình tác giả khắc họa nội tâm nhân vật, giúp người đọc có thể cảm nhận sâu sắc hơn, toàn diện hơn về đời sống tâm linh và tránh được cái nhìn phiến diện về tâm lí con người.
Như vậy, phương thức huyền thoại hóa chi phối đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương chính ở chỗ nhà văn đã làm nhân vật của mình trở nên trừu tượng, biến ảo. Tác giả không chủ tâm, dụng công vào việc tạo ra những nhân vật có tính cách rõ ràng hay điển hình, mà chủ yếu khắc họa nhân vật ở trạng thái tâm lí - tâm linh. Điều này đã giúp nhà văn cảm nhận sâu sắc tình trạng bất an, sự hoài nghi và bất lực của con người trước cuộc sống thực tại đa sắc màu.
4.4.1.2. Vận dụng thước đo huyền thoại để đánh giá nhân vật
Văn chương truyền thống đánh giá con người bằng một khuôn mẫu cố định.
Đã nói đến nhân vật là xem xét ở phương diện ngoại hình, tính cách, Nguyễn Bình Phương dường như không theo truyền thống ấy. Với cấu trúc huyền thoại, nhà văn có thể phiên lưu, khám phá thế giới nhân vật như là những mảnh vỡ của cuộc sống.
Đây cũng là một chiều thăm dò thực tại của nhà văn, là thước đo để đánh giá, nhìn nhận cuộc sống và con người.
Thế giới nhân vật của Nguyễn Bình Phương phần lớn là những con người của cuộc sống đời thường, không có khả năng gì quá đặc biệt, nhưng mang những điều
bất thường tạo nên tính kì ảo. Họ có thể được cấp cho một diện mạo khác thường, một tâm lí khác thường nhưng người đọc vẫn thấy rất bình thường, có thể chấp nhận được. Điều này Nguyễn Bình Phương chịu ảnh hưởng sâu sắc từ F.Kafka, A.Camus... Nếu nhân vật của Kafka một ngày tỉnh dậy thấy mình biến thành con gián thì việc mà anh ta quan tâm không phải là câu hỏi tại sao? Không thấy lo sợ và phi lí trước hiện tượng bất thường đó - theo cái tâm lí bình thường nhất của con người, ngược lại nhân vật chỉ lo làm sao có thể đi làm đúng giờ? Cái bất thường được chấp nhận như một cái bình thường, cái phi lí mà lại như có lí đó đã tạo nên sự huyền ảo cho tác phẩm. Hay như nhân vật Meurault trong Người xa lạ của A.Camus khi anh ta bắn chết người Arap, anh ta chỉ có thể lí giải ở tòa đó là vì mặt trời, anh ta luôn tin mình là người bình thường không phải là người “xa lạ”. Những ám ảnh và bất thường về mặt tâm lí của nhân vật đã khiến nhân vật trở nên kì ảo với người đọc.
Tính trong Thoạt kì thủy được nhà văn khắc họa đầy ám ảnh: “Cao 1 mét 68, nặng 56 ki - lô - gam. Tai dài, lưng dài, chân ngắn. Lông tay đỏ hồng, ngón không phân đốt.
Lông mày nhạt, hình vòng cung ôm nửa mắt. Tai nhỏ, mồm rộng, răng cải mả. Tiếng nói đục. Đi như vượn, ngồi như gấu. Không biết chữ.” [139; tr.8]. Tính hiện lên với những nét thô kệch, kì quặc. Nhà văn khiến chúng ta hoài nghi không biết hiện thực có tồn tại một người như vậy hay không? Đã thế Tính còn điên dại. Tính luôn sống giữa trạng thái điên và mộng. Định mệnh bắt Tính phải chống lại nỗi cô đơn của cả cõi đời khi Tính lớn lên không tình thương của cha mẹ: “Tính không quấn bố mẹ như những đứa trẻ khác.
Tính lê la một mình, bạ gì cũng cầm, bạ gì cũng liếm, cũng cho vào mồm” [139; tr.140].
Tính sống bơ vơ như một kẻ không nhà, không người thân thích, Tính mất dần đi ý nghĩa sống và cố gắng vẫy vùng. Tính muốn mọi người xung quanh biết đến sự tồn tại của mình nên phản ứng lại xã hội bằng những hành động man dại. Tính lớn lên yêu thích giết kiến, và công cống, được ông Điện dạy cho cách chọc tiết lợn, Hưng chỉ dạy Tính những hành động hiếu sát: mọc nanh cắn cổ, đốt trại tù binh... Tất cả bồi tụ cho tâm hồn Tính những cơn khát máu, hiển hiện trong giấc mơ, trong lời nói và chuyển hóa thành hành động man rợ: dùng kéo đâm chết thằng bé điên, dùng dao chọc tiết những con lợn trong xóm, và chọc tiết ông Khoa, cuối cùng giết chết chính mình - đỉnh ao của vô thức. Rõ ràng những vết tích trong đời sống, những kí ức, ấn tượng mà Tính đã trải qua luôn biến dạng, xáo trộn, chồng chéo lên nhau trong trạng thái mộng mị của Tính. Tuy sống giữa đời thực nhưng Tính luôn nửa tỉnh nửa mê: “Thế rồi động đất, mắt chó vàng như trăng, bom nổ lách tách lách tách từ mồm bố ghé vào miệng chén. Ông Tường chết văng ông Thụy chạy bở hơi tai, mẹ thì ngủ. Máu lênh láng thành nắng. Cây chết run, chết run”