Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.2. Khái niệm huyền thoại hoá và nguyên tắc thẩm mỹ
Tiếp cận khái niệm từ góc độ phương pháp sáng tác, phương thức huyền thoại hoá chính là công cụ tổ chức văn bản đem lại cho tác phẩm màu sắc huyền ảo, kỳ lạ, thu hút, lôi cuốn người đọc vào tác phẩm. Huyền thoại hoá, đồng thời cũng là phương tiện miêu tả ẩn dụ về thế giới, đem tới cho người đọc những cảm nhận hoặc quan niệm về thế giới thực tại của nhà văn. Nói một cách cụ thể, huyền thoại hoá giúp nhà văn thể hiện cảm quan của mình về hiện thực cuộc sống đang diễn ra trong xã hội hiện đại. Nhà văn kiến tạo nên huyền thoại văn chương trên huyền thoại nguyên mẫu gắn liền với vấn đề đương đại. Sự đan cài, trộn lẫn ảo - thực trong tác phẩm sẽ góp phần tạo nên sự lạ hóa và sức mê hoặc của hình tượng, và đó chính là sức hấp dẫn của các tác phẩm có yếu tố huyền thoại. Và trong suốt quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng cách hiểu này để tiếp cận và khám phá việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay.
Khi huyền thoại đã trở thành phương thức phản ánh, vậy nguyên tắc thẩm mỹ của phương thức ấy là gì? Các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu Việt Nam cũng đã có những tổng kết về đặc trưng của phương thức huyền thoại trong văn học.
Lại Nguyên Ân trong công trình 150 thuật ngữ văn học đã khái quát huyền thoại trong văn học thế kỷ XX bộc lộ ở ba dạng cơ bản: một là, tăng cường sử dụng các hình tượng và cốt truyện của thần thoại, do vậy xuất hiện rất nhiều những sự cách điệu hóa, dị bản hóa trên các đề tài đã từng có trong các thiên thần thoại ; hai là, xuất hiện tâm thế sáng tạo nên những huyền thoại in đậm dấu ấn tác giả, như, từ bỏ kinh nghiệm đời thường, từ bỏ tính xác định về thời gian và địa lý…; ba là, sáng tác những tác phẩm kiểu như “tiểu thuyết - huyền thoại” (roman - mythe) và các dạng tương tự: “kịch - huyền thoại”, “trường ca huyền thoại” [5; tr.159 - 160] .
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) đồng nghĩa “huyền thoại” với “huyền ảo” khi định nghĩa “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” là trào lưu văn học quan trọng của văn học châu Mỹ La tinh, xuất hiện vào
những năm 60 của thế kỷ XX: “Các nhà văn của trào lưu này thường mượn những truyền thuyết dân gian cổ xưa để tạo ra các huyền thoại mới về hiện thực xã hội châu Mỹ La tinh (…) Nguyên tắc sáng tác của nhà văn là “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực”. Để gây hiệu quả hoang đường, các tác giả thường “sử dụng hình tượng biểu trưng, ngụ ý, liên tưởng, ám thị, phóng đại, khoa trương, người và hồn ma bất phân, trật tự thời gian bị xáo trộn, thực và ảo hòa quyện” [34; tr.76].
Giữa khái niệm “huyền thoại” và “huyền ảo”, “kì ảo” về mặt bản chất có những điểm gần gũi, tương đồng, thậm chí trùng khít, tuy nhiên, chúng không thể thay thế nhau, bởi mỗi thuật ngữ có những sắc thái khác về nghĩa. Sắc thái nghĩa của "kỳ ảo" là
"kỳ lạ, tựa như không có thật, tựa như chỉ có trong tưởng tượng"[70, tr.654]. Nghĩa của
"huyền ảo" là "vừa như thực vừa như hư, như trong giấc mơ, kì lạ và bí ẩn" [70, tr.594]. "Huyền thoại" là "câu chuyện huyền hoặc, kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng"
[70, 594]. Như vậy, nghĩa của “huyền thoại” bao hàm cả sắc thái kỳ ảo, huyền ảo (chỉ tính chất, đặc điểm), thêm nữa, nó còn có thêm sắc thái nghĩa danh từ, là chủ thể, chứa đựng tính chất, đặc điểm. "Huyền thoại" chỉ là tính chất, đặc điểm, đó là phương thức để tạo ra (hoặc) sử dụng những yếu tố, tính chất trên. Luận án sử dụng khái niệm
"huyền thoại" như một phương thức phản ánh nghệ thuật và nó được tái sử dụng trên cơ sở của tư duy nghệ thuật mới nên được gọi là “huyền thoại hóa”.
Vì vậy, luận án xác lập nguyên tắc thẩm mỹ cho phương thức “huyền thoại hóa”
như sau:
Thứ nhất, yếu tố huyền thoại được xây dựng bằng những chất liệu của cuộc sống nhưng đã làm cho biến dạng đi và theo những quy luật khác với quy luật thông thường. Barthes cho rằng: “Một cái cây là một cái cây. Đúng thế, tất nhiên rồi.
Nhưng một cái cây mà Minou Dorouet nói đến thì đã lại không hoàn toàn là một cái cây, mà là một cái cây được trang trí” [8]. Huyền thoại có lẽ chỉ thực sự là huyền thoại khi người ta không dễ dàng nhận ra mối liên hệ giữa cái phản ánh và cái được phản ánh. Vì thế, huyền thoại mang tính khơi gợi. Và các nhà văn đã vận dụng đặc thù biến dạng của huyền thoại theo cách riêng, tác phẩm được xây dựng phức tạp với nhiều nhân vật, sự kiện, nhiều bình diện khác nhau mà mỗi người, từ hoàn cảnh của riêng mình có thể tìm thấy trong đó những ý nghĩa của hiện thực cuộc sống.
Điều này được tác giả Nguyễn Trường Lịch nhấn mạnh thêm: “Đối với các nhà văn, huyền thoại không tồn tại tự nó, họ dùng chúng như những hình tượng hoang đường để khắc họa quan niệm con người về cái thế giới mà nhà văn mô tả chứ không phải để giải thích hiện tượng nào đó cũng như diễn biến của chúng” [54].
Thứ hai, yếu tố hoang đường, kỳ ảo được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật
nhằm lạ hóa tác phẩm tạo nên không khí huyền thoại cho tác phẩm. Cái thực được diễn đạt qua cái ảo, cái bình thường được thể hiện bằng cái kỳ lạ, phi thường mà qua đó nhà văn bộc lộ một quan niệm sâu sắc về con người và đời sống. Nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được thể hiện bằng các yếu tố hoang đường, siêu nhiên, kỳ lạ. Nó là sự phản ứng trước những trật tự gò bó, cũ kĩ, làm lộ ra khả năng hoài nghi đối với lí trí thuần túy kiểm soát được. Nói như Roger Caillois: “Mọi cái kỳ ảo đều là một sự vi phạm trật tự quen thuộc, một sự đảo lộn của cái không thể tiếp nhận được trong lòng những quy luật bất biến của đời thường”, nó phản ánh “một sự đụng chạm, một chỗ nứt rạn, một sự tràn ngập đột ngột gần như không chịu đựng nổi trong thế giới thực tại” [3].
Hay Lê Nguyên Long cho rằng: “Cái kỳ ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lý tính từ điểm nhìn của chúng ta với tầm nhận thức thực tại” [106]. Bằng những biện pháp ẩn dụ, tượng trưng, ám thị, những thủ pháp lạ hóa,... các nhà văn đã tạo ra cho mình một thế giới huyền thoại riêng - huyền thoại của thời hiện đại.
Có thể nói, với tư cách như một thi pháp nghệ thuật, huyền thoại hóa bao giờ cũng có sự pha trộn giữa thực - ảo. Việc sử dụng yếu tố huyền thoại làm cho thế giới không diễn ra trên một mặt phẳng mà nhiều chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng.
Thứ ba, huyền thoại đòi hỏi phải được giải mã. Cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương sâu sắc được xây dựng theo phương thức huyền thoại không hiện ra ngay trên bề mặt con chữ, mà “cần phải giải mã mới tìm ra được ẩn ý” [87].
Huyền thoại mang tính biểu trưng cao, đặc biệt, sức biểu cảm của nhân vật, do không giới hạn bởi những quy luật tâm lý hoặc quy luật xã hội thông thường nên có khả năng gợi suy diễn của bạn đọc, tới mức còn cao hơn biểu tượng. Lối viết có khả năng gợi lên nhiều tầng ý nghĩa, gợi lên những giải mã khác nhau ở người đọc, độc giả có thể thả trí tưởng tượng của mình vào một trò chơi rộng mở và sâu thẳm.
Đặc trưng trong tư duy huyền thoại, đó là mối liên hệ thần bí giữa các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, tiêu biểu cho lý do trở về của huyền thoại trong bối cảnh hiện đại, thể hiện rõ nhất ở khía cạnh huyền thoại đã thực sự trở thành một phương tiện biểu hiện để xây dựng nên một thế giới nghệ thuật có khả năng phản ánh những góc khuất bí ẩn của tâm linh con người. Nói như tác giả Song Mộc trong lời dẫn giới thiệu công trình Thi pháp huyền thoại đã cho rằng: “Trong thế kỉ XX, mặc dù khoa học có tốc độ phát triển như vũ bão nhưng không loại bỏ hoàn toàn được huyền thoại, như các nhà thực chứng thế kỉ XIX từng kì vọng. Lý do trước hết vì khoa học không giải quyết những vấn đề trừu tượng chung như ý nghĩa của cuộc sống, mục đích của lịch sử, bí ẩn của cái chết… trong khi huyền thoại hướng tới giải quyết những vấn đề nan giải đó thông qua những cái dễ giải quyết hơn và dễ hiểu hơn” [60]. Hay nói cách khác, trong
bối cảnh hiện đại, với phương thức huyền thoại hóa, các nhà văn tiếp cận, lý giải được những hiện tượng phức tạp về ý thức, cả trong vô thức, tiềm thức của con người.
Từ đó dẫn đến nguyên tắc thẩm mỹ thứ tư của phương thức huyền thoại hóa đó là dùng huyền thoại để chuyển tải thông điệp đương đại. Có điều, thông điệp ấy không hiện lên qua những lời trữ tình thống thiết mà hiện lên trong một cấu trúc phân mảnh, hỗn độn và phi lí. Thế giới hiện đại không hiện lên như một miền đất hứa và cũng không ngọt ngào như cổ tích mà chua chát, đầy rẫy những nghịch lí. Sự
“lổn nhổn” một cách cố ý ấy cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Đó là cách dựng trò chơi của người nghệ sĩ nhằm phá vỡ những giấc mơ đại tự sự vốn ngự trị trong tư duy tiểu thuyết qua hàng thế kỉ. Và các tác giả bằng cách này hay cách khác, xây dựng nhân vật này hay nhân vật khác, mục đích cũng là đem đến cho độc giả những thông điệp nghệ thuật. Đó có thể là những quan điểm, cách nhìn nhận, những tâm sự của tác giả đối với thời đại, con người và xã hội, hay cũng có thể là lời nhắn gửi của các tác giả đối với mai sau…
Tóm lại, huyền thoại có những đặc trưng tư duy riêng biệt và hành trình của huyền thoại đến với thế giới của văn học là một chặng đường dài. Mỗi giai đoạn, mối quan hệ giữa văn học và huyền thoại được biểu hiện theo những định hướng thẩm mỹ khác nhau. Huyền thoại thấm đượm trong văn học dân gian, văn học viết và nó trở thành thi pháp sáng tác hết sức quan trọng trong văn học nghệ thuật. Các nhà văn tiếp cận ngày càng nhiều thi pháp huyền thoại trong sáng tác của họ, đó là sức hấp dẫn của văn học với thi pháp huyền thoại hóa ngày nay.
Tiểu kết
Nhìn chung, từ thế kỷ XIX, trên thế giới, huyền thoại đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhiều trường phái. Hệ quả là hình thành nhiều quan niệm khác nhau về huyền thoại và cho đến nay tuy chưa có một cách hiểu thống nhất nhưng định nghĩa về nó cũng đã được giới nghiên cứu phân tích kĩ càng. Ở Việt Nam, các công trình, lý thuyết được dịch, in trong nước cho thấy việc giới thuyết về huyền thoại vốn thu hút sự quan tâm của các nhà phê bình nghiên cứu và độc giả. Nhờ vậy, các tác phẩm văn học được sáng tác theo phương thức huyền thoại hóa ngày càng được tiếp cận, khám phá và đánh giá một cách khoa học, thuyết phục hơn.
Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay đã đi vào một bước ngoặt quan trọng cả về phương diện nội dung lẫn phương diện nghệ thuật. Hiện tượng này đã được quan tâm đánh giá từ nhiều phía, với sự vận dụng nhiều lý thuyết nghiên cứu khác nhau, trong đó việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa là một trong những lựa chọn của các nhà văn. Có thể kể đến những tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Xuân Khánh... Đặc biệt, các tác giả Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương đã tỏ rõ sự “ưu tiên” trong khai thác và vận dụng phương thức huyền thoại ở tác phẩm của mình. Phương thức này dường như đã trở thành tư duy nghệ thuật của các nhà văn, tạo nên bầu khí quyển “huyền ảo” trong hầu khắp các sáng tác, tạo nên hiệu quả thẩm mĩ tích cực. Và đó cũng chính là sự nỗ lực trên hành trình sáng tạo của những cây bút giàu tiềm năng. Họ đã và đang đóng góp đáng kể tạo nên diện mạo mới cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Trên cơ sở tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay, luận án đã xây dựng điểm tựa lý thuyết để đánh giá một cách khoa học, ý nghĩa và những thành công của tiểu thuyết Việt Nam đương đại khi vận dụng phương thức huyền thoại hóa. Và những thành công ấy sẽ được luận án triển khai cụ thể ở những chương tiếp theo.
Chương 2