Xây dựng thế giới biểu tượng

Một phần của tài liệu luan an ncs nguyen thi thuy 20221209053005 e 2326 (Trang 140 - 144)

Chương 4. SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC HÌNH THỨC VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HOÁ TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU

4.3. Huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

4.3.2. Xây dựng thế giới biểu tượng

Biểu tượng (symbol) là một yếu tố gồm hai mặt: cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Mối quan hệ giữa hai mặt này là mối quan hệ có lí do. Ý nghĩa của một mẫu gốc – một biểu tượng không nằm trong vô số những hình ảnh tồn tại nhất thời mang tính cảm tính và cá biệt của chúng. Xuất phát từ những sự vật cụ thể nhưng biểu tượng không phải là sự vật cụ thể đó mà là sự tri nhận của con người về đối tượng.

Biểu tượng chính là toàn bộ những đặc điểm bản thể của đối tượng có khả năng gợi lên một ý nghĩa rộng hơn trong nhận thức của con người ở cả chiều sâu vô thức và sự soi tỏ của ý thức. Bản thân biểu tượng văn học luôn là biểu tượng phi vật thể. Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Hồ Anh Thái có ý thức tạo dựng một thế giới vừa giống thực bằng những chi tiết ngỡ nhặt được từ đời sống ồn tạp vừa tạo nên một thế giới ngập đầy những biểu tượng. Thông điệp của nhà văn không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy chất ảo” [145; tr.369]. Cũng bởi vậy mà văn của ông có độ mở, để lại được dư âm lâu dài trong lòng người đọc.

Hồ Anh Thái là nhà văn thích sử dụng biểu tượng để gửi gắm những trăn trở

của mình vào tác phẩm. Trong hệ thống biểu tượng mà ông sử dụng, nổi bật là các biểu tượng mượn từ truyện dân gian hoặc truyền thuyết. Nhân vật Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế là biểu tượng cho sự bất diệt của cái Thiện trong cuộc đời với sứ mệnh của một thiên sứ: đi trừng trị cái Ác trên thế gian: “Nó (Mai Trừng) xinh đẹp lạ lùng. Một thứ tiên nữ giáng xuống làm người trần...Càng lớn, Mai Trừng càng hiểu ra rằng ở mình có một nguồn nhân điện chết người đối với kẻ muốn gây điều ác” [145; tr.207]. Biểu tượng này có motif từ Tiên, Phật giả làm ngươi hành khất để giúp đỡ người tốt và trừng phạt kẻ ác trong cuộc đời, khá quen thuộc và phổ biến ở truyện dân gian. Tuy nhiên, Hồ Anh Thái vay mượn biểu tượng một cách sáng tạo trong tác phẩm của mình. Nếu những Tiên, Phật thường mang dáng vẻ nghèo khổ, xấu xí để thử lòng người, phân biệt người tốt, xấu thì nhân vật Mai Trừng lại xinh đẹp, hấp dẫn. Chính vẻ đẹp kì lạ của cô lại là thanh nam châm hút tất cả những cái xấu xa, độc ác xug quanh, bắt chúng phải đền tội. Mai Trừng không phải là Tiên, Phật, cô chỉ là một người bình thường nhưng phải chịu lời nguyền của cha mẹ. Lời nguyền đó biến cô thành một thiên sứ giữa cuộc đời. Tuy nhiên, Mai Trừng xuất hiện trong tác phẩm với tư cách là nhân vật tiểu thuyết, không phải với tư cách nhân vật chức năng. Tính chất kì ảo của biểu tượng vừa bảo vệ nhân vật trước kẻ xấu và chính nó cũng ngăn Mai Trừng đến với hạnh phúc. Hồ Anh Thái đã chọn cách hóa giải lời nguyền cho nhân vật. Mai Trừng đã trở lại làm người bình thường, chấp nhận mọi rủi ro, hạnh phúc của người bình thường. Phải chăng tác giả đã giải thiêng cho biểu tượng của chính mình?

Thế giới của Đức Phật, nàng Savitri và tôi là thế giới của những biểu tượng được vay mượn từ truyền thuyết cổ đại Ấn Độ, qua đó nhà văn đưa người đọc đến với cuộc đời Đức Phật. Nàng Savitri trong tác phẩm là biểu tượng của sự thủy chung, trọn vẹn, có nguyên mẫu từ nàng công chúa Savitri thuyết phục được thần chết Yama cho chồng sống lại bằng sự thông minh, vị tha của mình. Hoàng tử Siddhttha - Đức Phật cũng là một biểu tượng, biểu tượng của sự giác ngộ chân lý, giác ngộ con đường chấm dứt mọi khổ đau:

“Khi chàng nhìn thấy tất cả những điều này, bóng tối bị xua tan trong trí não chàng. Cả cơ thể chàng dường như đều tỏa sáng, vầng ánh sáng trí tuệ. Chàng không còn là một con người bình thường nữa. Chàng đã được khai minh. Giờ đây chàng là Buddha - Người Giác Ngộ... Người bình thản đứng dậy, cười rạng rỡ. Mặt trời mọc ở đằng đông”

[146; tr.179]. Bên cạnh đó, nhà văn còn khai thác các biểu tượng trong kinh Phật để làm nổi bật giáo lý nhà Phật như biểu tượng khất thực - khơi gợi lòng trắc ẩn và tinh thần bình đẳng, biểu tượng máu và nước - giải hòa tranh chấp giữa hai bộ tộc, biểu tượng ăn chay - tuyên bố tình thương với mọi sinh linh, biểu tượng thử vàng - phương pháp tìm

chân lý của Đức Phật.

Sáng tạo lại trên cơ sở vay mượn biểu tượng trong truyện cổ dân gian kết hợp với thủ pháp sử dụng yếu tố kì ảo đã giúp Hồ Anh Thái kiến tạo những hình thức kết cấu lạ, giàu sức gợi. Qua đó, phạm vi đời sống được mở rộng hơn nhiều, con người được nhìn nhận trong thế giới đa chiều phức tạp.

Bên cạnh đó, Hồ Anh Thái còn sử dụng những biểu tượng mang tính đa nghĩa. Nghĩa là biểu tượng xuất hiện trong những không gian - thời gian khác nhau lại mang những ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Ở thời điểm này, biểu tượng có ý nghĩa chỉ nguyên nhân, cái chưa hình thành, ở một thời điểm khác, nó lại là kết quả, cái tất yếu phải xảy ra. Trong không gian thực, biểu tượng định hướng tương lai nhưng trong không gian của những giấc mơ - không gian huyền ảo, biểu tượng lại hướng về quá khứ. Đối với quá khứ, biểu tượng là sức mạnh, trong khi đó đối với hiện tại và tương lai, biểu tượng trở thành tàn tích còn rơi rớt. Kết cấu tác phẩm vì thế được mở rộng giới hạn và biên độ. Tiếng chuông chùa xuất hiện ba lần trong Cõi người rung chuông tận thế cũng là một biểu tượng mang tính lưỡng phân.

Trong tiềm thức của nhân vật Đông, tiếng chuông chùa là sự báo hiệu của ngày tận thế cho kiếp nhân sinh: “Tôi choàng tỉnh dậy lúc gần sáng. Tiếng chuông chùa rung.

Một tiếng chuông lớn và những tiếng chuông con. Một bản hòa âm những tiếng chuông xôn xao, phấp phỏng vang động những lời cảnh báo... Chuông báo ngày tận thế rồi chăng?” [145; tr.189]. Trong đám ma bác Giềng, tiếng chuông cầu siêu của sư bà lại sự đồng vọng của chút tình người, dù đầy xót xa và trăn trở với mong muốn cầu siêu cho linh hồn người đã khuất. Ở cuối tác phẩm, tiếng chuông chùa lại trở thành lời cảnh báo đối với những con người chưa thức tỉnh, còn mang trong mình những hận thù, những mưu mô hiểm ác: “Bất đồ chuông chùa rung thảng thốt.

Chuông rung hoảng loạn... Chuông giận dữ đổ ập vào không gian. Cả cõi người sụp xuống dưới một cơn mưa kim loại. Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại” [145; tr.237]. Những tầng ý nhĩa mở ra vô biên.

Biểu tượng màn sương hồng trong Trong sương hồng hiện ra cũng là một biểu tượng có tính đa nghĩa. Xuất hiện rải rác khắp các tác phẩm, màn sương hồng chính là cánh cửa thời gian đưa Tân từ hiện tại về quá khứ và ngược lại: “Một làn sương hồng từ từ kéo ngang qua mặt sông, che khuất dần cảnh vật... sương hồng phủ lên bãi cát phẳng lặng lúc tinh mơ, chưa có một bàn chân nào tàn nhẫn giày lên” [143; tr.218], hay: “Một màn sương hồng kéo qua, che lấp tất cả cảnh sắc rực rỡ của mùa thu. Sau màn sương ấy lại thấy thấp thoáng bóng người đi qua bãi cát, dựng lều bạt và bắt đầu đào bới” [143; tr.384]. Dường như màn sương hồng chỉ

xuất hiện khi Tân rơi vào trạng thái hôn mê và bắt đầu tỉnh lại. Cảnh vật trước và sau màn sương hồng được bố trí phân lớp, phân màn tương ứng với mỗi giai đoạn của Tân ở quá khứ không chỉ là những giá trị tinh thần thiêng liêng, đẹp đẽ của một thời đại anh hùng, của những con người mang trong mình những lý tưởng tốt đẹp, dám xả thân vì đất nước, mà còn có cả những toan tính, những sai lầm, những thói tật của cuộc sống thường nhật đáng phê phán và lên án... Tất cả được phủ lên một màn sương lung linh, mờ ảo. Đã đến lúc cần xuyên qua màn sương hồng để khẳng định lại tất cả, để nhận thức lại đầy đủ sự thật.

Sự xuất hiện của các cặp biểu tượng đối lập trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc biểu hiện kết cấu bề sâu của tác phẩm. Chủ yếu là cặp biểu tượng về giá trị: cái Thiện và cái Ác, cái Đẹp và cái Xấu, cái Cao cả và cái Thấp hèn. Cặp biểu tượng này thể hiện ở hình tượng các tuyến nhân vật đối lập nhau. Trong SBC là săn bắt chuột, Hồ Anh Thái đã dựng lên rất nhiều bức chân dung biếm họa, là những biểu tượng cho cái Xấu, cái Thấp hèn trong xã hội hiện đại, ô tạp. Từ một cô Báo bản năng nông nổi phu phiếm, “gặp ai cũng rủ lên giường làm thơ”, một Đại gia lần đầu gặp “gái nào cũng giằn ra ngay” không cầm lòng được, cho đến một ông Giáo sư “hễ có nữ sinh nào đến nhà là đều kết thúc trên chiến giường hướng dẫn luận văn”. Bản năng tính dục của cô Báo có cái vẻ hồn nhiên hoang dại của một con cái không bị xã hội người rằng buộc. Còn Đại gia, cất công lập kế hoạch tỉ mỉ thu xếp êm xuôi mấy cô bồ nhí sống cùng khu nhà với mình mà chẳng ai biết ai. Đại gia mua tình bằng tiền và trả rất hào phóng.

Khí chất giang hồ kết hợp với khí chất con buôn. Trong các cô bồ nhí của Đại gia có một cô rất đặc biệt – từ cô thôn nữ lành hiền, hồn nhiên đi nhặt nhạnh kim tiêm tránh họa cho dân làng đã trở thành gái bao của Đại gia vì cảm cái ơn ông cho mình ăn học, làm ‘hoa hậu kim tiêm’ và có căn hộ thành phố. Có một ông Cốp thời trai trẻ, thông minh, hoạt bát, hát hay, múa, giỏi cương quyết, có ý chí, say sưa với rừng, dũng cảm bảo vệ rừng, để rồi từng bước leo lên bậc thang danh vọng từ một cán bộ Đoàn, khéo léo gạt bỏ đối thủ bằng thủ đoạn khôn ngoan

“chiến thắng bao giờ cũng thuộc về người biết giữ mồm giữ miệng, không để lộ mình bằng câu nói bằng văn bản” [147; tr.130].

Dựng lên các hạng người là biểu tượng của cái xấu, cái thấp hèn trong xã hội, Hồ Anh Thái cũng không quên thể hiện niềm tin vào cái thiện, sự chiến thắng của cái cao cả trong biểu tượng tình yêu giữa Chàng và Nàng. Ba mươi tám tuổi, Nàng chưa có mảnh tình vắt vai. Vì quá thông minh, quá nhạy cảm hay vì thiếu may mắn, chưa gặp được người trong mộng. Cho đến khi Chàng hiệp sĩ xuất hiện, đưa Nàng thoát khỏi trật

lụt kinh hoàng, cứu Nàng thua trông thấy ở hội nghị đối tác. Và vì tình yêu với Chàng mà Nàng đã dốc hết tâm sức bắt sống Chuột Trùm giải thoát cho Chàng và những nhân vật khác thoát khỏi trạng thái mất trọng lượng. Hình ảnh Chàng bế Nàng trên bãi cát sông Hồng là hình đẹp về tình yêu, về sức mạnh của tình yêu có thể giúp con người vượt lên trên cái xấu xa, thấp hèn. Sự đối lập giữa biểu tượng tình yêu của Chàng với Nàng và những hạng người xấu xa, và kết quả cưới cùng đã khẳng định sự chiến thắng tuyệt đối của tình người, của tình yêu, của cái cao cả.

Trong hành trình kể chuyện cuộc đời Đức Phật trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, nhân vật Savatri đưa người đọc đến với cặp biểu tượng cung điện (nơi hoàng tử Siddhattha sống lúc còn trẻ) và cây bồ đề hay còn gọi là cây giác ngộ (nơi Siddhattha trở thành Đức Phật). Nếu cung điện là nơi che khuất tầm mắt của hoàng tử về mọi sự việc đang diễn ra ở kiếp người, là nơi hoàng tử sống cuộc đời của mọi con người bình, chưa giác ngộ, thì cây bồ đề lại là nơi hoàng tử tìm thấy chân lý, giác ngộ thành Phật. Nếu cung điện là sự giàu sang, đầy cám giỗ, mê muội, thì cây bồ đề là sự khổ hạnh, thoát tục. Hai biểu tượng xuất hiện ở hai thời điểm, hai giai đoạn khác nhau của cuộc đời Đức Phật đã khái quát sự vận động của hình tượng, mở râ những tuyến sự kiện đa dạng.

Như vậy, hệ thống biểu tượng đậm màu sắc kỳ ảo trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái vừa tạo ra ý nghĩa cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm vừa mở rộng kết cấu cả ở bề rộng lẫn chiều sâu. Các biểu tượng này thực sự là điểm sáng quy tụ và liên kết các lớp hình tượng khác nhau, những bình diện nội dung tư tưởng khác nhau, đặt ra vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Có thể nói, Hồ Anh Thái đã vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tác phẩm của mình cách linh hoạt, đa dạng. Đó là một thế giới đa chiều, đầy biến ảo chất chứa những điều phi lý, bất ngờ, ngẫu nhiên. Sự đan xen hư – thực đó tạo nên hiệu quả nghệ thuật độc đáo. Với hệ thống biểu tượng đầy chất ảo, nhà văn đã đưa đến cho người đọc những liên tưởng thú vị. Bằng tài năng của mình, Hồ Anh Thái dần khẳng định vị trí trên văn đàn, mang lại cho đời sống văn học một luồng sinh khí mới đầy mê hoặc.

Một phần của tài liệu luan an ncs nguyen thi thuy 20221209053005 e 2326 (Trang 140 - 144)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(180 trang)