Chương 2. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA ĐỂ NÂNG
2.1. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
2.2.3. Một chỉ dấu vượt thoát mô hình phản ánh cổ điển
Với cảm thức hậu hiện đại, các nhà văn Việt Nam đều thấy rằng thời ta sống chính là “thời của tiểu thuyết” và họ đang có cơ hội tuyệt vời để sáng tác nên những tiểu thuyết hiện đại đúng nghĩa. Sứ mệnh văn học với tính thực dụng chính trị trước đây đã không còn phù hợp nữa. Các nhà văn cảm thấy nhạt hứng thú đối với một kiểu sáng tác công thức, cổ điển không cho người ta thấy hết sự thực của cuộc đời, Họ bắt đầu có những tìm tòi, thể nghiệm mới. Và các sáng tác có chứa yếu tố huyền thoại, kỳ ảo đã đưa đến những khẩu vị thẩm mỹ mới lạ. Chí ít, nó tạo nên sự ma mị cho tác phẩm, khiến độc giả cuốn hút, mê say.
Vận dụng phương thức huyền thoại hoá trong sáng tác đã thể hiện sự trưởng thành của nhà văn trong việc tiếp thu kho tàng văn hoá, văn học nhân loại. Nó cho
thấy nhà văn đã hiểu được bản chất cốt tử của văn học là thường chọn lối đi riêng để khám phá, mở rộng biên độ tưởng tượng cho con người. Và quan trọng hơn, nó chỉ báo về một cách tiếp cận hiện thực mới. Có thể phương thức huyền thoại hoá chưa hẳn là sự lựa chọn tối ưu, mới chỉ là chỉ dấu, nhưng nó có ý nghĩa đập vỡ một thói quen, một quán tính sáng tác, vượt thoát mô hình phản ánh cổ điển để mở đường cho những tìm tòi mới phong phú, đa dạng hơn.
Phạm Thị Hoài với cuốn tiểu thuyết Thiên sứ đã đem đến cho người đọc những dư vị mới. Nhà văn sử dụng phương thức huyền thoại hoá để thể hiện cảm quan về hiện tại và ẩn dấu những mơ ước cho tương lai. Nhân vật bé Hon là một câu chuyện cổ tích về tình yêu. Nụ cười cầu hoà và đôi môi ban phát tình yêu của bé Hon đã thắp sáng ngọn lửa yêu thương tưởng chừng đã khô cứng trong những tâm hồn người ở thế giới văn minh như gia đình Hoài. Đặc biệt, tình yêu ấy đã cải hoá được Hạc từ kẻ ngỗ ngược trở nên mềm yếu và thân thiện. Tuy nhiên, thế giới cổ tích không có chỗ ở cuộc sống hiện đại. Những giây phút hạnh phúc mà bé Hon tạo ra cũng qua nhanh và bất ngờ như người ta đánh mất chính mình vậy. Những người trong gia đình Hoài hồ hởi đón nhận môi hôn của bé như thế nào thì cũng dễ dàng từ chối bé như thế: “Ra chỗ khác, thơm với tho gì, không kịp mở mắt đây này!”
[126, tr.86]. Dường như hiện thực xô bồ, bề bộn đã không cho phép con người ta dừng lại để đón nhận tình yêu ấy. Xây dựng nên huyền thoại bé Hon, tác giả Phạm Thị Hoài phơi bày hiện thực đầy bi đát khi con người đang đánh mất dần bản lai diện mục của mình. Nhà văn không kể chuyện cổ tích. Bà mượn huyền thoại như một phương tiện để thể hiện cảm nhận đầy lo âu trước thực trạng đáng buồn. Huyền thoại bé Hon là thể nghiệm của Phạm Thị Hoài về sự tồn tại của tình yêu giữa cuộc đời. Thế giới hiện thực không có chỗ cho tình yêu và sự giảng hoà. Thế giới ấy đang đổ vỡ, mọi quan hệ đang rạn nứt...
Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại tạo nên những trang viết có sức ám ảnh mạnh mẽ về chiến tranh bom đạn. Chiến tranh không chỉ có những thắng lợi hào hùng, rực rỡ mà còn có máu và nước mắt, còn là số phận bi thảm của biết bao nhiêu kiếp người. Chỉ có điều nhà văn không phát biểu bằng một thứ triết lý khô khan, giáo điều mà bằng hình tượng văn học độc đáo, phủ một màn sương kỳ ảo, ma mị. Với nhân vật Kiên, chiến tranh như một sự kiện đặc biệt nhất trong cuộc đời anh, nó để lại những dấu ấn không thể phai mờ và nó qui định mọi bước ngoặt trong cuộc đời. Quá khứ cứ bám chặt Kiên, đeo đuổi anh và nó luôn hiện lên qua những dòng độc thoại nội tâm đầy day dứt: “Nhưng mà tâm hồn tôi thì đã ngưng bước lại ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào mà đổi đời được như là bản thân đời sống của tôi. Một cách trực giác, tôi
luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn đang lẩn khuất. Đêm đêm, giữa chừng giấc ngủ tôi nghe thấy tiếng chân tôi từ những thuở nào đó rất xa rồi vang lên trên hè phố lát đá”
[131, tr.59]. Dưới lăng kính của cái huyền ảo, những người lính, những người bạn của Kiên lại trở về trong thời hiện tại. Cảnh mộng ở đây đem đến cho Kiên những cảm giác đau đớn, hoảng loạn. Những câu chuyện huyễn ảo về những người đồng đội của anh hiện về thành những chuỗi dài, không đầu không cuối. Kiên trở về sau chiến tranh là một kẻ may mắn khi mạng sống được bảo toàn, thế nhưng cái giá mà anh phải trả lại không hề nhỏ: “Hằng đêm, những cô hồn thân thuộc lên tiếng thì thầm trò chuyện với anh, lên tiếng rên rỉ và thở dài” [131, tr. 83]. Đối với bất cứ dân tộc nào, chiến tranh sẽ không bao giờ tránh khỏi màu sắc bi kịch, tuy nhiên xem xét văn xuôi 1945 - 1975 thì bi kịch là cái hầu như “không được phép” xuất hiện. Luồng gió đổi mới đã giúp các nhà văn chọn cái nhìn cuộc kháng chiến năm xưa theo một cách khác. Khám phá một hiện thực của “tiểu thuyết”, một hiện thực “chưa hoàn kết” (Nói theo cách nói của M. Bakhtin), Bảo Ninh khách quan phơi bày những tàn bạo, phi nhân tính của chiến tranh đã ăn sâu vào tiềm thức của những người lính. Nỗi buồn chiến tranh đã thể hiện một góc nhìn mới về cuộc chiến làm người đọc không ít bất ngờ, sửng sốt.
Đến với Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường ta bắt gặp một bầu không khí liêu trai, huyền thoại. Đó là nơi “ma quỉ bị người trần cắt hộ khẩu” nên tràn vào xóm Giếng Chùa. Đó là nơi “nhìn chả thấy người đâu, toàn ma!” [155, tr.14].
Sự tồn tại một thế giới ma và người lẫn lộn, phi lí ấy được tác giả kể một cách thản nhiên bởi người viết không quan tâm đến việc phải phân biệt rạch ròi giữ thực - hư và cũng bởi cuộc đời là một kết cấu phức tạp, đầy bất ngờ, đầy huyền bí. Cái hiện thực đa sự mà văn xuôi thời kì Đổi mới nỗ lực vươn tới bên cạnh cái nhìn thẳng vào cuộc chiến còn là vấn đề văn hoá phong tục, đấu tranh với các hủ tục, định kiến đằng sau luỹ tre làng kia. Đề cập đến vấn đề này, cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường đã tỏ ra khá xuất sắc. Nhà văn đã chỉ ra nào là những vấn nạn như: lấn chiếm đất công, những tính toán vun vén cá nhân, nào là lề lối làm ăn tuỳ tiện trên hết là vấn đề mâu thuẫn gay gắt giữa các dòng họ mà cách mạng không dễ gì thay đổi được. Do giáo điều, ấu trĩ, ngu dốt mà biết bao nhiêu tấn bi hài kịch đã diễn ra trên cái mảnh đất nông thôn ấy.
Một bầu không khí ngột ngạt của làng Vũ Đại ngày nào đã trở về bao trùm cái làng Giếng Chùa nhỏ bè kia là một điều tất yếu khi những kẻ bất tài nhiều tai như Bí thư chi bộ Xuân Tươi, như Thủ, như Sửu... còn nắm trong tay quyền hành. Sự chuyên quyền, độc đoán của những kẻ cầm quyền đã làm biến đổi khái niệm “Cách mạng” trong quan niệm của quần chúng nhân dân. Với họ cách mạng có lẽ đã trở thành cơn ác mộng, là nỗi ám ảnh. Nhà văn không có ý bôi đen hiện thực mà anh chỉ muốn phản ánh nguyên
vẹn hiện thực đã, đang diễn ra trên Mảnh đất lắm người nhiều ma.
Như vậy, thông qua các tác phẩm của mình, các nhà văn thời kỳ Đổi mới đã cho thấy sự trưởng thành trong lối viết, tự giải phóng mình khỏi quan niệm đơn giản, nhất thành bất biến về hiện thực, để bằng trí tưởng tượng trình bày một quan niệm riêng về hiện thực. Cũng là những đề tài, chủ đề vốn không phải là mới, song các nhà văn đã nhìn nhận, soi chiếu ở góc độ khác khiến sự vật, hiện tượng trở nên mới lạ, có phần huyền ảo, khiến độc giả bị hấp dẫn, lôi cuốn...