Chương 2. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA ĐỂ NÂNG
2.1. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
2.1.3. Học tập kinh nghiệm sáng tác dựa trên những cổ mẫu của các tiểu thuyết
Cổ mẫu được bắt nguồn từ những kinh nghiệm lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người trong suốt chiều dài lịch sử và có thể xuất hiện trong bất cứ thời đại nào, ở bất cứ đâu. Và cổ mẫu đầu tiên được lưu giữ trong huyền thoại, sau đó, cổ mẫu
“tái xuất” trong những giấc mơ, những hình ảnh huyễn hoặc của vô thức cá nhân, những tác phẩm văn chương nghệ thuật trong sự ngẫu nhiên của tâm thức nghệ sĩ...
Từ điển văn học định nghĩa: “cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con
người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại” [41, tr.972]. Từ điển thuật ngữ văn học lại lí giải: “Những mẫu gốc là những motif và những motif có đặc tính bản chất phổ quát, là sơ đồ tâm lí bền vững, được tái hiện lại một cách vô thức và tìm thấy nội dung trong các nghi lễ, thần thoại tượng trưng, tín ngưỡng cổ xưa, trong những hành vi tâm lý (ví dụ: giấc mơ) và cả trong sáng tác nghệ thuật ngay đến thời nay” [34, tr.192].
Như vậy, về cơ bản, cổ mẫu trước hết cũng là những biểu tượng nhưng có sức khái quát cao hơn biểu tượng, là những mẫu của các biểu tượng. Nó là những biểu tượng nguyên thuỷ, tồn tại trong tâm thức của con người từ thuở xa xưa và trở thành vô thức tập thể. Có thể thấy trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh, trong Thánh Tông di thảo của vua Lê Thánh Tông v.v... Học tập kinh nghiệm sáng tác dựa trên các cổ mẫu của các tiểu thuyết gia tiền bối là một việc làm có tính kế thừa.
Theo quan điểm của chúng tôi, có thể gọi tên các cổ mẫu như cha, mẹ, anh hùng, nước, lửa, đất, trăng...Về ý nghĩa biểu trưng, các cổ mẫu chứa đựng những ý nghĩa phổ quát, không giới hạn trong một dân tộc, một quốc gia và nó biểu hiện cho vô thức của cộng đồng. Về vai trò, các cổ mẫu hiện diện như những hình tượng nhân vật, thể hiện quan niệm, tư tưởng và nhận thức của tác giả về hiện thực và con người. Các nhà văn đã vận dụng những mẫu gốc để sáng tạo nên hình tượng văn học độc đáo. Trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, nước là một hình tượng xuyên suốt và đầy ám ảnh. Theo thống kê, cổ mẫu nước xuất hiện dưới nhiều dạng thể: nước, sông, thác , hồ, nước mắt, sữa, sương, mưa,... Đặc biệt, nước là cổ mẫu có năng lượng biến dạng vô cùng đa dạng. Nước tưới mát tâm hồn, con người trở nên mạnh mẽ, cuồng nhiệt và đầy sức sống. Dòng sông Nhuệ sông Gâm, sông Tô được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, tái hiện nhiều lần trong ký ức Từ Lộ, Nhuệ Anh như chứng nhân của kỷ niệm, và hơn hết, là hồi tưởng về những phút giây thăng hoa trong tình yêu. Bên dòng sông Gâm, họ đã để lại cho dòng nước xoa dịu nỗi hận thù và tận hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc. Giây phút ấy đã ám ảnh Từ Lộ trên suốt chặng đường sau này, với những day dứt và khát khao.
Tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, nước hiện hữu qua hình tượng biển cả. Với Hai Thìn, biển cả là người bạn gần gũi, thân thiết và lắng nghe, thấu hiểu những nỗi niềm. Đứng trước biển, anh không còn cảm thấy cô đơn bởi vì biển là tri kỷ, là người bạn tâm tình, là nơi yên bình trong cuộc sống bon chen và đầy toan tính
“Vua biển nay lại về với biển. Về và sống chết với biển thôi” [156, tr.26]. Biển hiền hoà, nhân hậu, biết sẻ chia: “Vua biển nhảy ùm xuống nước... Biển cả ôm lấy anh vui
mừng [147, tr.182]. Đồng thời, biển cả rộng lớn, bao dung, mang lại cho con người nguồn tài nguyên vô tận, hào phóng trước khát vọng của con người: “Ta cho vua biển mẻ lưới này, cứ kéo nặng tay rồi nghỉ, sau đó đến tìm ta một nơi khác nhé” [156, tr.182]. Nhưng một khi con người nổi lòng tham lam, đòi hỏi quá nhiều, biển lạnh lùng trừng phạt. Chi tiết này ta thấy giống với câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của anh em nhà Grimm. Lần thứ hai gặp lại Hai Thìn, biển không còn vồn vã mà trở nên buồn bã: “Mẹ biển quở trách ta sao quá hào phóng với anh” [156, tr.186], trong đó có cả vua biển Hai Thìn. “Chín người còn lại vĩnh viễn ngủ yên trong lòng biển bao la, độ lượng, vừa tàn nhẫn, lạnh lùng” [156, tr.190].
Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, bà Son-người đàn bà bất hạnh – lúc bị anh em nhà Trịnh Bá Hàm dồn vào ngõ cụt, đối mặt với bế tắc, với tủi hờn, bà đã tìm đến dòng nước. Dường như, trong vô thức, trong đớn đau, trong mụ mẫm thì dòng nước là cứu cánh giải thoát duy nhất của con người thoát khỏi chốn trầm luân: “Đôi chân chạy như bị xui khiến. Có tiếng nước chảy ồ ạt phía trước. Bà Son hổn hển lao tới, như đấy là nơi giải thoát duy nhất đang chờ bà” [155, tr.335].
Ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại, cổ mẫu về trăng cũng xuất hiện phổ biến, trăng chuyên chở những ý nghĩa biểu trưng, đa dạng và sinh động. Đầu tiên, trăng gợi lên những mơ mộng và đam mê tình ái. Trăng thúc giục bản năng, nhào nặn những khát khao sâu kín nhất trong tâm hồn con người, khiến con người trở nên buông xuôi và nuông chiều cảm xúc. Trong Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, biểu tượng trăng được nhắc đến qua bản năng khao khát yêu thương của vợ Mười Hoà. Chồng chết vì đi biển, một mình nuôi con thơ, nhưng trong tâm thức vợ Mười Hoà là nỗi nhớ cồn cào về những giây phút ân ái. Cái chứng bệnh “trời hành” đó đã ngày đêm hành hạ chị, khủng khiếp nhất là vào những đêm trăng. Trăng lên như mời gọi khát khao thêm phần mãnh liệt hơn, dữ dội hơn. Đêm trăng thứ nhất:
“Trăng lên đỏ quạnh, vợ Mười Hoà bắt đầu cảm thấy khó chịu hơn... Chị ra sau nhà, dội nước ào ào mong làm tan đi ngọn lửa đang âm ỉ cháy trong cơ thể mình” [156, tr.194]. Đêm trăng thứ hai: “Vẫn là cái mặt trăng vừa đỏ quạnh báo hiệu ngọn lửa bắt đầu bùng cháy trong chị. Chị dội nước ào ào. Chị băng ra biển, ngâm mình xuống biển. Ngọn lửa vẫn hừng hực cháy” [156, tr.95]. Đêm trăng thứ ba: “Cơn sốt đến với chị rồi. Mặt trăng đỏ quạnh ngang tầm mắt. Chị tạt vào khu rừng, ôm lấy một gốc cây phi lao, gục đầu mà khóc. Chị sẽ đứng thế này mà chịu đựng cho đến khi trăng lên đỉnh đầu, sáng vằng vặc” [156, tr.98]. Và sau ba đêm trăng, vợ Mười Hoà đã ngã vào vòng tay của Năm Mộc, một kẻ đê tiện và xấu xa, để thoả mãn những đòi hỏi về thể xác và bị hắn thao túng.
Trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, một mối tình của chị ba Pháo và ông Hộ Hiếu cũng bắt đầu từ một đêm trăng. Ánh trăng huyền ảo làm người trở nên quyến rũ và gợi cảm hơn: “Ánh trăng làm mắt chị ba Pháo long lanh. Ánh trăng làm thân hình của chị như biến thành ngọc, thành ngà” [127; tr.234]. Cuộc giao hoan giữa người đàn bà từng tả tơi vì điên loạn, lại nghèo khổ với người đàn ông sống tạm bợ nơi chùa hoang lại thơ mộng, trữ tình dưới ánh trăng khuya. Nó không chỉ là tình dục mà hơn thế, còn xuất phát từ sự cảm thông, chia sẻ giữa hai kiếp người đau khổ và chỉ một lần duy nhất bên nhau, họ thăng hoa cảm xúc nhờ sự soi chiếu của trăng. Đặc biệt, trăng dẫn dắt người đàn ông tội nghiệp kia bước vào mê cung tình ái mà vốn dĩ, ông chưa bao giờ biết lối, “Ông nâng niu bộ ngực ngọc ngà mà ông đã từng thấy khi chị điên rồ; nhưng khi ấy, đối với ông chúng vô hồn. Còn lúc này, ánh trăng và đôi mắt của chị đã đem lại cái hồn sinh động cho chúng. Ôi! Sao mà mĩ miều” [127; tr.245]. Có thể thấy, trăng chính là hình tượng vẫy gọi, khai mở thế giới vô thức của con người. Trăng khơi gợi những khát vọng mạnh mẽ, những ước muốn thầm kín trong thế giới nội tâm của nhân vật. Nhờ vậy, độc giả phát hiện ở nhân vật có một con người khác, một năng lực khác và một cá tính khác.
Tóm lại, việc học tập kinh nghiệm sáng tác dựa trên cổ mẫu của các tiểu thuyết gia tiền bối đã giúp các nhà văn sáng tạo nên những hình tượng văn học đầy ám ảnh.
Nó vừa hiện hữu trong đời sống thực, vừa chi phối đời sống tâm linh; vừa hữu hình, vừa vô hình; vừa biểu đạt nhiều ý nghĩa gắn với các trạng thái vô thức của nhân vật.
Vì thế, bên cạnh những ý nghĩa kế thừa từ huyền thoại trong quá khứ, các cổ mẫu còn thể hiện những giá trị tự thân và lan toả sức sống mãnh liệt của riêng mình. Các cổ mẫu đã gợi lên cả trường liên tưởng, tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của tuyến truyện và tạo nên tính hình tượng mới mẻ, đầy cuốn hút cho các tác phẩm.
2.2. Phương thức huyền thoại hoá với việc khẳng định vai trò chủ thể của nhà văn trước hiện thực phản ánh