Đan xen, lồng ghép nhiều điểm nhìn nghệ thuật

Một phần của tài liệu luan an ncs nguyen thi thuy 20221209053005 e 2326 (Trang 116 - 119)

Chương 3. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA - MỘT HƯỚNG CÁCH TÂN THI PHÁP THỂ LOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT

3.3. Phương thức huyền thoại hóa với sự đa dạng điểm nhìn trần thuật

3.3.2. Đan xen, lồng ghép nhiều điểm nhìn nghệ thuật

Trong tác phẩm văn học, khó có thể phân định được đâu là điểm nhìn của tác giả, đâu là điểm nhìn nhân vật. Không thể nói nhà văn chọn điểm nhìn này hoặc điểm nhìn kia là sự ngẫu nhiên. Nhà văn thường chọn điểm nhìn nhân vật để bộc lộ điểm nhìn của mình. Sự gia tăng, đan xen các điểm nhìn giống như đặt thêm những đèn cao áp mới từ những góc độ khác để soi rọi vào góc khuất nhất của đời sống mà không phải lúc nào ta cũng nhìn thấy từ hướng nhìn cũ. Phương thức huyền thoại hoá tham gia tích cực vào việc biểu đạt này. Sự đan cài các điểm nhìn tạo nên cấu trúc đa chiều cho người đọc cảm nhận về hiện thực đang có chiều hướng mở ra không dừng lại. Người đọc có thể soi chiếu chính hiện thực phản ánh trong các điểm nhìn khác nhau để tìm ra bản chất quy luật. Với sự đan cài, lồng ghép các

điểm nhìn tác phẩm, nhà văn biến cái nhìn của mình thành một phương diện nhận thức hiện thực. Tác giả như muốn tạo ra sự bình đẳng giữa mình và các nhân vật khác trong tác phẩm. Hiện thực đời sống được chuyển hoá qua nhiều kênh để người đọc dành một khoảng trống tự lý giải, nhận thức.

Trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, nhân vật chính là một hài nhi còn đang trong bụng mẹ. Câu chuyện được kể từ điểm nhìn của đứa bé ấy. Cách chọn điểm nhìn này giống như cậu bé Kim Đồng trong Báu vật của đời của Mạc Ngôn, cậu Oskar trong Cái trống thiếc của Gunter Grass hay bé Hon trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. Oskar quỷ lùn vừa chế nhạo cái thế giới mà dưới mắt nó chỉ đáng làm cho rối tung lên, vừa lợi dụng cái thế giới bất toàn đó để thể nghiệm khả năng cám dỗ, huỷ diệt của mình; bé Hon với sứ mệnh của một thiên sứ nhưng cuối cùng đành ra đi vì mọi thông điệp cứu rỗi đều không ích gì trước cái thế giới suy đồi toàn diện.

Lựa chọn điểm nhìn bên trong, tác giả phơi bày cuộc sống qua con mắt của một hài nhi. Từ đó, cuộc đời con người được phơi bày chua chát, cay đắng, ác nghiệt. Đó là chuyện người đàn ông đầy giục vọng và sống dối trá. Chuyện những cô gái bị thất thân, những người dàn bà nhàm chán chăn gối nhưng phải chấp nhận cuộc sống vợ chồng nghiệt ngã. Những phụ nữ mang thai không biết cha đứa bé mình sắp sinh là ai, vì đã chung đụng với nhiều “người chồng” cùng lúc. Mỗi người đàn bà mang thai đều có hoàn cảnh riêng, người thì bạc miệng mong cho đứa con trong bụng chết ngạt đi, người thì dùng thuốc xổ... Tất cả, hình như đều không muốn những đứa trẻ đó ra đời... Bào thai trong bụng mẹ kinh hãi trước những sự kiện được chứng kiến, và nó quyế định không chào đời vội, cho đến khi bào thai nghe được tiếng nói của người mẹ rằng con có thể nguyền rủa phần thế giới còn đầy tội ác và bất công, nhưng cuộc sống là ân sủng lớn nhất.

Không chỉ dừng lại ở đó, nhà văn đã tăng điểm nhìn theo hướng hoà trộn, đan kết các điểm nhìn trong nhau. Tác phẩm không chỉ có cái nhìn của bào thai. Bên trong cái nhìn ấy đan kết cái nhìn của cô phóng viên Giang kể về đoạn đời lầm lỡ của mình, người đàn bà làm nghề đồng nát, người mẹ có con mắc tội giết người...

Từ nhiều điểm nhìn ấy, chuyện sinh nở, số phận trẻ con trong mắt người lớn mới thật đáng sợ làm sao. Khi chuyển những điểm nhìn kia vào câu chuyện của mình, bào thai thể hiện cái nhìn bên ngoài lạnh lùng, khách quan của người kể chuyện, có khi lại chuyển sang điểm nhìn bên trong với băn khoăn về việc có ra đời hay không.

Đan kết các điểm nhìn, ranh giới thực – hư, hiện thực – phi lý cũng rút ngắn lại.

Tính chất huyền ảo, phi lí đã làm rõ hơn bức tranh hiện thực kinh khủng, tha hoá, biến dạng của con người trong cuộc sống hiện đại.

Những tiểu thuyết về sau, người đọc càng thấy rõ xu hướng gia tăng các điểm nhìn trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh. Giã biệt bóng tối phân định khá rạch ròi điểm nhìn của nhà văn và điểm nhìn của nhân vật bằng chính cách đặt tên các chương, các phần của tiểu thuyết. Ít nhất, có năm lần người dẫn chuyện chen ngang vào dòng kể của các nhân vật để lý giải, cắt nghĩa các câu chuyện đang xảy ra. Như vậy, rõ ràng nhà văn - người dẫn chuyện không chịu là một người kể chuyện khách quan mà trở thành người dẫn dắt bạn đọc vào thế giới nghệ thuật của mình. Trong tác phẩm còn có sự xuất hiện điểm nhìn của người kể chuyện dưới cái tên rõ ràng là tác giả. Theo chúng tôi, lời tác giả với lời người dẫn chuyện là của một người. Đồng thời, có thể thấy trong hệ thống điểm nhìn của người kể chuyện không trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện, chỉ có người kể chuyện là người đóng yếu tố quan trọng trong nghệ thuật kể chuyện. Bởi thế nên ta bỏ hết lời dẫn, lời ghi chú thì mạch truyện vẫn có thể phát triển một cách tự nhiên. Cách xây dựng điểm nhìn của người dẫn chuyện, người biên tập, tác giả, người kể chuyện chính là công cụ “mách nước”

của tác giả và thể hiện dấu ấn riêng của Tạ Duy Anh.

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng có những cách tân đáng kể về điểm nhìn trần thuật.

Người và xe chạy dưới ánh trăng là tác phẩm được trần thuật bằng sự đan cài, lồng ghép nhiều điểm nhìn. Đặt điểm nhìn bên ngoài, tác giả quan sát và kể về cuộc sống của các nhân vật Toàn, Minh, Hiệp, Trang, Diệu...Bằng giọng kể khách quan, lạnh lùng, nhân vật được hiện lên sắc nét: “Diệu rít lên trong một cơn ghen bất ngờ bốc hoả hừng hực. Mụ lăn xả vào Khuynh như đòi ôm ấp, nhưng hai bàn tay chiếc áo sơ mi ra khỏi lưng quần, tốc lên. Mười móng tay rạch điên cuồng trên tấm lưng, tưởng như bây giờ chạm phải mắt Khuynh thì chúng không ngần ngại móc nó ra với một khoái cảm bệnh hoạn” [148;

tr.164]. Cũng có khi nhà văn lại đan cài điểm nhìn bên trong trong nhân vật. Nhà văn đặt mình vào vị trí các nhân vật để tái hiện cuộc đời, số phận và khám phá nội tâm của họ.

Với nhân vật Toàn, tác giả viết: “Chính từ nỗi mất mát và những ý nghĩ này mà Toàn rút lui vào cánh cửa do mình dựng lên chăng? Có khi sự mất mát lại khiến cho con người thích lao và chỗ đông người, thích lao vào những nơi ồn tạp để bù lấpkhoảng trống hụt hẫng của mình cơ mà? Nhưng với Toàn nó đã cứa vào tim anh những đường răng không thôi ứa máu”[ 148; tr.118]. Đan xen trong dòng tâm tư của Toàn, tác giả bắt đầu câu chuyện của Trang với sự lồng ghép điểm nhìn trần thuật từ Toàn sang Trang. Dòng kí ức của Trang xoay quanh sự việc mẹ bị chết vì trúng bom và người cha xa cô lúc bốn tuổi chưa hề gặp lại. Quá khứ luôn ám ảnh Trang: “Chỉ có Trang vẫn ngẩn ngơ như không phải đang sống nữa” [148; tr.369]. Và điểm nhìn được tiếp tục chuyển sang Khuynh với những day dứt, những trăn trở về tháng ngày đã qua và định mệnh dai dẳng với Diệu

trong cuộc sống hiện tại. Tất cả hiện lên sống động như vừa diễn ra qua điểm nhìn bên trong từ tâm hồn nhân vật. Nhân vật tự cảm về thế giới và về chính mình trọn vẹn, sâu sắc và thấm thía hơn. Mạch truyện có sự đan cài, lồng ghép một cách uyển chuyển cùng với sự phối hợp, thay đổi luân phiên của các điểm nhìn trần thuật.

Ở tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, điểm nhìn trần thuật luôn có sự vận động chuyển hoá linh hoạt. Từ trang mở đầu tác phẩm, Hồ Anh Thái đã tự giới thiệu sự tham dự của tác giả trong truyện và đối thoại với bạn đọc: “Chính xác thì không đúng mười lẻ một ngày nhưng thực sự là bao nhiêu thì độc giả phải theo dõi hết cả cuốn sách thì mới biết được. Chẳng phải tác giả giữ mánh hay giấu bí quyết gia truyền mà cái gì cũng phải tuần tự. Đôi khi đọc sách cũng là dịp thử thách lòng kiên nhẫn. Sách dở thì thử thách lòng khoan dung” [149; tr.2]. Những lời đối thoại có tính chất giáo đầu như thế đã thể hiện rõ điểm nhìn của tác giả. Nhưng điểm nhìn bên ngoài ấy luôn chuyển hoá, đan cài. Người trần thuật ở đây vẫn là tác giả nhưng điểm nhìn đã đặt trong nhân vật để thể hiện những suy ngẫm, tiếng nói riêng của nhân vật. Có lúc tác giả mải miết theo đuổi những câu chuyện bên ngoài cánh cửa về bà mẹ với năm lần đò và những cuộc phiêu lưu tình ái, bất chợt, bất ngờ dừng lại dịch chuyển điểm nhìn vào sau cánh cửa với thực tại dở sống dở chết của nhân vật chính sau những ngày bị nhốt. Rồi lại hướng ra bên ngoài cánh cửa với câu chuyện về ông Víp, thằng bé người Cá, các vị giáo sư... Trong suốt mạch tự sự, tác giả luôn thay đổi đỉm nhìn để có thể vừa miêu tả đúng bản chất đối tượng, vừa không vi phạm tính khách quan trong nguyên tắc sáng tạo của mình. Nhờ sự linh hoạt trong điểm nhìn trần thuật, Hồ Anh Thái đã vẽ ra một hiên thực hỗn loạn, nhố nhăng.

Cách nhìn đời, nhìn người từ mọi khuất nẻo đã đem đến cho người đọc những ấn tượng độc đáo về phương thức trần thuật của tác giả. Nhập vào góc nhìn trần thuật ấy, người đọc cảm nhận được cuộc sống với mọi góc cạnh và sự gai góc vốn có.

Cũng chính sự linh hoạt trong điểm nhìn tạo nên giọng kể đa thanh trong tác phẩm.

Như vậy, sự đan xen, lồng ghép nhiều điểm nhìn trần thuật là một cách xử lý linh hoạt của các nhà văn. Đây là hệ quả của sự “giải thiêng” vai trò thượng đế biết tuốt của nhà văn, sự dân chủ hoá trong mối quan hệ giữa nhà văn và nhân vật. Nhà văn đứng ngang hàng hoặc thậm chí thấp hơn để viết là một cuộc phiêu lưu với cả chính mình. Với cách trần thuật từ một hệ điểm nhìn, các nhà văn đã đưa độc giả đến với các góc nhìn, hướng nhìn, khoảng cách nhìn, từ đó hiểu một cách sâu sắc đối tượng phản ánh, tạo cho họ những ấn tượng độc đáo về phong cách trần thuật.

Một phần của tài liệu luan an ncs nguyen thi thuy 20221209053005 e 2326 (Trang 116 - 119)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(180 trang)