Chương 2. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA ĐỂ NÂNG
2.1. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
2.2.1. Bộc lộ tầm văn hóa của người viết
Mỗi tác phẩm văn học ra đời đều thể hiện khả năng sáng tạo cũng như bộc lộ tầm hiểu biết hay văn hoá của người viết. Người viết phải viết với sự am tường văn hoá của dân tộc và nhân loại, cần tích hợp được dưới ngòi bút những kinh nghiệm nghệ thuật của nhiều loại hình sáng tác khác nhau từng tồn tại và làm nên lịch sử văn hoá, văn học. Nếu từ chối kinh nghiệm sáng tác đã có là tự làm nghèo văn mình và sẽ khiến cho nền văn học đơn điệu chỉ có một kiểu.
Phương thức huyền thoại hoá vốn không phải là mới nhưng lại có sức hấp dẫn đối với các nhà văn. Lâu nay huyền thoại được biết đến với tư cách là những
câu chuyện về các nhân vật thần linh hay các anh hùng xuất chúng. Huyền thoại bám rễ sâu vào các cơ tầng văn hoá như từ nghi lễ, trí tưởng tượng, tín ngưỡng và vô thức cộng đồng. Khi chuyển hoá vào tác phẩm văn học hiện đại, bản thân huyền thoại gắn liền với hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ. Về nội dung, ý nghĩa trong mỗi huyền thoại không phải bất biến mà luôn sinh sôi. Về hình thức, huyền thoại tái sinh dưới nhiều mô hình, nhiều dạng thức khác nhau. Điều này cũng đồng nghĩa với việc huyền thoại luôn hoà vào dòng chảy và quy luật vận động của đời sống văn học. Vận dụng phương thức huyền thoại hoá trong sáng tác, các nhà văn không chỉ bộc lộ vốn hiểu biết mà còn đưa đến một cái nhìn mới về nhân vật lịch sử và những biểu tượng văn hoá, chân thực, sinh động với những thuộc tính rất người. Chính điều ấy đã khiến cho các tác phẩm tự sự hiện đại trở nên mới mẻ và có chiều sâu.
Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn am hiểu về văn hoá, tín ngưỡng dân gian.
Mẫu Thượng Ngàn là tiểu thuyết thể hiện sự am tường đó. Mẫu và người hầu cận của Mẫu là những nhân vật vô hình trong thực tại nhưng lại luôn hiện hình trong tâm trí của những người dân Cổ Đình. Những nhân vật huyền thoại này đã trở thành biểu tượng tín ngưỡng, tâm linh độc đáo của văn hoá. Vì thế, người dân Cổ Đình có một niềm tin bất diệt vào Mẫu: “Người dân quê giàu nghèo đều tri ân Mẫu. Mẫu là hồn của đất, Mẫu là cơm gạo ta ăn, cho hoa trái bốn mùa tươi tốt. Những bài hát văn đều ca tụng công ơn. Mẫu dạy chim hót, dạy công múa quạt, dạy voi kéo gỗ, dạy hùm thiêng canh giữ núi rừng, dạy con người biết xót thương... [127; tr.421]. Mặc dù mang đậm màu sắc huyền thoại, kì ảo nhưng Mẫu và người hầu cận của Mẫu rất gần gũi với đời sống của người dân Cổ Đình. Trong tác phẩm, không chỉ có những nhân vật huyền thoại bước ra từ tâm thức sống động của dân gian với vai trò như là những nhân vật bậc tiên tổ, đấng sáng tạo, anh hùng văn hoá như trong những huyền thoại nguyên bản mà còn có những nhân vật vốn xuất thân từ cuộc đời thực nhưng bao quanh căn cước của họ lại tồn tại những lớp mấy mù huyền thoại, kì ảo vừa hư - thực, vừa phàm trần - thiêng liêng. Cuộc đời nhân vật bà tổ Cô được đan dệt bằng những huyền thoại khiền bà trở thành một huyền thoại của chính lòng chung thuỷ, đạo nghĩa vợ chồng cũng như cách ứng xử khéo léo trong từng hoàn cảnh. Huyền tích sinh động nhất về bà tổ Cô có lẽ là câu chuyện về việc bà nuôi đôi ngựa ngài ở đền Mẫu để trừng trị những kẻ dám báng bổ thần thánh. Huyền tích này thực sự nhiệm màu, linh thiêng khi tên người Pháp Julien cho rằng rắn là tà thần không được phép thờ rắn. Hắn đã ngang nhiên kéo giật đứt đôi rắn vải trong đền Mẫu. Khi tất cả đang ngơ ngác thì Hắc xà xuất hiện gây nên một khung cảnh náo loạn và cứ nhằm Julien mà đuổi khiến hắn hoảng loạn chạy tháo thân khỏi đền Mẫu.
Sau huyền tích này, bà tổ Cô được tôn lên thành thánh Mẫu. Rõ ràng, nhân vật bà tổ Cô đã được xây dựng bằng những chi tiết kì ảo, bao bọc bởi một khí quyển huyền thoại. Với cách xây dựng nhân vật mang chiều kích huyền thoại, Nguyễn Xuân Khánh một mặt vừa khước từ lối thi pháp xây dựng trong văn học giai đoạn 1945- 1975, đồng thời tiếp nối kiểu nhân vật huyền thoại vốn đẵ sẵn trong truyền thống văn học nhân gian và đặc biệt trong văn học truyền kì.
Trong tiểu thuyết Giàn Thiêu, Võ Thị Hảo xây dựng bối cảnh lịch sử thời Lý, ghi nhận sự phát triển của đạo Phật. Người đọc dễ dàng tiếp cận một loạt những ngôn từ Phật giáo. Từ tên chương: Nghiệp chướng (Chương XV), Báo oán (Chương XVII), Đầu thai (Chương XX) đến ngay lời nói được thốt ra: “Nam mô A di đà Phật! Trước khi ăn, hãy triệt để quán tưởng. Bởi chúng ta ăn không phải để mà ăn, mà ăn chỉ để nuôi sống cái thân xác của chúng ta đủ khoẻ mạnh để truyền bá giáo lý của đức Phật đạo cao đức lớn vô biên, đấng cứu độ chúng sinh” [125; tr.420]. Đi suốt tác phẩm là những lời cầu kinh vang lên: “A ta phạ bả pha, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bả phá”. Sự am tường về văn hoá Phật giáo đã đem đến cho tác phẩm không khí linh thiêng cùng những tín ngưỡng tâm linh đầy sâu sắc. Có lẽ vì thế mà tiểu thuyết của Võ Thị Hảo luôn hấp dẫn người đọc.
Bàn về điều này, không thể không nhắc đến trường hợp Hồ Anh Thái. Công việc của một nhà ngoại giao đã tạo nhiều cơ hội cho Hồ Anh Thái được đến với nhiều nước, trong đó có Ấn Độ. Với một thời gian sống và làm việc tương đối dài ở Ấn Độ cũng như nghiên cứu văn hoá phương Đông, Hồ Anh Thái có điều kiện suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về cõi đời và số phận con người. Tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi là sự kết tinh tài năng của nhà văn khi viết về văn hoá Ấn. Viết về Đức Phật, trong sáu năm trời, Hồ Anh Thái đã khổ công tìm kiếm tư liệu quý ở nhiều nơi, đọc các loại kinh tiểu thừa và đại thừa trực tiếp bằng tiếng Hindu, đọc các tác phẩm nghiên cứu Phật học, cuộc đời Đức Phật của các nhà nghiên cứu thế giới từ mấy thế kỷ nay bằng tiếng Anh. Chính quá trình hoạt động ngoại giao, niềm say mê nghiên cứu văn hoá Ấn đã giúp tác giả tiếp cận nền văn hoá Ấn Độ thực sự cụ thể, tường tận và sâu sắc.
Câu chuyện về cuộc đời Đức Phật được nhắc nhiều trong các tư liệu Phật giáo, trong kinh Phật, và đã hình thành trong tâm thức của người đời quan niệm thông tục về một huyền thoại, một chân lý, một giá trị tuyệt đối... Làm thế nào để thoát khỏi một lối viết kinh viện, mang tính chất sách vở? Điều đó cần có một sự nghiền ngẫm, thể nghiệm sáng tạo đích thực trong lao động nghệ thuật. Hồ Anh Thái đã không giẫm lên bước chân của các nhà văn đi trước, ông có cách khám phá riêng, tạo cho mình một lối viết riêng,
vừa có nét bất biến, vừa có nét khả biến của một phong cách nghệ thuật độc đáo. Nhân vật Đức Phật là nhân vật tiêu biểu cho sự phục sinh truyền thuyết của Hồ Anh Thái. Đức Phật là một nhân vật có thực, hoàng tử Siddhattha con trai vua Shuddodana và hoàng hậu Maya tại kinh thành Kapilvastu ở phía Bắc Ấn. Tuy nhiên Đức Phật cũng là một nhân vật huyền thoại, được nhào nặn từ những điều bí ẩn khác thường. Cái kì diệu toát lên ở vẻ đẹp thánh thiện từ bi có sức mạnh tuyệt đối thu phục nhân tâm và quyến rũ được cả muôn loài muông thú. Thực và ảo hoà quyện tạo nên một kiểu nhân vật đặc biệt của Hồ Anh Thái. Khi Phật chào đời: “Hoàng hậu chửa trâu, người ta bảo nhau, có mang mười tháng mà vẫn chưa lâm bồn... Hoàng tử mới ra đời thì hoàn toàn tỉnh táo. Trắng hồng bụ bẫm. Xứ Ấn da trắng như vậy thì cũng coi toả hào quang” [146; tr.32]. Khi Phật giác ngộ: “Thế là chàng đã phát hiện ra rằng toàn bộ cuộc sống có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Từ hạt bụi nhỏ nhất đến vì sao lớn nhất đều có mới quan hệ liên quan. Tất cả đều không ngừng thay đổi: phát triển, tan rã, rồi lại phát triển. Chẳng có điều gì không có nguyên nhân của nó, nhân nào thì quả nấy. Rồi chàng nhìn thấy hết thảy khổ đau nơi trần thế...
Người ta sẽ không còn cảm thấy đau khổ, bất hạnh. Trái tim chỉ còn chứa đầy lòng yêu thương. Chính lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh phúc “ [146; tr.178].
Viết về Đức Phật - một nhân vật vĩ đại từng được phong kín huyền thoại hơn 2500 năm, Hồ Anh Thái không dễ dãi tựa lưng vào lịch sử để viết nhưng cũng không vô độ hư cấu, ông chọn một điểm nhìn trung hoà và ông đã thành công. Tất cả các sự kiện cơ bản có tính chất biên niên trong cuộc đời Đức Phật cùng với những giáo lí cơ bản của triết học Phật giáo đều được tái hiện một cách trung thành bằng bút pháp vừa hiện thực vừa kì ảo, nhà văn hình như không bịa đặt hư cấu thêm gì nhưng Đức Phật vẫn hiện lên trong vầng hư ảo, thiêng liêng mà rất đỗi gần gũi với mọi người. Phục sinh nhân vật truyền thuyết đã khiến cho nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái mang màu sắc huyền ảo rõ nét. Từ khởi nguyên đến hôm nay, những triết lí Phật giáo vẫn còn tồn tại, vì thế Đức Phật trở thành một nhân vật văn hoá. Ở đó, người Việt tìm thấy “hồn Việt trong xác Ấn” bởi những tư tưởng Phật giáo từ lâu đời đã ăn sâu vào tiềm thức của họ, bởi những tư tưởng trần thế hết sức nhân bản, nỗi băn khoăn về số phận con người không của riêng ai. Lịch sử đi vào văn học thấm qua bức màn văn hoá sẽ trở thành chìa khoá, thành người dẫn đường cho người đương đại bước tiếp trong cuộc sống. Câu chuyện lịch sử không chỉ mang giá trị một thời, không chỉ là những giá trị được đóng khung trong sử liệu. Lịch sử luôn có những khoảng mở, khoảng trống để con người tiếp tục nhận thức, chiêm nghiệm.
Trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái, đặc biệt là những tác phẩm viết về Ấn Độ, có sự tồn tại của một hệ thống các nhân vật thần linh trong tín ngưỡng, tôn
giáo. Các nhân vật này thuộc kiểu nhân vật vô hình, không trực tiếp xuất hiện, hành động, nói năng mà chỉ tồn tại trong suy nghĩ và tâm thức con người. Đây là những nhân vật thần thoại mang sức mạnh thần bí trong niềm tin tuyệt đối của nhân dân.
Đó là thần tình yêu Kama, đấng tối cao Brahma, thần Huỷ diệt Shiva, thần bảo vệ Visnu, thần Lửa Agni, nữ thần thi ca và Học vấn Parvati, thần Của cải và trí tuệ Ganesha, thần chết Yama, nữ thần sông Hằng- Ganga... Chính niềm tin và sự tồn tại của thánh thần và sức mạnh của lực siêu nhiên trong thế giới tâm linh của con người Ấn đã tạo nên một vẻ đẹp bí ẩn, kì ảo cho những trang viết của Hồ Anh Thái.
Tóm lại, khi vận dụng phương thức huyền thoại hoá, các nhà văn có cơ hội bộc lộ tầm hiểu biết, văn hoá của mình. Tầm văn hoá là gốc của một con người nói chung và của nhà văn nói riêng. Gốc có giàu thì mới có thể sinh nở hoa thơm trái ngọt. Đó cũng sẽ là thước đo mọi giá trị của tác phẩm dẫu cổ điển hay hiện đại.