Chương 2. VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA ĐỂ NÂNG
2.3. Phương thức huyền thoại hóa với việc khám phá những tầng vỉa mới của hiện thực
2.3.1. Thiết lập giao ước mới giữa nhà tiểu thuyết và độc giả
Cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác, trong đời sống văn học luôn có mối liên hệ qua lại giữa sáng tạo, truyền bá và tiếp nhận. Nếu tác giả là người sáng tạo văn học thì tác phẩm là phương tiện truyền bá văn học và người đọc là chủ thể tiếp nhận văn học. Không có người đọc, không có công chúng thì những cố gắng của tác giả, mọi giá trị của tác phẩm cũng trở nên vô nghĩa. Tiếp nhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp. Sự giao tiếp giữa tác giả và người tiếp nhận là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ, cảm thông. Bao giờ người viết cũng mong người đọc hiểu mình, cảm nhận được điều mình muốn gửi gắm, kí thác.
Mỗi sáng tác mang tính cách tân lại luôn thiết lập một giao ước mới với độc giả, buộc độc giả phải đọc theo quy ước của người viết. Những kinh nghiệm đọc đã có được thử thách, vì thi pháp mới của tác phẩm gây khó khăn cho việc tiếp nhận tác phẩm, nhưng khi vượt qua được, tầm đón nhận của độc giả tăng lên. Điều này biểu hiện rất rõ ở trường hợp Nguyễn Bình Phương. Các sáng tác của ông thuộc dạng “khó đọc”, thậm chí “kén” người đọc. Một lối hành văn ma mị, quánh đặc, hấp dụ chúng ta phải đi theo đến cùng. Muốn hiểu văn Nguyễn Bình Phương phải đọc nhiều lần, đọc một lần không thấy hay, nhưng qua mỗi lần đọc lại phát hiện một giá trị khác. Văn chương của Nguyễn Bình Phương đọc để cảm chứ không phải để hiểu bởi nhà văn viết chứ không phải kể nội dung. Cho nên rất khó để tóm tắt tiểu thuyết của anh. Và đọc văn anh phải kiên nhẫn, không thể đọc theo kiểu truyền thống được. Một loạt các tác phẩm như Ngồi, Thoạt kỳ thuỷ, Mình và họ, Kể xong rồi đi... phần nhiều là lạ so với khẩu vị lâu nay của người đọc. Nhà văn đi vào khai thác hiện thực cuộc sống nhưng không theo lối mòn mà mỗi tác phẩm là sự chồng chéo các mảnh vụn của hiện thực, là sự chập chờn của quá khứ và hiện tại, của hư và thực. Chẳng hạn, ở tiểu thuyết Kể xong rồi đi, tác giả luôn tạo nên một biên độ lớn để giãn nở theo sự tưởng tượng của độc giả.
Ngay lời đề từ, Nguyễn Bình Phương viết: “Chắc gì mây đã bay” đã toát lên sự hoài nghi. Lời đề từ đặt ngay đầu tác phẩm buộc người đọc hoài nghi tất cả câu chuyện được kể sau đó. Cuốn truyện là lời kể của Phong - cậu cháu mồ côi mắt lác của vị đại tá về hưu. Cậu kể chuyện với một con chó tên Phốc, về sự kiện xảy ra từ khi đại tá đột quỵ, nằm viện được đưa về nhà và đi tới cái chết. Lấy điểm nhìn từ cái góc độ cái chết, tiểu thuyết đưa ra một bức tranh đầy đủ hơn về cõi nhân quần bề bộn. Điều đáng nói là giọng văn Nguyễn Bình Phương trong tác phẩm có cái gì đó như hững hờ, bình thản lại ma mị, huyền bí. Lời kể của nhân vật Phong có đôi chút trẻ con, nhưng đôi khi lại ẩn chứa triết lí sâu xa về người, về đời, về cái chết. Phong nhận ra mọi góc tối luôn được che đậy kĩ càng xung quanh mình, nhưng kì lạ là Phong cũng không can thiệp. Phong im lặng, quan sát, ghi nhớ và bàng quan như người ngoài cuộc. Đó phải chăng cũng chính là thái độ của Nguyễn Bình Phương giữa chốn hỗn độn, xô bồ này? Tác giả không lớn tiếng chỉ trích, không thẳng thắn phê bình, chỉ lặng lẽ giữ những ưu tư của mình trên trang chữ, chờ người đọc phân giải. Cuốn sách khơi gợi ở người đọc những suy tư sâu lắng về điều vô thường trong cuộc đời bình thường, về cuộc sống mà chúng ta đang sống, và thậm chí có thể là về cả thái độ sống của mỗi người. Cho nên, Kể xong rồi đi là một tác phẩm mà người ta có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi lần đọc lại thêm một cách hiểu, một khám phá mới.
Trường hợp Thuận cũng vậy. Thuận là một cây bút trẻ, bản lĩnh và chuyên nghiệp, có những tìm tòi và thể nghiệm không ngừng để làm mới tiểu thuyết. Liên tục trong năm năm, Thuận đã cho ra mắt bạn đọc năm tiểu thuyết mà tiểu thuyết nào cũng gắn liền với vấn đề đổi mới trong văn học: Made in Vietnam (2003), Chinatown (2004), Paris 11 tháng 8 (2005), T mất tích (2006) và Vân Vy (2008).
Với năm tiểu thuyết, Thuận đã từng bước chứng tỏ bản lĩnh và tài năng của một cây bút đam mê với nghề. Mỗi tiểu thuyết đều là kết quả của một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, nhọc nhằn, dày công tìm tòi và thể nghiệm những lối viết mới, vượt thoát khỏi những lối mòn sẵn có. Nhờ đó, Thuận nhanh chóng trở thành một trong những cây bút tiểu thuyết tiên phong đi tìm những hình thức thể hiện mới, nỗ lực làm mới văn học nước nhà.
Tiểu thuyết của Thuận thu hút sự quan tâm của đông đảo độc giả - cả những nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình và bạn đọc văn chương đơn thuần. Tiểu thuyết của Thuận thuộc tạng “khó đọc”, “khó hiểu” đối với không ít đối tượng độc giả. Cái “khó đọc”, “khó hiểu” trong tiểu thuyết của Thuận đến từ những hình thức thể hiện mới từ phương diện xây dựng nhân vật, kết cấu, các cấp độ liên kết trần thuật, các cấp độ trần thuật, người kể chuyện, điểm nhìn và giọng điệu... Ngoài ra, chúng ta cũng không thể không kể đến dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như học thuyết S. Freud... trong tiểu thuyết của Thuận. Và
phương thức huyền thoại hoá cũng là một lựa chọn mà nhà văn Thuận tỏ rõ sự ưu tiên, ưa thích. Thuận đã từng quan niệm rằng viết không phải là kể chuyện, nhiệm vụ của văn chương không phải là kể, mà viết, viết để viết khác đi, viết để tìm ra những cách viết mới, viết như thế nào quan trọng hơn viết cái gì. Nếu tiểu thuyết truyền thống coi trọng vấn đề
“viết cái gì” thì tiểu thuyết của Thuận nói riêng và tiểu thuyết đương đại nói chung lại quan tâm đến vấn đề “viết như thế nào”. Do đó, với Thuận, tiểu thuyết rốt cục vẫn là vấn đề lối viết. Thay vì chiều chuộng, làm yên lòng độc giả, Thuận đã thể hiện những nỗ lực trong việc “quấy rầy” bạn đọc. Đó cũng là con đường Thuận lựa chọn nhằm góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam dần thoát khỏi quỹ đạo truyền thống, bước đầu hòa nhịp với tiểu thuyết hiện đại thế giới. Có thể kể đến tiểu thuyết Chinatown. Ngay cái tên tác phẩm, độc giả có thể ngỡ là viết về Phố Tàu, hay ít nhất bối cảnh chuyện phải là ở Phố Tàu. Nhưng thực ra không phải thế, Chinatown chỉ là một biểu tượng, là cảm thức xuyên suốt tác phẩm. Người đọc bị ám ảnh ngay bởi một cảm giác, một sự là lạ, quen quen, mong manh, mơ hồ. Đáng lẽ cái chủ đề chính của truyện cần được giấu đi để khi độc giả đọc đến cuối truyện sẽ phát hiện ra. Song, Thuận không làm thế, ngay từ đầu bà đã trưng cái đáng lẽ phải được giấu kĩ ra ngay mặt tiền. Độc giả cứ thế mà hoang mang, hụt hẫng mà bước vào không gian tha hương, lang bạt của tác phẩm. Mọi quy tắc mỹ học, thưởng thức của văn chương truyền thống đều bị dở bỏ. Nhà văn đã hướng người đọc tìm hiểu theo đúng quy ước của chính mình. Đó là sự trùng khít giữa tiểu sử tác giả in trên bìa sách với tiểu sử của nhân vật chính. Hình như cả “tôi” và Thuận đều có: “Mười bảy năm chè đỗ đen óc lợn hấp nồi cơm Hà Nội. Năm năm bắp cải thịt cừu căng tin đại học tổng hợp Leningrad. Mười năm ăn sáng bánh mì ăn liền, trưa bánh mì, tối bánh mì hoặc mì ăn liền, Paris và các vùng lân cận”
[150; tr.105]. Người đọc cứ thế mà cảm giác như chính mình đang đọc cuộc đời tác giả phơi bày trên trang sách. Hơn nữa, Thuận không tường thuật theo lối thông thường, bà viết như thể chỉ là người ghi chép lại những suy nghĩ, tình cảm, cuộc đời của một ai đó, không phải là Thuận mà cũng là Thuận. Chẳng hạn, tác giả viết: “Giấc mơ ngắn nhất, chưa đầy một phút đã xảy ra ngay tại lớp học. Tôi và Thuỵ dẫn thằng Vĩnh ra công viên Thủ Lệ, que kem cốm chưa kịp mút miếng nào thì thằng Vĩnh bị một con đười ươi mười tám tháng bắt làm con tin. Tôi sợ quá bưng mặt khóc. Lũ học trò quay ra ngơ ngác” [150, tr.117]. Những lời tường thuật “kiểu” như thế này bình thường làm gì có trong thực tế. Người đọc cứ thế hoang mang, chông chênh, không hiểu mình đang đứng ở đâu, văn chương hay cuộc sống, mơ hay thực? Và cái sự chông chênh, phi lý này đã tạo nên một khoảng cách khá rõ nét giữa văn chương và cuộc sống thực tại. Khoảng cách này liên tục co giãn, xô đẩy người đọc vào cuộc chơi ngôn ngữ và óc tưởng tượng. Như vậy, tiểu thuyết của Thuận trong tương quan với tiểu thuyết truyền thống, tiểu thuyết đương đại ở Việt Nam cũng như tiểu thuyết Pháp, luôn có sự kế thừa và đổi mới về nội dung và nghệ thuật. Bằng những thể
nghiệm khác nhau, qua các tác phẩm của mình, Thuận cuốn độc giả cùng “chơi kết cấu”
với những “cuộc phiêu lưu của lối viết” đầy ấn tượng. Cũng thông qua đó, Thuận đã thể hiện được tài năng, bản lĩnh và sự chuyên nghiệp của một nhà văn đam mê với nghề.
Tóm lại, dù là Nguyễn Bình Phương, Thuận, hay các nhà văn khác thì họ luôn xây dựng những sắc màu riêng biệt, theo đó, họ cũng thiết lập những quy ước đối với độc giả. Ban đầu có thể độc giả sẽ “khó chịu” bởi tác phẩm không hề dễ đọc, nhưng đọc đi đọc lại, độc giả lại khám phá ra những vỉa tầng mới của tác phẩm. Điều đó càng thu hút sự quan tâm của độc giả nhiều hơn. Không phải ngẫu nhiên các tác phẩm bị xem là khó hiểu của Nguyễn Bình Phương hay Thuận lại dành được nhiều giải thưởng và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới đến vậy. Khi vượt ra khỏi ranh giới của lối đọc truyền thống thì những tác phẩm của họ sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc...