Chương 4. SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC HÌNH THỨC VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HOÁ TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
4.2. Huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
4.2.1. Khám phá bản chất phi lý của hiện thực
Không bằng lòng với sáng tác đầu tay khá tẻ nhạt, Tạ Duy Anh nỗ lực không ngừng tìm kiếm hình thức thể hiện mới. Có thể thấy những tiểu thuyết gần đây của nhà văn mang sắc thái, tinh thần hậu hiên đại với những thể nghiệm khá thành công, trong đó tần số xuất hiện dày đặc của cái phi lí rất đáng được quan tâm, trở thành một hiện tượng khu biệt. Với Tạ Duy Anh, cái phi lí được vận hành theo phương cách phù hợp với nhiệm vụ quan điểm, lập trường và dụng ý nghệ thuật cá nhân. Nó không được cài đặt duy nhất như những tác phẩm văn học phi lí mà đan xen, lồng ghép vào tiến trình câu chuyện. Sự phi lí đậm nhạt tùy mức độ, tự nhiên đến mức ngưới đọc không hề ngờ vực về bản thân chúng. Quan trọng nhất là nó nằm trong logic đời sống, nhà văn vì vậy mà thể hiện nó “như không có gì phi lí cả” [117; tr.387]. Cấu trúc xây dựng cái phi lí thông qua phương thức tổ chức chỉnh thể tác phẩm cũng như chu trình lựa chọn vị trí thích hợp để cái phi lí có cơ hội xuất hiện rõ nét trong tác phẩm Tạ Duy Anh có sự khác biệt so với các tác phẩm thuộc loại hình văn học phi lí. Hơn nữa, ngôn từ - lớp vỏ tư duy đã được Tạ Duy Anh khai thác triệt để. Sự phá hủy nó xuất hiện
nhưng chủ yếu của những mẩu đối thoại ngắn chứ không diễn ra trên diện rộng hoặc hầu khắp tác phẩm. Và phương thức huyền thoại hóa đã góp phần trong việc khám phá bản chất phi lí của hiện thực.
Tạ Duy Anh cho rằng “cái mà tiểu thuyết quan tâm không phải là thế giới này thế nào mà thế giới nó tạo ra sẽ ra sao” [117; tr.397], và “phi lí” chỉ là một trong những nghệ thuật đắc dụng nhằm tạo dựng nên một không gian không giản đơn là tòa lâu đài bằng trí tưởng tượng mà “bản thân nó là sự thăng hoa và khi có nó thì ý tưởng tượng chính là hình ảnh siêu thực về một thế giới khác” [117; tr.404]. Hữu lý từ vô thức, hiện thực phi lý đã thoát khỏi thân phận mù mờ, bí ẩn để hóa thân vào nhận thức, lý chí con người, để những tác phẩm nghệ thuật không chỉ sắm vai trò chơi chữ nghĩa.
Đọc Tạ Duy Anh, dễ dàng nhận thấy nhiều sự việc được tổ chức và sắp xếp trái với logic thông thường, hoặc lộ liễu đó chỉ là hư cấu, bịa đặt chứ không thể xảy ra trong thực tế. Yếu tố hiện thực làm cho tác phẩm Tạ Duy Anh có nội dung xã hội, kéo người đọc về phía cuộc đời, nhưng cách nhìn theo logic đời thường thật không dễ truyền tải được thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Trong khi đó, yếu tố phi lí sẽ tăng cường hiệu ứng tâm lí - thẩm mỹ làm cho người đọc phải làm việc một cách tích cực, độc giả vì thế có thêm khả năng lựa chọn để tự tìm cho mình một lời giải xuyên qua bức màn sương khói của cái không thực.
Trong Đi tìm nhân vật, không gian gói gọn ở một khu phố G mà có biết bao điều đáng sợ xảy ra. Bức tranh hiện thực ngột ngạt của quyền lực, cái chết, sự đồi bại… có sức ám ảnh lớn đối với người đọc. Những cái khủng khiếp trong tác phẩm là có thật nhưng đôi khi cũng là do con người bịa đặt, tưởng tượng ra. Và đối diện với hiện thực ấy, con người có lúc không phân biệt thực hư. Chuyện thật tưởng bịa và chuyện bịa lại khiến người ta tin là có thật. Cuối cùng, cái cốt yếu là những điều ấy đều có thể là sự thật.
Tạ Duy Anh không chỉ phản ánh một hiện thực như nó vốn có mà còn tạo ra một hiện thực như nó có thể có. Thiên thần sám hối là tác phẩm thể hiện rõ điều đó.
Nhà văn đã xây dựng một nhân vật không có thật để phản ánh cuộc sống hiện tại.
Nhân vật “bào thai” đã có được cái nhìn về hiện thực cuộc sống bên ngoài bằng đôi tai thính nhạy của mình. Hiện thực cuộc sống vì thế thực chất là hiện thực được tưởng tượng bởi thai nhi. Song hiện thực ấy không phải là không thể có thật, mà ngược lại đó là một hiện thực trần trụi với tất cả những tội ác, mưu toan vốn có của con người. Chúng ta không hoài nghi chuyện có hay không một thai nhi có thể nghe thấu và suy ngẫm mọi điều về cuộc sống bên ngoài, chúng ta cũng không lấy làm lạ chuyện một người mẹ vui mừng khi được nhận tiền chi phí cho việc đồng ý ngâm
cồn những đứa con của mình, mà cái chính là cảm giác đớn đau khi chứng kiến sự tha hóa về đạo đức của con người. Tạ Duy Anh đã tạo ra nhân vật tưởng tượng - nhân vật bào thai - đứa bé trong bụng mẹ chỉ còn bảy hai giờ sẽ chào đời. Ngay từ đầu tiểu thuyết, thai nhi dường như thách đố độc giả bằng lời giáo điều: “Đừng ai nghi ngờ chuyện này như kiểu nhiều độc giả thiếu tưởng tượng. Bởi xét cho cùng thì các vị không phải là tôi nên làm sao biết rằng tôi không hề và không thể bịa tạc”
[118, tr.254]. Tạ Duy Anh lấy sự tưởng tượng làm gốc rễ cho nhân vật. Nằm trong bụng mẹ, bào thai lắng nghe cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình. Cuộc đời qua những gì thai nhi được biết thật nghiệt ngã, chua chát, vô lương. Bào thai kinh sợ, nấn ná chưa muốn chào đời. Nó phân vân về tồn tại hay không tồn tại? Ở đây, sự sinh nở không còn là lẽ tự nhiên của tạo hoá mà thai nhi tự quyết định số phận của mình. Nó phán xét mảnh đất mà nó sẽ sống và làm phép thử cho những bậc sinh thành, xem họ có xứng đáng là cha là mẹ. Hai lần bào thai định chui ra làm người nhưng rồi dừng lại vì nỗi nghi ngờ rằng cuộc sống có đáng sống hay không? Và “ vào cái ngay cuối cùng đáng nhớ so với thời hạn tôi cần phải đưa ra quyết định có nên ra đời hay không...”
[118; tr.340], thai nhi nghe được tiếng nói của người mẹ rằng con có thể nguyền rủa phần thế giới còn đầy tội ác bất công, nhưng cuộc sống là ân sủng lớn nhất. Chính những lời nói trong ý nghĩa ấy của người mẹ đã thôi thúc bào thai quyết định chào đời.
Thai nhi đã chủ động đến với cuộc sống như chấp nhận một cuộc thách đấu với bóng tối, cái ác và cái chết. Có thể nói, sáng tạo nên nhân vật bào thai, Tạ Duy Anh đưa ra ẩn dụ về thân phận con người. Nhân vật bào thai với câu chuyện kể của nó khi còn nằm trong bụng mẹ là biểu tượng về một sự nghiệm sinh cõi đời từ trong tiền kiếp, một quá trình nhọc nhằn, đau khổ nhưng đầy hạnh phúc của cuộc sống. Câu chuyện của bào thai gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn hoang mang về kiếp người, sự suy tư sâu sắc về cõi chết và cõi sống, về tội ác và trừng phạt.
Ở Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh chọn kể một câu chuyện có vẻ hoang đường với nhiều tình tiết li kì, nhưng ẩn đằng sau nó là một hiện thực với bao sự kiện, biến cố gắn liền với số phận của bao con người rất thật. Chọn không gian hẹp chỉ trong một làng quê nhưng Tạ Duy Anh đủ sức tái hiện được bức tranh của cả xã hội ở quá khứ lẫn hiện tại. Đấy vẫn là một xã hội với nhiều điều khủng khiếp - một xã hội với đầy rẫy cái ác, cái xấu. Bóng tối dường như bao trùm lên tất cả, chi phối tất cả. Nó dồn nhân vật vào đường cùng không lối thoát và nó cũng khiến cho người đọc khiếp đảm. Như vậy, Tạ Duy Anh đã đặt ra được những điều cần thiết mà xã hội cần xem xét lại, đó là sự xuống cấp về nhân phẩm, sự tha hóa về tính cách của con người.
Chính con người đã tự tàn phá nhân phẩm, tư cách làm người của mình. Tuy nhiên,
tác giả không mất hết niềm tin ở con người. Ông sẵn sàng gửi gắm niềm tin ấy ở ngay những thân phận hèn mọn như cô gái làm tiền hay thằng bé lang thang. Bằng tất cả tình cảm và sự điêu luyện trong lối viết, Tạ Duy Anh đã tạo ra một hiện thực nhập nhằng như chính cuộc sống của thời hiện tại mà chúng ta đang sống. Để từ bỏ cái xấu không phải là việc dễ dàng, song con người không bao giờ bị mất đi niềm hi vọng. Cái thiện như một ánh sáng le lói trong đêm đen của cái ác. Thế nhưng, cuối cùng, cái thiện vẫn tồn tại, nó thoát ra khỏi bóng tối dẫu bao lần bị chà đạp, xô đẩy tưởng chừng không đứng vững được. Bóng tối của cuộc đời và bóng tối của chính mỗi con người bị đẩy lùi. Đấy là niềm tin, niềm hi vọng của tác giả vào cuộc đời, vào con người. Nó giữ cho người đọc đứng lại được bên bờ vực thẳm của bóng tối và cái ác. Nó khiến cho ta thấy cần phải sống như thế nào để loại bỏ được bóng tối ra khỏi cuộc đời. Đấy chính là giá trị nhân bản mà tác phẩm mang lại.
Tạ Duy Anh còn là nhà văn có cái nhìn mới mẻ, độc đáo về hiện thực của quá khứ. Trong các tác phẩm của mình, Tạ Duy Anh đã cố gắng tạo ra một thế giới hiện thực
“không đáng tin cậy”. Vì thế, theo lời mở đầu của người dẫn chuyện thì câu chuyện đã xảy ra, và người đọc có quyền tin hay không về tính chân thực của câu chuyện được kể.
Đọc tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, đôi khi chúng ta không thấy mối liên hệ rõ ràng giữa nhân vật với hiện thực xã hội, giữa bạn đọc với thực tại trong tác phẩm hay cuộc đời đang sống. Bởi tác giả đã từ cái nhìn của thì tiếp diễn mà chiếu ngược trở về quá khứ đã qua, từ cái nhìn của một kẻ “lạc loài” tự tách mình ra khỏi đám đông nhân quần mà đứng xa trông lại. Chính cái nhìn ấy làm “lạ hóa” hiện thực cuộc sống. Điều đó khiến người đọc tưởng tác giả hoàn toàn hư cấu, tưởng rằng giữa tác phẩm và hiện thực không hề có sợi dây liên hệ nào. Để rồi sau đó độc giả mới nhận ra rằng hiện thực qua tác phẩm đã được phủ lên lớp sương mờ. Thông qua lớp sương mờ ảo ấy, người đọc khám phá hiện thực. Chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn cho tiểu thuyết của nhà văn này. Trong Thiên thần sám hối, ngay từ lời tựa, tác giả đã khẳng định đây là “một câu chuyện khó tin” và điều quan trọng là người đọc “sẽ còn ám ảnh về chuyện có thể tin được hay không?”.
Chính vì thế mà người đọc có thể liên tưởng, chiêm nghiệm song không hề đối chiếu những điều được nhà văn kể với hiện thực ngoài đời để đòi hỏi nó phải như thật. Tất cả các câu chuyện đều được kể bởi một thai nhi chưa ra đời - một điều hoàn toàn không thực. Nhưng trong suốt tác phẩm, người đọc không hề hoài nghi chuyện có thật hay không một hài nhi lại có thể nghe thấu, suy ngẫm và triết lí về cuộc đời. Đọng lại trong mỗi người sau khi đọc tiểu thuyết này là một hiện thực trần trụi khá tàn khốc. Nó cho thấy những mặt “khuất lấp” xấu xa, thấy cái ác còn ngự trị trong mỗi con người. Như vậy, hiện thực không chỉ là cái “cầm nắm” được, miêu tả được mà hiện thực còn là
những ám ảnh chập chờn, là niềm tin, tín ngưỡng… xuất hiện trong đời sống tinh thần, tâm linh của con người. Với tiểu thuyết này, Tạ Duy Anh đã tạo ra một hiện thực bằng cái phi lí, kì ảo. Chính cái phi thực ấy là nhằm mục đích không phải để người đọc tin vào hiện thực được mô tả mà cốt để khơi gợi suy ngẫm, kích thích đối thoại.
Như vậy, thông qua các tác phẩm của mình, nhà văn đã cho thấy sự tự giải phóng mình khỏi quan niệm đơn giản, nhất thành bất biến về hiện thực, để bằng trí tưởng tượng trình bày một quan niệm riêng về hiện thực.