Hạn chế và nguyên nhân

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 121 - 125)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

3.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh qua số liệu điều tra

3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

111

Dù đạt nhiều kết quả khả quan phát triển NNLCLC tại các KCN ở TP.HCM trong hội nhập KTQT vẫn bộc lộ những khó khăn:

- NNL và NNLCLC chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu cả về số lượng và chất lượng trong điều kiện mới. Trong bối cảnh hội nhập KTQT, yêu cầu và tiêu chuẩn mới của lao động ngày càng tăng lên, việc đáp ứng các tiêu chí ngày càng khó khăn đối với NLĐ. Thực tế này không chỉ riêng TP.HCM mà còn diễn ra ở rất nhiều địa phương có các KCN khác trên cả nước.

- Công tác bồi dưỡng và đào tạo còn nhiều bất cập, thiếu chuyên nghiệp, ngắt quãng, chưa bài bản. Do các ngành nghề trong các KCN đa dạng nên việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng gặp không ít khó khăn. Đặc biệt, với những ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao phải là chuyên gia giỏi thì chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình trạng thâm hụt lao động chất lượng cao vẫn diễn ra.

- Công tác tuyển dụng, thu hút lao động chưa phát huy hết hiệu quả. Các kênh thông tin truyền thông còn chậm trong việc đưa tin tức và yêu cầu tuyển dụng tới NLĐ có nhu cầu.

- Về cơ cấu NNL chưa cân đối: Nhiều DN trong KCN ít có chiến lược trong tương lai, dẫn đến bố trí lao động bất hợp lý, kém hiệu quả, mất cân đối cung cầu, các vị trí chủ đạo vẫn phụ thuộc chuyên gia nước ngoài, NNL trong nước chưa thay thế được. Nhiều DN trở ngại trong công tác tuyển dụng lao động chuyên môn kỹ thuật cao. Đặc biệt, ở một số ngành đặc thù như vi điện tử, điện tử, bán dẫn… Việc thiếu công nhân lành nghề, thiếu đào tạo bài bản trong các ngành có hàm lượng công nghệ cao.

- Về chính sách đãi ngộ thăng tiến chăm lo đời sống NLĐ có lúc có nơi chưa quan tâm đúng mức, tình trạng lao động nhảy việc, bỏ việc vẫn diễn ra.

- Về công tác dự báo nhân lực cho các thời kì chưa phản ánh đúng thực tế nhu cầu lao động của các doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

3.4.2.2. Nguyên nhân

* Nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý tại TP.HCM

- Việc Quy hoạch mở rộng KCN trên địa bàn còn thiếu định hướng, chiến lược, tầm nhìn. Nhiều KCN được quy hoạch gần khu dân cư mà không phối hợp

112

chặt chẽ với quy hoạch thành phố qua đó chưa có không gia để phát triển các điều kiện nhằm thu hút và phát triển NNLCLC trên địa bàn TP.HCM.

- Các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng còn thiết thực tiễn. Hệ thống giáo dục đào tạo nghề của TP.HCM chưa bám sát nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn, thiếu tính gắn kết giữa đào tạo và thực hành. Chương trình dạy nghề chưa liên kết với nhu cầu thị trường lao động, cơ sở đào tạo phân bố không đồng đều, trình độ tay nghề còn yếu. Cơ cấu ngành nghề thay đổi chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, gây lãng phí lao động đã qua đào tạo và công tác tuyển sinh cũng chưa phát huy.

- Hoạt động thu hút những doanh nghiệp ngành công nghiệp chủ đạo còn bất cập; hạ tầng kỹ thuật chưa hiện đại; một số KCN gặp phải không ít trở ngại trong bồi thường cho quy hoạch; lao động lành nghề không đủ các tiêu chuẩn kỹ năng doanh nghiệp đặt ra; thiếu nhà ở cho chuyên gia và dịch vụ công cộng.

- Việc thu hút NNLCLC tới thành phố gặp cạnh tranh từ các tỉnh thành khác như Bình Dương, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai cũng đang triển khai thêm các KCN; lao động có xu hướng trở về quê làm việc, “ly nông không ly hương” đã trở thành phong trào, nhất là sau đại dịch Covid - 19.

* Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn TP.HCM - Phần lớn các DN trong các KCN trên địa bàn TP.HCM có xuất phát điểm về trình độ công nghệ thấp, tiềm lực tài chính có hạn. Dưới áp lực cạnh tranh và yêu cầu hội nhập KTQT, nhiều DN buộc phải đầu tư, nâng cấp và hiện đại hóa máy móc, trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật. Kèm theo đó là nhu cầu thu hút, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng NNL và NNLCLC ngày một lớn, đã dẫn đến sự thiếu hụt NNLCLC.

- Chất lượng đào tạo và hoạt động đào tạo tại các DN trong KCN không theo kịp các tiêu chím yêu cầu của DN ở KCN, đồng thời chương trình đào tạo chưa phù hợp với thực tế và yêu cầu chuyên môn.

- Năng lực tài chính của các doanh nghiệp còn hạn hẹp và nguồn lực còn thiếu nên không thể đầu tư đúng tầm cho phát triển NNLCLC.

- Việc đẩy mạnh thu hút NNLCLC đến từ các tỉnh ngoại thành TP.HCM có nhiều trở ngại do thiếu đất đai làm nhà ở cho NLĐ.

113

Tiểu kết chương 3

Chương 3 của Luận án, NCS nêu lên thực trạng NNLCLC tại các KCN ở TP.HCM trong bối cảnh hội nhập KTQT trong giai đoạn 2019-2023. Kết quả chỉ ra về cơ bản NNLCLC làm việc tại các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn thành phố đã đáp ứng về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL gắn với vị trí việc làm trong doanh nghiệp. Các hoạt động nâng cao chất lượng gắn với thể lực, trí lực và tâm lực được các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý quan tâm. Đặc biệt việc thu hút, tạo động lực cho NNLCLC làm việc tại các KCN đã được quan tâm thông qua chế độ đãi ngộ và tạo lập môi trường làm việc hiện đại, tiên tiến gắn với bối cảnh hội nhập KTQT. Công tác bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ NNLCLC đã được cả chính quyền thành phố và các doanh nghiệp tại các KCN quan tâm triển khai gắn với những yêu cầu của công việc cũng như yêu cầu của bối cảnh mới.

Bên cạnh đó, đề tài thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC tại các KCN trên địa bàn thành phố trong bối cảnh hội nhập KTQT, kết quả xử lý dữ liệu khảo sát thông qua phần mềm SPSS và các dữ liệu thứ cấp thu thập được cho thấy cả 08 yếu tố đều tác động thuận chiều đến quá trình phát triển NNLCLC tại các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn thành phố, đặc biệt là yếu tố “Thị trường lao động tại KCN” và “Bối cảnh hội nhập KTQT” là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc phát triển NNLCLC tại các doanh nghiệp.

Trên cơ sở các nguồn tài liệu cùng với sự khảo sát trực tiếp, NCS chỉ ra những vấn đề đã đạt được và những vấn đề còn hạn chế trên 3 phương diện: phát triển về số lương, phát triển về chất lượng, cơ cấu tổ chức NNL. Từ đó, luận án đã đi đến đánh giá thực trạng chung về nâng cao chất lượng NNL, NNLCLC và những nội dung đạt được, những tồn tại và nêu ra được lý do của những tồn tại đó. Trên cơ sở những tồn tại hạn chế này, là cơ sở cho tác giả luận án đề xuất các giải pháp ở Chương 4.

114 CHƯƠNG 4

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 121 - 125)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(181 trang)