CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến luận án
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến khu công nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các khu công nghiệp
Theo C. Mác phát triển là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng của mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên. Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn biến đổi và không ngừng biến đổi và con người cũng không ngoài quy luật đó. Sự biến đổi và phát triển là một hình thái bao gồm cả chất và lượng, phát triển chất lượng con người là giải phóng sức lao động và lực lượng sản xuất. Khi đã phát triển và giải phóng thì con người nâng tầm trí tuệ và tri thức, cải tạo xã hội, nâng cao cuộc sống và sản xuất ra càng nhiều của cải vật chất có chất lượng cao; lúc này con người quay trở lại và tác động vào tự nhiên và tiếp tục cải tạo, biến đổi và tiếp tục phát triển.
Triết học Mác - Lê cũng nêu rõ: Muốn giải phóng giai cấp, sức lao động, sức người trong sức sản xuất không con đường nào khác là giáo dục và đào tạo để tạo ra những con người mới có giá trị, có chất lượng. Khi đã được giáo dục và đào tạo thì con người sẽ phát triển được năng lực cá nhân và năng lực quản lý và cải tạo xã hội.
Một số các nghiên cứu khác cũng nêu rõ tầm quan trọng của giáo dục đối với việc phát triển NNL, theo các học giả Waldrop, Sharon Anne [112], Marquardt (2011), Stella M. Nkomo, Myron D. Fottler, R. Bruce McAfee (2010) đều nhấn
13
mạnh rằng mối liên kết chặt chẽ giữa phát triển NNL và các yếu tố như giáo dục học, y tế, dinh dưỡng là cốt lõi tất yếu. Họ quả quyết rằng việc phát triển hệ thống giáo dục và thúc đẩy đổi mới công nghệ là yếu tố trọng tâm để xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, có kiến thức, có trình độ và từ đó nó là thước đo thúc đẩy tăng trưởng và phát triển KT-XH.
Phát triển năng lực cá thể: Phương pháp này tập trung chuyên sâu vào việc nâng cao NNLCLC bằng cách phát triển các kỹ năng cá thể như tư duy phản biện, làm chủ thân tâm, và sự năng động.
Phát huy tác dụng của NNL: Các nghiên cứu của Cakar F, Bititci US và MacBryde J. (2003), Sharon Amstrong (2010), Jeffrey A. Mello (2010) khẳng định và chỉ ra tầm quan trọng của quản lý NNL trong môi trường biến động. Các tác giả chỉ ra việc sử dụng tốt và hiệu quả NNL, người sử dụng lao động cần lên kế hoạch để quản lý tốt NNL và đào tạo có tổ chức để phát triển kỹ năng, năng lực nghề nghiệp nhằm phát huy NNL hiệu quả, nhất là NNL trong các KCN trong bối cảnh hội nhập KTQT. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra ảnh hưởng và tác động rất lớn từ các cơ chế, chính sách của nhà nước trong việc nâng cao kiến thức, môi trường pháp lý và hệ thống giáo dục đến sự phát triển NNL ở các cấp địa phương và khu vực.
Phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo: Graham Beaver and Jim Stewart (2004), nhà kinh tế học người Mỹ nhấn mạnh rằng: Những ai muốn tham gia vào nền kinh tế tri thức, trước hết phải là người có tư duy sáng tạo, bùng nổ sáng tạo và trở thành người sáng tạo, không chỉ là người phản ứng với thế giới. Họ nêu lên tầm quan trọng của việc phát triển năng lực cá nhân, tư duy sáng tạo và đột phá trong tư duy để nâng cao khả năng tổ chức và thích ứng với môi trường thay đổi, cạnh tranh cả bên trong và bên ngoài tổ chức.
Hành động hướng tới thành công và biết làm chủ tinh thần: Trong cuốn sách
“Thành công vỹ đại”, Beer, M., Spector, B., Lawrence (1984), cho rằng các yếu tố then chốt để đạt tới sự thành đạt là con người phải làm chủ trí tuệ và làm chủ tri thức, đưa ra các quyết định đúng đắn kịp lúc, phát triển các kỹ năng, thiết lập chiến lược rõ ràng và quản lý tốt các mối quan hệ. Điều này tạo ra những con người có năng lực và nền tảng của NNL có chất lượng cao.
Nâng cao trí tuệ và làm chủ xúc cảm: Stella M. Nkomo, Myron D. Fottler R, Bruce Mc Afee, (2010), lại cho rằng kiến thức và xúc cảm là yếu tố quyết định thành đạt của con người. Theo các nhà nghiên cứu, con người và tổ chức không chỉ được đánh giá qua tri thức hay chuyên môn mà còn qua cách họ tương tác với cộng
14
đồng, sự ứng xử khéo léo, nhạy cảm với môi trường xã hội chung quanh thì đó chính là xúc cảm. Trí tuệ và xúc cảm hướng vào các phẩm chất bên trong cá thể như thông cảm, tha thứ, sự sáng tạo, khả năng thích nghi, khả năng thuyết phục… thay vì chỉ chú trọng vào kiến thức học thuật.
Thông qua truyền cảm hứng và kích thích cảm hứng lao động. Các học thuyết nổi bật trong lĩnh vực này bao gồm học thuyết về tăng cường tích cực của Skinner, Học thuyết Monica Lee (2012), Học thuyết công bằng của Adams, Học thuyết đặt mục tiêu của Locke, Học thuyết về hệ thống nhu cầu của Maslow và Học thuyết hai nhân tố của Herzberg đã chỉ ra biện pháp tăng cường tinh thần lao động nhằm giải thích cách thức thúc đẩy động lực làm việc, nhân tố cốt lõi trong việc cải thiện năng suất và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Các nhà nghiên cứu Nguyễn Vân Anh (2015), Nguyễn Thị Lan Anh (2012), Bùi Sỹ Tuấn (2012), Nguyễn Thanh Quý (2016), xác định ba nhóm tiêu chí chính để đánh giá chất lượng NNL đó là nhóm tiêu chí cơ cấu; nhóm tiêu chí số lượng;
nhóm tiêu chí chất lượng. Tác giả Hồ Công Đức (2025), tiếp cận phát triển NNLCLC trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tại các KCN trong bối cảnh cạnh tranh thương mại với các hướng tăng cường số lượng và bảo đảm trình độ đào tạo;
nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của nguồn nhân lực… qua đó xác định rõ các tiêu chí cần thiết cho quá trình phát triển NNLCLC đối với các nội dung này.
Tác giả Hoàng Văn Tú (2023), cho rằng: TP.HCM là một đô thị đặc biệt, lớn nhất cả nước về dân số và quy mô kinh tế; là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ; là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước nói chung. Để xây dựng thành phố văn minh, hiện đại, đóng góp ngày càng lớn cho khu vực và cả nước, TP.HCM rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập. Đồng quan điểm liên quan đến phát triển NNLCLC của TP.HCM, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lệ (2023), NNLCLC được TP.HCM xác định là một trong những yếu tố quyết định, tăng lợi thế cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ phát triển, hội nhập và thu hút đầu tư. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vấn đề phát triển NNLCLC càng được TP.HCM coi trọng. Việc các doanh nghiệp tăng cường tuyển dụng NNLCLC để đáp ứng tốc độ tăng trưởng và việc phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới khiến nguồn nhân lực này luôn thiếu hụt. Nguyên nhân chính của tình trạng này được xác định là do cung - cầu “lệch pha”, mối liên kết nhà trường - doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ.
15
Nghiên cứu từ góc độ hội nhập kinh tế quốc tế ở TP.HCM, tác giả Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Văn Sáng (2024), với số lượng doanh nghiệp đứng đầu cả nước, TP.HCM không chỉ dẫn đầu về kinh tế mà còn là một trong những trung tâm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quan trọng. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực hội nhập quốc tế ở TP.HCM có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn ở từng ngành, lĩnh vực khác nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong thực hiện các nhiệm vụ khác nhau; góp phần nâng cao chất lượng NNL, giúp cơ quan, ban ngành từ thành phố cho đến địa phương cần có lộ trình, bước đi đúng đắn, phù hợp để khai thác, sử dụng NNLCLC trong thời kỳ hội nhập, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
Có thể nói rằng, việc phát triển NNL bao gồm các nhân tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Các nhà nghiên cứu nêu rằng sự linh hoạt trong công việc; khả năng áp dụng kiến thức; giải quyết vấn đề, giao tiếp và khả năng thích ứng cũng có ảnh hưởng. Ngoài ra, các nghiên cứu nhấn mạnh về quy trình đào tạo, quy hoạch, quản lý, quy trình tuyển dụng, sự khuyến khích, tạo động lực và trình độ của NLĐ làm việc trong tổ chức… Như vậy, có thể hiểu rằng phát triển NNL và NNLCLC là sự tăng lên về quy mô, về số lượng, và chất lượng của con người trong các hoạt động xã hội.
Như vậy, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về NNL và phát triển NNLCLC nhưng vẫn còn điểm khác nhau trong các khái niệm, tiêu chí, nhận thức. Sự khác biệt về các tiêu chuẩn đánh giá và vai trò của các bên liên quan trong phát triển NNLCLC là không thể tránh khỏi.