CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.2. Khu công nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp
2.2.3. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp
Vì NNL tại KCN có đặc tính đặc trưng riêng và đồng thời các đặc trưng của KCN cũng tác động tới sự phát triển NNL theo các yếu tố được liệt kê sau đây:
Thứ nhất, sản xuất công nghiệp có đặc trưng là thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và có phạm vi hoạt động thu hẹp vào lĩnh vực công nghiệp nên lực lượng lao động tại các KCN là bộ phận hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Bộ phận chiếm phần đông trong hoạt động sản xuất này chịu tác động vào đặc thù ngành nghề và tiến bộ công nghệ nên NNLCLC tại các KCN chịu tác động của 2 yếu tố quan trọng sau đây: (i) kết cấu lĩnh vực mang tính công nghiệp và (ii) tiến bộ công nghệ trong đầu tư cơ sở hạ tầng tại các KCN. Mục đích chiến lược mà các KCN hướng đến là phải luôn song hành giữa phát triển kỹ thuật khoa học hiện đại và các cách thức quản trị tiên tiến để ngày càng làm hoạt động kinh doanh sản xuất phát triển và đồng thời đóng góp các giá trị thiết thực vào sự tiến bộ của KTXH. Đứng trước các yêu cầu đặt ra cho các KCN, NNLCLC cần phải đạt được trình độ văn hoá, phẩm hạnh và có tác phong kỹ năng làm việc thiết yếu, có đủ khả năng thực hiện các yều cầu sản xuất công nghiệp đề ra. Vậy nên cần chú trọng công tác rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng và cả thời gian để tích luỹ kinh nghiệm trong môi trường có tích chất làm việc nhóm, hợp tác và phân công lao động và sản xuất ngày càng yêu cầu khắt khe.
31
Những quan điểm lý luận về sự phát triển nêu rõ: các KCN có xu hướng chuyển đổi từ việc thu hẹp quy mô sử dụng lực lượng lao động giản đơn sang mở rộng quy mô sử dụng lực lượng lao động có tay nghề cao, tiên tiến và có khả năng áp dụng công nghệ vào sản xuất, sau khi bước qua thời kỳ của sự phát triển mang nặng tính chất sử dụng đáng kể lao động và vốn. KCN nếu muốn mở rộng quy mô sản xuất và có lợi thế cạnh tranh bền vững thì không còn cách nào khác ngoài phụ thuộc vào sự tiến bộ tay nghề của NNL và các cải cách trong cơ sở vật chất, đặc biệt là yếu tố công nghệ.
Trong điều kiện ngày nay, dưới sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cùng với xu thế hội nhập và để có thể đứng vững trong thị trường đòi hỏi các công ty, xí nghiệp phải quan tâm tới khoa học và công nghệ, nguồn nhân lục và nhân lực chất lượng cao. Điều này có ý nghĩa sống còn đối với các DN. Với tốc độ phát triển kỹ thuật khoa học nhanh chóng khiến việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt và CLNNL là thứ duy nhất đặc biệt lưu tâm nếu công ty muốn duy trì lợi thế cạnh tranh vì tính chất không thể sao chép của NNL (Jaroslav Vrchota và cộng sự, 2020).
Đối với nước ta hiện nay, đa phần là lao động xuất thân từ nông nghiệp, việc thực hiện CNH, HĐH đất nước, yêu cầu bức thiết chuyển từ lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, cần quan tâm tới việc đào tạo NNL và NNLCLC cho các ngành nghề mới là nhu cầu cấp bách.
Thứ hai, lợi thế cạnh tranh trong việc thúc đẩy mạnh đầu tư và đẩy mạnh quy mô sản xuất trong các KCN là NNLCLC, đồng thời củng cố quá trình CNH, HĐH và định hướng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Dựa trên mặt thực tiễn từ Ấn Độ và Trung Quốc, KCN là yếu tố quan trọng hàng đầu phát triển cho quá trình hoàn tất công cuộc CNH và sở hữu tỷ trọng sản xuất công nghiệp lớn trong cơ cấu nền kinh tế. Theo đó các KCN trở thành nhân tố chủ chốt quyết định nguồn vốn FDI từ nước ngoài. Các nước đang phát triển có ưu thế lớn về nguồn lao động dồi dào, địa chính trị thuận lợi là điểm mạnh thu hút nguồn vốn từ các nước phát triển.
Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, các nước chủ trương giảm rào cản thuế quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia. Tuy nhiên, các ưu đãi thuế vào lao động giá rẻ dần mất
32
đi lợi thế cạnh tranh và việc NNL được sử dụng hiệu quả là yếu tố tiên quyết chủ đạo trong việc quyết định nguồn vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ, từ đó tác động đến năng suất lao động và mục tiêu lợi nhuận sản xuất kinh doanh. Thực trạng hiện nay ở nước ta đã minh chứng rằng nhiều dự án xây dựng KCN thất bại đều đến từ NNL không đạt yêu cầu.
Thứ ba, sự thành công và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp phục thuộc vào NNLCLC, lực lượng có khả năng đáp ứng với nhiệm vụ của các KCN và các yêu cầu trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Đổi mới kỹ thuật công nghê và cách thức quản trị hiện đại thúc đẩy quy mô sản xuất và góp phần vào sự phát triển kinh tế là những nhiệm vụ hàng đầu được đặt ra cho các KCN (Rafica, 2020). Thực tiễn đã chứng minh, sự phát triển trong hiệu quả kinh doanh sản xuất của các KCN luôn đi kèm với việc áp dụng thành công các hệ thống quản trị và công nghệ kỹ thuật cao tại các doanh nghiệp công nghiệp.
2.2.4. Chủ thể thực hiện phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp
Các KCN đóng vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH của địa phương, là khu vực động lực cho phát triển kinh tế và giải quyết việc làm cho NLĐ. Trong bối cảnh hội nhập KTQT hiện nay, một trong những chìa khóa tạo tiền đề cho phát triển các KCN là phát triển NNLCLC thông qua các cơ chế tuyển dụng, sử dụng, tạo lập môi trường làm việc năng động, sáng tạo… Trong triển khai phát triển NNLCLC có sự tham gia của nhiều chủ thể với vai trò khác nhau, thống nhất tạo động lực cho sự phát triển đội ngũ này:
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về lao động và việc làm. Đây là chủ thể quan trọng thực hiện tham mưu cho chính quyền địa phương xây dựng và triển khai các chính sách về phát triển NNLCLC; thực hiện dự báo nhu cầu về NNLCLC đối với các KCN. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các quy hoạch về mạng lưới đào tạo nghề, gắn kết các cơ sở đào tạo bồi dưỡng đối với các doanh nghiệp tạo các KCN. Đặc biệt, các Ban quản lý KCN được chính quyền giao nhiệm vụ thực hiện các nội dung liên quan đến quản lý phát triển các KCN thì việc theo dõi, báo cáo và có những dự bào về nhu cầu NNLCLC cũng như có những chính sách hỗ trợ thu hút hoặc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao chất
33
lượng NNL của mình… Về cơ bản các cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào phát triển NNLCLC với vai trò định hướng, huy động đầu tư các điều kiện cơ bản để phát triển NNL nói chung và NNLCLC nói riêng tại địa phương.
Thứ hai, các doanh nghiệp tại các KCN là chủ thể sử dụng NNLCLC nên các hoạt động phát triển NNLCLC thường gắn trực tiếp với công tác quản lý nhân sự cũng như hoạt động sản xuất - kinh doanh của đơn vị. Các doanh nghiệp triển khai các hoạt động thu hút NNLCLC thông qua cơ chế tuyển dụng, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng hoặc tạo điều kiện cho NLĐ trong đơn vị tham gia học tập nâng cao trình độ qua đó biến những lao động phổ thông thành NNLCLC cho các vị trí việc làm phù hợp… Về cơ bản, thông qua vai trò của minh các doanh nghiệp đã góp phần vào phát triển NNLCLC tại các KCN trên địa bàn.
Thứ ba, các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng. Một trong những cơ chế quan trọng nhằm phát triển chất lượng NNL trong bối cảnh hội nhập KTQT hiện nay là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp NNL nâng cao được trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp trước khi tham gia vào thị trường lao động hoặc củng cố vị trí việc làm hiện tại… Các trường đào tạo nghề, các cơ sở giáo dục đại học đều thể hiện rõ vai trò trong phát triển NNLCLC tại các KCN khi thường xuyên kết nối các chương trình ngày hội việc làm tại các KCN, các chương trình đào tạo được thiết kế tạo điều kiện cho người học có thể thực hành thực tập tại trường và tại các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh trong các KCN.
Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp về cung cấp NNLCLC…
đều có những vai trò nhất định liên quan đến các hoạt động phát triển NNLCLC tại các KCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc biệt với những biến động của nhu cầu NNL gắn với môi trường làm việc “mở” và chuyển đổi số hiện nay.