CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp
2.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các
2.3.3.1. Các nhân tố bên ngoài khu công nghiệp (1) Bối cảnh hội nhập KTQT
Sự vận động mang tính khách quan giữa các quốc gia hiện nay là toàn cầu hoá và cùng nhau xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu. Mỗi quốc gia là một phần không thể thiếu trong chuỗi cung ứng nhờ vào chuyên môn hoá sản xuất và các lợi thế về khoa học kỹ thuật, phương pháp quản trị, sản phẩm hàm lượng công nghệ - trí tuệ mang lại (Jaroslav Vrchota và cộng sự, 2020). Những lợi thế về nhân công giá rẻ, địa chính trị dần mất đi sức hấp dẫn và hiện đang bị thay thế bởi lợi thế về tiến bộ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực khai thác thị trường. Đây là nhóm lợi thế chỉ có thể hình thành từ tư duy đột phá của nhà quản lý và trình độ chuyên môn cao từ lực lượng lao động. Vì thế, khi tham gia vào thị trường lao động thế giới, các nước nhất là các nước đang phát triển phải xem NNL có chất lượng cao là lợi thế chủ đạo cần dành nhiều nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập.
Hội nhập quốc tế đã, đang là xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh - quốc phòng...) hoặc diễn ra trên cùng nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau. Trước tiên, hội nhập KTQT hình thành môi trường cạnh tranh quy mô lớn, đa dạng thị trường, phù hợp cho các loại hình doanh nghiệp phát triển, nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Bởi vì, sự cạnh tranh mang tính toàn cầu sẽ đặt ra những yêu cầu rất cao cho các hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp khi khách hàng không chỉ là trong nước mà toàn cầu. Chính vì vậy, muốn tồn tại trong bối cảnh hội nhập KTQT, các doanh nghiệp tại các KCN không ngừng đổi mới công nghệ, tập trung đầu tư mạnh mẽ vào sản phẩm của mình khi ứng dụng nhiều hơn các công nghệ mới nhằm tạo ra tính cạnh tranh khi xuất khẩu. Trước tình hình đó, các doanh
46
nghiệp tại các KCN tự mình chủ động thúc đẩy phát triển NNLCLC, để tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài.
Tiếp đến, xu hướng thu hút các FDI vào các KCN. Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế buộc các quốc gia cần có chủ trương gỡ bỏ các rào cản thương mại nhằm thúc đẩy luồng dịch chuyển vốn và lao động khi tham gia thị trường quốc tế, đặc biệt là mở rộng các KCN dựa vào vốn đầu tư FDI. Sức hấp dẫn khiến các quốc gia phát triển rót vốn đầu tư vào các KCN nhiều hay ít nằm ở các yếu tố như vị trí địa chính trị thuận lợi, chính sách giá cạnh tranh và đặc biệt là CLNNL. Các ngành kỹ thuật công nghệ, các phương pháp quản trị, năng lực đánh giá thị trường… nếu muốn đạt hiệu quả cao nhất đều phụ thuộc vào CLNNL. Xu hướng này sẽ tác động đến các chính sách phát triển NNLCLC thông qua việc liên tục tuyển dụng, đào tạo và tạo lập môi trường làm việc cho đội ngũ NNL trong các KCN.
Lực lượng lao động không nằm gói gọn bên trong một lãnh thổ mà đã phát triển trở thành nhiều thị trường khác nhau cùng với sự chuyển dịch tự do khi các quốc gia tham gia vào nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Việc tìm kiếm việc làm ngày càng trở nên khó khăn, điều đó thôi thúc tự bản thân mỗi NLĐ phải tự mình trau dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, rèn luyện tính công nghiệp, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kỷ cương và hợp tác... để kiếm được việc làm và việc làm có thu nhập cao. Việc hội nhập quốc tế đặt ra cho NNL phải có chuyên môn sản xuất cao, năng lực làm chủ, tư duy sáng tạo đi kèm với đó là trình độ ngoại ngữ và thông hiểu tập quán và văn hoá khác nhau của nhiều vùng lãnh thổ. Một vấn đề hạn chế quá trình hội nhập của NNL là bản sắc phong tục văn hoá riêng của từng vùng lãnh thổ. Vì tính chất là một ý thức xã hội đã hằn sâu vào trong tâm lý cá nhân nên để loại bỏ phong tục văn hoá là điều hết sức khó khăn.
(2) Chính sách KT-XH của Nhà nước và địa phương trong bối cảnh hội nhập KTQT
Việc phát triển NNLCLC tại các KCN gắn liền với sự phát triển KT-XH của đất nước và của từng địa phương, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập KTQT. Những yêu cầu đặt ra từ hội nhập với các hiệp định song phương, đa phương sẽ tác động đến chính sách của đất nước, địa phương qua đó tác động mạnh mẽ đến sự mở rộng và quy hoạch đối với các KCN, các ngành nghề lợi thế... kết quả này sẽ tác động
47
mạnh mẽ đến định hướng và xu hướng phát triển NNLCLC. Có thể nói phát triển KT-XH có ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC ở nhiều phương diện:
Một là, các vùng KCN được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế sẽ gia tăng việc làm, đồng thời dễ thu hút đáng kể lượng lớn lao động sẵn sàng làm việc.
Từ đó, giúp mở rộng cơ hội phát hiện NNL có năng lực đáp ứng yêu cầu công việc dẫn đến CLNNL gia tăng.
Hai là, chất lượng cuộc sống góp phần không nhỏ tác động đến CLNNL. Khi kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nhu nhập và ngân sách nhà nước tăng theo. Đối với quốc gia, nhà nước sẽ có thêm dòng tiền để đẩy mạnh hoạt động giáo dục, đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Đối với người dân, phúc lợi sẽ tăng lên đồng nghĩa họ sẽ chú trọng đầu tư về chuyên môn, năng lực cá nhân và giúp gia tăng CLNNL.
Ba là, các ngành nghề mới xuất hiện khi nền kinh tế có chiều hướng tăng lên làm thay đổi tỷ lệ trong cơ cấu lao động, từ các ngành sử dụng nhiều sức người sang các ngành yêu cầu năng lực trí tuệ. Đồng thời, sử dụng những tiến bộ khoa học vào dây chuyền sản xuất nhằm duy trì năng lực cạnh tranh đòi hỏi DN cũng phải tự gia tăng CLNNL. Điều đó không tránh khỏi sự cạnh tranh trong thị trường việc làm và sản xuất, đòi hỏi cả nhà nước, doanh nghiệp và chính NLĐ phải luôn thay đổi liên tục để gia tăng CLNNL.
Bốn là, tồn tại xu hướng gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Điều này đồng nghĩa cơ hội để sử dụng các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục của người dân ở những vùng có thu nhập thấp sẽ thấp đi và có thể kích thích học tập của người dân đang tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn, nhưng cũng dẫn đến tình trạng mất cân đối tỷ lệ cơ cấu trong thị trường việc làm.
Song song với những biểu hiện tích cực, quá trình phát triển và triển khai hệ thống an sinh cũng để lại những hệ lụy phân hóa giàu nghèo, giữa các địa phương, vùng miền.
(3) Chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo quốc gia và địa phương trong hội nhập KTQT
Sự hội nhập KTQT sẽ diễn ra ở mọi khía cạnh của nền kinh tế, trong đó có hệ thống giáo dục và đào tạo, điều này thể hiện rõ trong việc tăng cường năng lực ngoại ngữ, năng lực công nghệ trong các nhà trường nhằm tạo ra những sinh viên,
48
học viên có đủ năng lực để hội nhập với thị trường việc làm toàn cầu. Đặc biệt, tại các KCN thì xu hướng này càng thể hiện rõ khi hầu hết các doanh nghiệp tại đây đều có yếu tố nước ngoài từ vốn, công nghệ cho đến con người tham gia vào quá trình sản xuất.
Có thể nói giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cung cấp NNL cho sự phát triển KT-XH, ảnh hưởng đến chất lượng NNL ở ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Ngoài việc truyền đạt kiến thức, giáo dục và đào tạo còn góp phần cải thiện sức khỏe, sức bền và các phẩm chất thể chất của NLĐ; nâng cao năng lực trí tuệ qua trình độ văn hóa và chuyên môn; phát triển nhân cách và đạo đức nghề nghiệp;
đồng thời trang bị cho NLĐ phương pháp làm việc hiệu quả và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường công việc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, giáo dục và đào tạo trở thành một nhiệm vụ chiến lược then chốt, giúp đảm bảo sự phát triển bền vững và ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ tiên tiến (Gary Dessler, 2011). Hệ thống giáo dục và đào tạo có chất lượng cao quyết định đến khả năng NNL có đáp ứng được nhu cầu làm việc trong các DN. Dựa theo các nghiên cứu, chất lượng của hệ thống giáo dục và đào tạo ảnh hưởng đến CLNNL trên 2 phương diện: (i) Gia tăng số lượng NNL có trình độ chuyên môn làm việc tại các KCN. Số lượng lực lượng lao động tăng theo quy mộ của hệ thống GD-DT, làm tăng thêm cơ hội giải quyết tốt hơn nhu cầu phát triển NNL ở các KCN và (ii) Tăng cường CLNNL ở các KCN.
Càng đầu tư vào GD-ĐT thì càng đảm bảo cơ hội mà NNLCLC giải quyết tốt nhu cầu của các DN đặt ra.
Duy trì hiệu quả kinh tế đặt ra yêu cầu áp dụng các tiến bộ mới về khoa học - kĩ thuật vào trong dây chuyền sản xuất, dẫn đến nhu cầu về NNLCLC có năng lực khai thác triệt để công nghệ hiện đại của các DN. Đồng nghĩa phải gia tăng chất lượng giáo dục và đào tạo nếu muốn tăng cường CLNNL để có thể đáp ứng các nhiệm vụ mà DN đề ra. Vấn đề đặt ra cho hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay là đáp ứng đủ số lượng lẫn chất lượng để xây dựng các KCN sỡ hữu NNLCLC.
(4) Thị trường lao động tham gia vào các KCN trong bối cảnh hội nhập KTQT
49
CLNNL chịu ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường không chỉ thị trường trong nước mà còn thị trường lao động quốc tế do sự dịch chuyển của NNLCLC của các quốc gia theo diện chuyên gia hoặc xuất khẩu lao động. Bất kể thị trường nào cũng do 3 yếu tố cung, cầu, giá cả hình thành nên. Với thị trường lao động bị chi phối bởi cung lao động, cầu lao động và giá trị sức lao động. Trước tác động của xu thế toàn cầu và khoa học công nghệ cao cầu lao động có khuynh hướng dịch chuyển theo xu hướng số lượng giảm dần, chất lượng được tăng lên (Henry J. Sredl & William J. Rothwell, 1997).
Cung về lực lượng lao động là phương thức cung ứng lao động cho xã hội biểu hiện ở số lượng và chất lượng của NNL. Thị trường lao động càng rộng lớn đi đôi với cạnh tranh càng cao làm gia tăng áp lực lên nhu cầu nâng cao CLNNL. Lao động là điểm xuất phát tạo ra nguồn thu và là sinh kế cơ bản của mỗi con người. Vì vây, cạnh tranh là không thể tránh khỏi. Do đó, để có việc làm với thu nhập tốt, mỗi lao động phải không ngừng tự học và tự đào tạo. Trong điều kiện lượng cung quá nhiều, nhưng chủ doanh nghiệp vẫn không tiếp cận được NNL là do CLNNL chưa phù hợp. Điều này gây ra cản trở cho hoạt động kêu gọi đầu tư và thu hút nguồn NLCLC và tác động tới sự phát triển cả về kinh tế lẫn xã hội. Vì vây, trong xu hướng dịch chuyển nguồn vốn đầu tư nước ngoài, mỗi nước cần chú trọng tới nguồn NLCLC.
Tài chính chi cho NLĐ là yếu tố không thể thiếu. Khi NLĐ nhận được thu nhập cao sẽ làm xuất hiện nhu cầu đầu tư vào năng lực sản xuất và đạt được hiệu quả sản xuất tốt hơn. Vì điều này, hầu như mỗi nước đều xem tiền lương là nhân tố cơ bản cho phát triển KT-XH. Tuy nhiên, để nâng mức tiền lương sẽ gặp nhiều bất lợi do tiềm lực của mỗi doanh nghiệp có hạn. Bất kì doanh nghiệp nào cũng khó nâng mức tiền lương cho lao động nếu NLĐ không đem lại hiệu quả cho chính doanh nghiệp đó. Do vậy, NLĐ muốn mức lương tăng lên thì cần đóng góp và nổ lực làm ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, hiểu rõ hơn là nâng cao chất lượng nhân lực.
Hoàn thiện và lành mạnh hóa thị trường lao động là vấn đề mấu chốt cho phát triển nguồn NLCLC. Nhằm đẩy mạnh thị trường lao động cần phát triển các yếu tố sau: (i) Tăng cường chất lượng cung lao động bằng cách tăng cường chất lượng giáo dục, (ii) Nâng cao chất lượng sống và môi trường làm việc để tiếp cận nhiều hơn số lượng NNL và tạo thuận lợi để phát triển sự nghiệp cá nhân, (iii) Thiết lập
50
pháp lý cho thị trường lao động nhằm bảo đảm quyền tự do của NLĐ khi tham gia các cơ hội việc làm khác nhau.
2.3.3.2. Các nhân tố bên trong khu công nghiệp
(1) Chính sách tuyển dụng, bố trí sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp ở các KCN gắn với xu hướng sản xuất kinh doanh trong bối cảnh hội nhập KTQT
Chính sách tuyển chọn và phân bổ NNL được xem là 2 nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến CLNNL trong DN, nhưng chính sách này cần gắn với định hướng sản xuất của doanh nghiệp, gắn với yêu cầu về hàng hóa của các thị trường xuất khẩu mà doanh nghiệp muốn hướng tới: (i) DN tuyển chọn được cá nhân có năng lực thích hợp để đáp ứng công việc, và (ii) Tính hợp lý trong phân bổ NNL. Tuy mục đích sau cùng của tuyển dụng là tìm được cá nhân có năng lực chuyên môn cao và mức lương phù hợp, nhưng thực tế phản ảnh khó có thể thực hiện được mục đích này. Các vấn đề nan giải mà các nhà đầu tư ở nước ngoài thường gặp trong bài toán tuyển dụng: (i) cầu lao động cao, (ii) khu vực KCN không đủ hấp dẫn, (iii) chi phí tăng do không đạt được công suất cần thiết và (iv) cầu lao động không đáp ứng do thiếu năng lực lao động (Gary Dessler, 2011).
Đầu vào đã khó, nhưng làm sao phân bổ NNL để đạt hiệu quả lại còn khó hơn.
Phân bổ không đồng đều NNL sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí và giảm năng lực làm việc. Các nhà quản trị phải có kiến thức về tâm lý, năng lực mới có thể đưa ra các quyết định phân bổ NNL tốt. Vì vậy, yêu cầu đối với người sử dụng lao động, ngoài các năng lực quản trị còn phải am hiểu cả tâm lý xã hội của lực lượng lao động.
(2) Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các DN ở các KCN
Đối với giáo dục và đào tạo, chính phủ và các cơ sở đào tạo đóng vai trò quan trọng và doanh nghiệp giữ vai trò hỗ trợ. Vì tình trạng thiếu cơ sở giáo dục CLC nên các doanh nghiệp có chính sách thúc đẩy các hoạt động đào tạo tại chỗ sau quá trình tuyển dụng. Đào tạo tại chỗ có những ưu thế sau đây: (i) Giúp trang bị cho nhân viên năng lực làm việc phù hợp đúng với yêu cầu công việc mà DN đề ra, (ii) Cải thiện khả năng thích ứng của NNL đối với vấn đề đổi mới khoa học kỹ thuật.
(iii) Nâng cao chất lượng tư duy, đạo đức nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến của NNL (Nova Jayanti Harahap, Mulya Rafica, 2020).
51
Hoạt động đào tạo tại chỗ mà các DN đang áp dụng mang lại nhiều tác động tích cực đến CLNNL theo những lý do sau. Một là, NNL chủ yếu đến từ các vùng có điều kiện kinh tế chưa phát triển, thiếu kỹ năng và tác phong công nghiệp. Hai là, tham gia các khoá học đào tạo bên ngoài đặc biệt khó khăn đối với NNL do có sự bất cập về thời gian, tài chính và tâm lý xã hội. Ba là, DN khó cân bằng giữa chi phí lương và chất lượng lao động, việc đào tạo sau tuyển dụng là chính sách tối ưu.
Những lý do trên giúp cho các hoạt động đào tạo tại chỗ trở thành nhân tố hàng đầu trong quá trình phát triển NNLCLC đáp ứng tốt về chất lượng, chi phí và hiệu quả sử dụng lao động.
(3) Chế độ đãi ngộ và động viên NNL trong DN trong các KCN
Mối quan hệ giữa chi phí sử dụng lao động và CLNNL tồn tại sự tác động qua lại. Chế độ đãi ngộ tốt khuyến khích nhân viên đạt được hiệu quả sản xuất, thúc đẩy học tập và bồi dưỡng trình độ chuyên môn. Các DN cần tập trung vào các chính sách mang lại lợi ích về lương bổng và phúc lợi để cải thiện CLNNL. Đồng thời cũng cần phải cân bằng giữa chi phí của công ty và lợi ích của lực lượng lao động.
Để đạt được mức độ cân bằng, DN cần duy trì mức tăng năng suất bằng hoặc cao hơn với sự tăng của chi phí.
Thù lao ở đây cần được hiểu là cả lợi ích tài chính (lương, hoa hồng, trợ cấp) và lợi ích phi tài chính (nhà ở, bảo hiểm, du lịch). Dựa theo nhiều nghiên cứu, đối với lực lượng lao động trực tiếp, lợi ích tài chính mang lại ảnh hưởng đáng kể so với lợi ích phi tài chính. Ngược lại, lực lượng lao động gián tiếp lại chịu ảnh hưởng nhiều từ các lợi ích phi tài chính.
Điều quan trọng của DN là phải cân bằng được lợi ích phi tài chính và lợi ích tài chính. Lợi ích tài chính chỉ có thể đáp ứng được lợi ích ngắn hạn nên cần đảm bảo đến lợi ích phi tài chính nếu DN muốn lực lượng lao động gắn bó lâu dài. Kết luận rằng, khi đã đảm bảo được nhu cầu cơ bản của NLĐ, nhu cầu về cải thiện năng lực bản thân sẽ gia tăng tạo điều kiện nâng cao CLNNL của doanh nghiệp.
(4) Điều kiện và môi trường làm việc trong doanh nghiệp
Môi trường và điều kiện việc làm có tác động mạnh mẽ đến tinh thần, thể chất, năng suất lao động và tiềm năng phát triển của NNL. Bệnh hay tai nạn nghề nghiệp thường có thể là kết quả của các yếu tố như giờ lao động, nghỉ ngơi, thiết bị bảo hộ và