CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.4. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp và bài học rút ra cho Thành phố Hồ Chí Minh
2.4.2. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp của một số địa phương
2.4.2.1. Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa hàng đầu của nước ta, Hà Nội luôn chú trọng và tiên phong trong công cuộc đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới; đưa ra các chủ trương, chính sách phục vụ sản xuất, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp nhằm thu hút nguồn đầu tư từ bên ngoài cả về vốn, nhân lực chất lượng, nhân lực quản lý và các tài nguyên khác để phục vụ cho sự phát triển nhanh chóng của thành phố. Trong đó, chú trọng tới việc đặt hàng nguồn NLCLC từ các cơ sở đào tạo uy tín trong nước và nước ngoài, đáp ứng được phần nào đòi hỏi cấp bách về tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao hiện nay của Hà Nội cũng như cả nước.
Nghị định số 15 về hợp nhất một số đơn vị hành chính vào Hà Nội làm cho số lượng các KCN tăng lên. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều KCN chưa được lấp đầy. Có nhiều sự ảnh hưởng, nhưng một trong số ảnh hưởng đầu tiên phải nói đến là CLNNL không đáp ứng. Nhiều KCN, nhất là KCN đòi hỏi NNLCLC như: KCN Nội Bài, KCN Thăng Long, KCN công nghệ cao sinh học, KCN Phú Nghĩa, KCN Sóc Sơn … không thu hút đủ NNL, buộc phải sử sụng cả những lao động chưa qua đào tạo và tình trạng thâm hụt vẫn đang diễn ra.
Nguồn lao động của thành phố Hà Nội, tính đến tháng 12/2023, tổng số lao động tại các KCN trong khu vực toàn thành phố là hơn 200.000 người, trong số đó lao động Việt Nam là 189.200 người, lao động người nước ngoài là 1800 người, 77,4% lao động thuộc nhóm tuổi từ dưới 18 đến 45. Cụ thể, nhóm tuổi 18 - 30 là 50,1%; chiếm 27,3% là nhóm 31 - 45. Nhóm tuổi 46 - 50 là 17,8%, lực lượng trên 51 là 4,3% và dưới 18 tuổi là 4,6%. Về phân bổ nghề nghiệp, 65% lực lượng lao động tập trung ở lĩnh vực điện tử, cơ khí chiếm 25%, xây dựng chiếm 8%, và lao động trong các khu vực khác chiếm 2% (Ban quản lý các KCN và chế xuất Hà Nội, 2024).
Cho tới tháng 12/2023, lực lượng lao động có trình độ phổ thông trung học làm việc trong các KCN trên địa bàn thủ đô là 85%, trong đó 55% là lưc lượng lao động có tay nghề. Giai đoạn 2019 – 2023, nhờ tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của
56
cơ quan ban ngành và chủ doanh nghiệp từ đó nguồn NLCLC có tăng lên trên địa bàn Hà Nội. Nhất là đối với doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài chất lượng NNL nâng lên rõ rệt, cụ thể: 54,5% là lao động chuyên môn cao, chiếm 23,6% là lực lượng tay nghề trên bậc 4, một số công ty nước ngoài vượt 62% lao động đã qua đào tạo, đủ trình độ làm việc. Sự chuyển đổi tích cực trên là kết quả của sự nỗ lực từ phía doanh nghiệp, NLĐ và sự ủng hộ tích cực từ thành phố. Các doanh nghiệp đã thực hiện các chính sách phù hợp nhằm gia tăng nguồn lực, bao gồm điều kiện làm việc, cải thiện mức lương và chế độ ưu đãi. Hơn thế nữa, các doanh nghiệp chủ động tăng chất lượng lao động thông qua xét tuyển và quan tâm bồi dưỡng NLĐ.
Về phía NLĐ, họ được môi trường thuận lợi và nhận thức rõ áp lực cũng như yêu cầu công việc thông qua các khóa học và đào tạo, từ đó tự giác nâng cao năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng tốt các tiêu chuẩn công việc.
Đối với thành phố, nhiều chương trình và nhiều dự án được triển khai bao gồm việc huấn luyện nghề cho nông dân, trợ giúp những hộ gia đình không có đất sản xuất và giúp đỡ các hộ hoàn cảnh khó khăn chuyển đổi nghề. Thành phố cũng thúc đẩy các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, tạo điều kiện để phát triển hệ thống các cơ sở và trung tâm khuyến học. Những nỗ lực này đã góp phần tạo môi trường thuận lợi cho việc tiếp nhận và đào tạo lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.4.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Tính đến cuối năm 2023, Đồng Nai có khoảng 35 KCN được quy hoạch với tổng diện tích hơn 12.000 ha, trong đó có 30 KCN đã và đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy bình quân lên đến 82% diện tích. Đồng thời các KCN Đồng Nai thu hút hơn 1.300 dự án FDI với tổng đăng ký hơn 30 tỉ USD.
Tại Đồng Nai nhu cầu NNL và NLCLC chủ yếu là những doanh nghiệp FDI.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tỉnh trong việc phát triển lực lượng lao động với quy mô đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của các doanh nghiệp đang hoạt động ở các KCN. Trước mắt, nhằm đảm bảo tuyển đủ số lượng làm việc trong các KCN, một số doanh nghiệp đã phải tự mình về các địa phương lân cận để trực tiếp chiêu mộ lao động tới Đồng Nai làm việc. Có thể trong số lao động đó, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng doanh nghiệp một lần nữa sàng lọc, sắp xếp, bồi dưỡng thêm để tạm thời đảm nhận công việc.
57
Qua quá trình làm việc, NLĐ chưa kịp thích nghi thì doanh nghiệp tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng tay nghề, lựa chọn những NLĐ có năng lực xuất sắc để đưa vào những dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm địa lý, KT - XH, việc đi lại còn nhiều khó khăn, hạ tầng xuống cấp, xa khu dân cư và một số điều kiện về giải trí, học tập còn hạn chế nên NLĐ chưa mặn mà tới làm việc. Cùng với đó, thu nhập của NLĐ tại các KCN còn thấp nên tình trạng NLĐ nghỉ việc, nhảy việc tương đối nhiều. Bên cạnh đó, các tỉnh thành lân cận cũng đang triển khai nhiều KCN như Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương…khiến nhiều doanh nghiệp ở Đồng Nai cũng gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng lao động.
Nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp khắc phục và tháo gỡ khó khăn do tình trạng thâm hụt nhân lực, tỉnh Đồng Nai đã đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu các bộ phận có liên quan trong tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp một cách triệt để.
Ngoài ra, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tích cực thúc đẩy hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm, mở rộng cung cấp thông tin về thị trường lao động, đồng thời khích lệ doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ quan nhà nước phối hợp để tổ chức huấn luyện đào tạo kỹ năng làm việc cho NLĐ theo yêu cầu, theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp. Theo đó, các ban ngành của tỉnh đã tích cực truyền thông về thị trường lao động cho người dân trên địa bàn và các tỉnh lân cận trên không gian mạng.
Tỉnh đã chủ động dự phòng quỹ đất xây dựng nhà ở cho NLĐ. Cùng với đó là xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cấp các dịch vụ hỗ trợ khác. Về phía doanh nghiệp cũng đã triển khai nhiều biện pháp giữ chân NLĐ làm việc lâu dài thông qua cải thiện điều kiện lao động, chế độ đãi ngộ, chế độ bảo hiểm, y tế và sinh hoạt cộng đồng cũng được chú ý.
Song song các giải pháp thu hút, tỉnh Đồng Nai xác định rằng giáo dục và đào tạo là giải pháp tối ưu nhất để nâng cao chất lượng NNL nhằm đáp ứng các yêu cầu của các doanh nghiệp trong khu vực. Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai qua các thời kì luôn tạo điều kiện cho công tác giáo dục, trong thời gian ngắn đã thành lập nhiều đơn vị đào tạo có chất lượng và uy tín được các doanh nghiệp đánh giá cao.
Mục tiêu phát triển NNL của tỉnh Đồng Nai chú trọng toàn diện vào ba yếu tố:
cơ cấu ngành nghề, chất lượng và số lượng NNL. Tỉnh cũng đặt trọng tâm vào việc
58
xác định rõ mức độ lành nghề với từng công việc và vai trò của lao động trong từng nhóm ngành sản xuất ở các KCN trên địa bàn tỉnh.