Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp của một số quốc gia

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 63 - 66)

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

2.4. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp và bài học rút ra cho Thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp của một số quốc gia

2.4.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc được đánh giá là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và liên tục duy trì được tốc độ phát triển kinh tế cao. Để làm được điều này, các cấp chính quyền Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp để phát triển NNL, đặc biệt là NNLCLC.

Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả NNLCLC hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức. Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện Chương trình xuất sắc, là sự kết hợp giữa giáo dục và khoa học với kế hoạch hành động hợp tác giáo dục và hàng loạt kế hoạch đào tạo nhân tài khác, đẩy mạnh

53

khai thác các NNLCLC bên ngoài trường đại học, thiết lập cơ chế hợp tác giáo dục giữa doanh nghiệp và trường đại học, thúc đẩy đổi mới và giáo dục đào tạo khởi nghiệp của trường đại học.

Cụ thể, để phát triển NNLCLC một cách tốt hơn, Trung Quốc tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Vốn đầu tư cho nguồn nhân lực chiếm 15% tổng sản phẩm quốc nội. Tỷ lệ đóng góp của nhân tài vào sự phát triển KT-XH ở Trung Quốc chiếm khoảng 35% (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2020).

Sau khi Trung Quốc mở cửa và cải cách, các KCN đã phát triển mạnh mẽ. Đầu tư nước ngoài đổ mạnh vào thành phố cảng lớn nhất của quốc gia này như Thượng Hải, Thành Đô và tràn vào các khu vực xung quanh. Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, đã nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm công nghiệp và công nghệ hàng đầu ở Trung Quốc trong những năm gần đây. Sự phát triển này được thúc đẩy bởi các KCN lớn, được đầu tư bài bản và phát triển mạnh mẽ. Một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các KCN là các chính sách phát triển NNLCLC tại Thành Đô mà chính quyền tỉnh Tứ Xuyên nói riêng và Trung Quốc nói chung triển khai. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tại các KCN của Thành Đô cũng như Thượng Hải cũng đa có những chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng NNL thông qua các cơ chế đãi ngộ và đào tạo liên tục.

Mặt khác, chủ thể tham gia quá trình này không chỉ từ phía Nhà nước, mà còn được mở rộng, đa dạng hóa qua các kênh đầu tư khác nhau như: đầu tư nước ngoài, đầu tư của doanh nghiệp và công dân nhằm bảo đảm thu hút và tạo ra NNLCLC cho các doanh nghiệp tại các KCN. Đồng thời, Trung Quốc còn tiến hành chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng mũi nhọn, nâng cao chất lượng đào tạo nghề và đầu tư vào những khu vực hoang sơ ở phía tây, các vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn rộng lớn nhằm tạo nguồn đối với lao động chất lượng cao cho các KCN lớn tại Trung Quốc.

2.4.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

Với xuất phát điểm không có gì nổi trội nhưng chỉ sau vài thập kỷ tập trung phát triển kinh tế, Thái Lan đã vượt lên trở thành nhóm dẫn đầu về phát triển kinh tế trong các nước ASEAN. Những kết quả này có được là do Chính phủ nước này đã tận dụng tối đa cơ hội để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nền kinh

54

tế nói chung và các KCN nói riêng. Hiện nay, các KCN của Thái Lan đều được quy hoạch theo vùng và chính quyền địa phương có những chính sách kết nối với các doanh nghiệp tại các KCN nhằm bảo đảm giải quyết các vấn đề việc làm và thu nhập cho người dân. Chính sách phát triển NNL của Thái Lan được chú trọng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề hợp lý gắn với các yêu cầu phát triển của các KCN trên địa bàn. Chính phủ và các trường đại học rất quan tâm đến đào tạo kỹ năng cho NLĐ. Giáo dục đại học trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Thái Lan có rất nhiều các trung tâm nghiên cứu công nghệ cao với những chuyên gia giỏi trong và ngoài nước làm việc với ưu đãi tương xứng để phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Do chính sách phát triển NNLCLC đáp ứng sự phát triển của thị trường kết hợp với đào tạo kỹ năng nên Chính phủ Thái Lan đã có một số lượng lớn NLĐ được tuyển dụng làm việc tại các thị trường trong nước làm việc tại các KCN. Việc học tập các mô hình đào tạo từ các nước phát triển không chỉ giúp Chính phủ Thái Lan hoàn thiện công nghệ đào tạo NNLCLC mà còn tạo mối liên kết để nhận được sự giúp đỡ từ các quốc gia khác.

Bên cạnh đó, các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cũng được chú trọng. Học viện Chuyển đổi số Thái Lan là nơi chuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức công nghệ cho công chức nhà nước, hiện đang có 6 chiến lược chính: (1) Thiết lập cơ sở hạ tầng truyền thông cơ bản, tạo thuận lợi cho người dân; (2) Số hóa nhiều mặt của đời sống, dự kiến sẽ mang đến cơ hội kinh tế và thương mại lớn hơn cho người dân Thái Lan; (3) Xây dựng chính phủ điện tử, trong đó người dân được chuẩn bị để có thể tiếp cận các dịch vụ số; (4) Chuẩn bị nhân lực số ở tất cả các cấp độ của các cơ quan chính phủ; (5) Tối đa hóa năng lực kỹ thuật số của mọi người, thúc đẩy họ tập trung hơn vào chuyển đổi số và sử dụng nó hiệu quả và phù hợp nhất; (6) Tạo niềm tin trong việc sử dụng chuyển đổi số và phương tiện truyền thông trực tuyến.

Như vậy, chuẩn bị nhân lực số ở tất cả các cấp độ của các cơ quan chính phủ là một kế hoạch được đặt ra nhằm chuyển đổi số ngay từ giai đoạn đầu, thông qua các biện pháp hành động của Chính phủ Thái Lan, ngoài ra, Công viên số (True

55

Digital Park) cũng là một trong các trung tâm đổi mới kỹ thuật số lớn nhất Đông Nam Á nhằm phát triển các giải pháp công nghệ số trong chuyển đổi số.

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 63 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(181 trang)