CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
3.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
3.2.1. Thực trạng phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương hội nhập KTQT mạnh mẽ. Với những đặc thù của dân số trẻ, tiếp xúc với hội nhập sớm (tỷ lệ các trường quốc tế cao, khả năng ngoại ngữ và tin học tốt…) đã tạo ra lợi thế về NNL trong bối cảnh hội nhập KTQT hiện nay. Tốc độ tăng dân số của Thành phố duy trì ở mức cao trong nhiều năm chủ yếu do yếu tố tăng cơ học. Tỷ lệ tăng dân số cơ học của Thành phố mặc dù có xu hướng giảm so với 10 năm trước, nhưng vẫn ở mức cao, cho thấy Thành phố vẫn có sức hấp dẫn lớn đối với lao động ngoại tỉnh. Thành phần dân nhập cư đến từ nhiều vùng, miền, chủ yếu trong độ tuổi lao động trẻ từ 20-35 tuổi. Như đã trình bày ở trên, giai đoạn 2019-2024, NNL trong các KCN trên địa bàn thành phố có những biến động, cụ thể: sụt giảm trong 3 năm đầu 2019-2021 và tăng dần trở lại vào các năm 2022-2023. Nguyên nhân do ảnh hương từ dịch Covid-19, làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ngưng trệ khó khăn khi bị hạn chế và phong tỏa, hàng hóa sản xuất ra nước ngoài bị gián đoạn do chuỗi cung ứng không thực hiện được. NNLCLC trong các KCN của TP.HCM ổn định, tiếp tục duy trì và tăng dần, nhẹ qua các năm trong bối cành hội nhập KTQT.
68
Trong giai đoạn 2019-2024, việc phát triển NNLCLC về số lượng đã được các bên liên quan triển khai, cụ thể:
Về phía chính quyền TP.HCM: Trong bối cảnh hội nhập KTQT với sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế, đặc biệt là FDI vào các KCN, vấn đề thiếu hụt NNLCLC trên địa bàn TP.HCM trở nên ngày càng cấp bách, bức thiết cho sự phát triển vươn mình của thành phố trong việc mời gọi, thu hút các đối tác từ các cường quốc hàng đầu với thành phố nói chung và nhất là đối với các KCN nói riêng. Thực tế cho thấy, dù điều kiện các nguồn lực của thành phố so với một vài tỉnh thành có sự vượt trội hoặc tương đương nhưng theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM (2024), tình trạng một số nhà đầu tư đến thành phố nghiên cứu, tìm hiểu và tiến hành triển khai đầu tư nhưng rồi rời bỏ tới các tỉnh thành khác (Hepza, 2024). Nguyên nhân xuất phát từ việc thiếu hụt trầm trọng NNLCLC của thành phố trong các KCN do yêu cầu từ việc chuyên môn hóa gắn với các chuỗi giá trị toàn cầu, yêu cầu về các Hiệp định FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia mà sản phẩm hàng hóa được xuất khẩu chủ yếu từ các doanh nghiệp tại các KCN. Để giải quết bài toán về sự thiếu hụt NNLCLC ở trên, UBND TP.HCM đã khẩn trương đôn đốc các ban ngành kết hợp với trung tâm dạy nghề đẩy mạnh công tác xây dựng, đào tạo NNLCLC một cách có tổ chức và hệ thống nhằm tạo sức hút, kéo các nhà đầu tư, doanh nghiệp trở lại thành phố, nhất là đối với các doanh nghiệp có tiềm lực về công nghệ và tài chính. Chủ trương của TP.HCM trong công tác phát triển NNL và NNLCLC là tập trung vào khâu đào tạo từ các cơ sở đào tạo đại học, cơ sở nghề có chất lượng và uy tín đã được thị trường lao động khẳng định, theo đó Sở Lao động, Thương binh và xã hội TP.HCM đã thực hiện nhiều biện pháp đào tạo theo đơn đặt hàng, phân luồng đào tạo, định hướng nghề nghiệp từ các bậc học phổ thông, thu hút mọi nguồn lực cho công tác đào tạo, gắn đào tạo với thực hành từ phía doanh nghiệp. Đặc biệt TP.HCM có cơ chế ưu đãi thu hút lao động CLC từ các đội ngũ có học hàm, học vị cao. Đồng thời, thường xuyên tổ chức hội chợ lao động việc làm; hội nghị xúc tiến đầu tư; gặp mặt và trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực nhân lực để tìm cách gỡ nút thắt về sự thiếu hụt NNLCLC của thành phố.
Đối với Ban quản lý các KCX, KCN TP.HCM (HEPZA): Đi đôi với việc tuyển dụng và sử dụng NNLCLC trong nước, rất nhiều doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn TP.HCM vẫn có nhu cầu lao động có chất lượng từ các nước khác, từ đó một số doanh
69
nghiệp vẫn duy trì sử dụng một lượng lao động là chuyên gia nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập KTQT thì vấn đề NNLCLC cho các doanh nghiệp tại các KCN sẽ gắn trực tiếp với yêu cầu của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tham gia vào hoạt động xuất khẩu, các yêu cầu về chất lượng hàng hóa, yêu cầu về công nghệ… Theo báo cáo của BQL tại các KCN trên địa bàn TP.HCM, tỉ lệ lao động CLC tại các KCN lớn trên địa bàn thành phố tới từ các khu như Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc, Hiệp Phước trong các năm từ 2019 tới năm 2024 chiếm hơn 4% là lao động nước ngoài trong số lực lượng lao động của các DN. Ngược lại, lao động trong nước chiếm tỉ lệ rất lớn với hơn 95%. Theo dự báo từ phía BQL KCN các doanh nghiệp trên địa bàn cần lượng lớn lao động CLC, nhưng trên thực tế hiện nay thành phố chỉ mới đạt được khoảng 60 - 70% nhu cầu về lao động CLC của các doanh nghiệp, điều đó còn chưa tính tới đặc thù của từng doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất, bởi nếu tính cụ thể thì có những doanh nghiệp cần số lượng lao động CLC nhiều hơn nhưng không đáp ứng đủ, ngược lại có những doanh nghiệp cần ít hơn. Nhất là đối với ngành nghề có tính đặc thù cao, thì lao động CLC vẫn tới từ các nước phát triển là chủ yếu, họ nắm giữ những vị trí chủ chốt trong doanh nghiệp.
Về phía doanh nghiệp, họ cũng đã tích cực chủ động thực hiện nhiều giải pháp thu hút và giữ chân NLĐ nhất là lao động CLC mà không trông chờ từ thành phố. Một loạt các ưu đãi của doanh nghiệp được triển khai như: chế độ tiền lương, tiền công, bảo hiểm, chính sách thăng tiến, du lịch nước ngoài, nhà ở cho chuyên gia và các phúc lợi khác.
Với những giải pháp đồng bộ trên từ phía doanh nghiệp, lực lượng lao động CLC đã được duy trì ổn định và tăng lên cả trong và ngoài thành phố.
Theo báo cáo của HEPZA, nhu cầu NNLCLC sẽ còn tăng nhanh khi các KCN mới như Hiệp Phước 2, Vĩnh Lộc 2, KCN Lê Minh Xuận, KCN Phạm Văn Hai… đi vào hoạt động, dự kiến đến năm 2030 số lượng lao động CLC trong các KCN lên đến gần 388.000 người. Như vậy, dù thành phố đã triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh thu hút lao động CLC nhưng tình trạng lao động CLC vẫn không đáp ứng được về số lượng và chất lượng cho yêu cầu phát triển của thành phố. Đây là bài toán khá nan giải đặt ra cho thành phố trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Đặc biệt, trong tình hình thế giới bước sang cuộc cách mạng công nghệ 4.0, buộc thành phố phải tập trung phát triển ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ cao (Hepza, 2024).
70
Thực trạng phát triển NNLCLC tại các KCN trên địa bàn TP.HCM thông qua số lượng giai đoạn 2019-2024, thể hiện:
Căn cứ vào các chỉ số được xác lập tại Chương 2, Luận án đánh giá sự phát triển NNLCLC thông qua số lượng, cụ thể:
(1) Trong giai đoạn vừa qua, TP.HCM đã phát triển 23 KCN với hàng ngàn ha đất phục vụ việc mở rộng các KCN hiện có. Bên cạnh đó, Ban Quản lý cũng đề xuất các giải pháp để hình thành thêm khoảng 800 ha đất công nghiệp để thu hút đầu tư các khu công nghiệp chuyên đề, công nghiệp kỹ thuật cao. Đơn cử như Khu công nghiệp Hiệp Phước giai đoạn 2, Khu công nghiệp Lê Minh Xuân mở rộng, Khu công nghiệp Lê Minh Xuân 2 và Khu công nghiệp Phạm Văn Hai I và II. Chỉ số này cho thấy xu hướng mở rộng các KCN trên địa bàn TP.HCM tiếp tục diễn ra qua đó nhu cầu về NNLCLC luôn tăng là căn cứ để Chính quyền thành phố và các doanh nghiệp tiếp tục triển khai các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng NNL.
(2) Số lượng NNLCLC tham gia vào hoạt động quản lý, sản xuất và kinh doanh tại các doanh nghiệp thuộc các KCN trên địa bàn TP.HCM.
Đi đôi với sự tăng lên số lượng và chất lượng từ lao động NNLCLC thì số lao động là người địa phương của TP.HCM các năm 2019 - 2024 đã tăng lên đáng kể, cụ thể: số liệu từ Sở Lao động, Thương binh và xã hội thành phố cho thấy năm 2019 có 14.782 người là người sở tại, năm 2020 tăng lên là 6.903 người; năm 2021 là 6.341 người, năm 2022 là 16.052 người, năm 2023 là 27.045 người và năm 2024 là 29.782 người (Sở Lao động, Thương binh và xã hội TP.HCM, 2024). Lý giải cho sự gia tăng này đến từ chính sách của từng doanh nghiệp khi họ đã bắt đầu quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng chính những NLĐ và chi mạnh cho công tác hỗ trợ tài chính về xây dựng nhà ở, đi lại và giáo dục về văn hóa doanh nghiệp tới NLĐ, từ đó NLĐ yên tâm làm việc gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
(3) Tỷ lệ NNLCLC so với NNL tại các KCN (tăng trưởng tỷ lệ NNLCLC theo từng năm).
71
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ NNLCLC trong KCN TP.HCM giai đoạn (2019 - 2024) Nguồn: Ban quản lý Các KCX, KCN TP.HCM (HEPZA), 2024 Từ Biểu 3.2 nhận thấy thấy: NNLCLC của thành phố có xu hướng ổn định và tăng nhẹ qua các năm. Điều này xuất phát từ lí do chính lao động phổ thông có khung hướng giảm đi, còn lao động chất lượng cao được duy trì đều và nhích nhẹ thông qua cơ chế thu hút đãi ngộ từ phía doanh nghiệp và chính quyền thành phố, cụ thể: đã tăng dần từ 27% (2019) đến 40% (2024) trong tổng số lao động của KCN. Tính riêng đối với doanh nghiệp FDI, trong những ngành nghề may mặc, chế tạo, cơ khí, lao động trình độ cao luôn ổn định ở mức cao với tỉ lệ dao động khoảng 46%.
Tóm lại, trong các năm từ 2019 tới giữa năm 2024, số lượng lao động CLC đã gia tăng. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của DN. Chính từ sự thiếu hụt đó, xuất hiện tình trạng cạnh tranh về thu hút NNLCLC từ các doanh nghiệp trong KCN trên địa bàn thành phố. Với chính sách tăng cường đào tạo của thành phố, trong thời gian qua có hàng trăm nghìn lao động ở KCN trên địa bàn thành phố đã được nâng lên về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và phần nào đáp ứng được cơn khát NNLCLC của các doanh nghiệp ở TP.HCM.