Tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao tại các

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 141 - 147)

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ MỚI Ở VIỆT NAM

4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mới

4.3.2. Tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao tại các

4.3.2.1. Cơ sở đề xuất giải pháp

Xuất phát từ thực tiễn của quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng tạo ra thách thức và yêu cầu về lao động trình độ cao là tất yếu. Thực tiễn cho thấy sự cạnh tranh về NNLCLC từ các quốc gia trong khu vực và thế giới đối với nước ta và TP.HCM nói riêng đang trở nên hiện thực, thêm vào đó là sự cạnh tranh từ chính các lao động trong nước ở các địa phương khác. Nhân lực CLC ở KCN của TP.HCM vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được tiêu chí của các doanh nghiệp trong các KCN. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để có được NNL và NLCLC cần làm một số nội dung trọng điểm.

4.3.2.2. Nội dung giải pháp

* Giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn TP.HCM

Một là, tăng cường năng lực cho các trung tâm, cơ sở đào tạo chuyên nghiệp trên địa bàn TP.HCM và trong các KCN

- Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống trung tâm, cơ sở dạy nghề

+ Xem xét và điều chỉnh lại các cơ sở dạy nghề tại TP.HCM, ưu tiên phát triển các trường và trung tâm dạy nghề chuyên nghiệp, mở rộng quy mô đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất tiên tiến, linh hoạt theo yêu cầu của thị trường lao động tại các KCN, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.

+ Xã hội hóa trong đào tạo cần được khuyến khích, đồng thời tăng cường thanh tra chất lượng và áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt đối với các trung tâm tư nhân. Xây dựng những trung tâm đào tạo quy mô lớn, hiện đại. Làm tốt công tác định hướng nghề từ bậc học phổ thông.

Cấp I (học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở), đào tạo công nhân kỹ thuật bán lành nghề với thời gian dưới 01 năm, phát huy đào tạo ngành nghề từ trung tâm dạy nghề.

Đào tạo trình độ này nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành nghề đơn giản. Tỷ trọng lao động ở cấp độ này sẽ giảm dần theo thời gian.

Cấp II (học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc được đào tạo công nhân kỹ thuật bán lành nghề ở cấp I), đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề với thời gian từ 1-2 năm. Lao động được đào tạo ở cấp trình độ này chủ yếu để phục vụ nhu cầu của các

131

KCN, khu chế xuất, những dây chuyền sử dụng công nghệ hiện đại và phục vụ xuất khẩu lao động.

Cấp III (đã được đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề ở cấp II), đào tạo công nhân kỹ thuật có trình độ kiến thức tương đương cao đẳng và có kỹ năng nghề thành thạo của kỹ sư thực hành với thời gian 3 năm. Lao động được đào tạo ở cấp trình độ này có khả năng vận hành các thiết bị tiên tiến, hiện đại và có năng lực xử lý các tình huống của sản xuất hoặc trở thành những người thợ cả trong các cụm sản xuất. Hệ thống đào tạo nghề theo hướng thực hành sẽ bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và một số trường trung học kỹ thuật, cao đẳng công nghệ cao đào tạo lao động kỹ thuật với nhiều cấp trình độ khác nhau với nhiều kỹ năng nghề nghiệp cao hơn.

Việc xây dựng 3 cấp đào tạo này nhằm mục đích mở rộng cửa đón hầu hết học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở và phổ thông trung học tham gia học nghề, tạo nhiều cơ hội học lên cao cho những học sinh này khi họ có đủ điều kiện. Các trường phải phấn đấu và thực hiện tốt phương châm “4 được” trong đào tạo là: Được học, học được, được làm và làm được”

- Đổi mới chương trình đào tạo nghề

Xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý, điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường lao động. Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại sẽ làm cho chất lượng đào tạo nghề được đánh giá cao hơn. Để đạt được điều đó, cần có sự liên kết, phối hợp giữa nhà trường, doanh nghiệp, cơ quan quản lý đào tạo và cả người học nghề trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo.

Có nhiều giải pháp để tạo ra sự phối hợp nói trên, ở đây chỉ đề xuất giải pháp cụ thể là nhà trường nên tổ chức các “Hội nghị khách hàng” để bàn về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của các khoá học. Thành phần tham dự Hội nghị khách hàng sẽ bao gồm: nhà trường, doanh nghiệp, người học sau khi tốt nghiệp, cơ quan quản lý đào tạo nghề cấp trên, lãnh đạo địa phương. Thông qua Hội nghị khách hàng, các bên sẽ tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo như sau:

+ Những nhà quản lý doanh nghiệp tại các KCX-KCN, khu công nghệ cao, các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp sản xuất đóng trên địa bàn TP.HCM sẽ tham gia Hội nghị. Căn cứ vào thực tế sản xuất và hướng phát triển của mình, các

132

doanh nghiệp sẽ đưa ra các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, tác phong công nghiệp, kinh nghiệm làm việc mà người học nghề phải đạt được sau khi tốt nghiệp. Bằng cách đó, nguồn lao động kỹ thuật qua đào tạo sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về trình độ chuyên môn, tay nghề, khả năng làm việc. Doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong việc tuyển lao động cho đơn vị mình.

+ Người học sau khi tốt nghiệp nên được mời tham gia Hội nghị. Họ sẽ biết rõ thực tiễn giảng dạy của trường mình học và nhu cầu thực tiễn của xã hội, những góp ý đó sẽ góp phần hoàn thiện hơn cho việc xây dựng mục tiêu, chương trình các khoá đào tạo tiếp theo.

+ Nhà trường, căn cứ vào chương trình khung quốc gia và tham chiếu các ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp và người học tại Hội nghị khách hàng, điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động.

Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của mỗi khoá học cũng thể hiện tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo, trình độ quản lý của các cơ sở đào tạo hay nói cách khác là nó phản ánh chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo.

Chương trình đào tạo cần được điều chỉnh sao cho các môn ngoại ngữ và tin học đối với các ngành học không chuyên phải đạt yêu cầu sử dụng để tiếp cận những tài liệu mới nhất bằng tiếng nước ngoài, ứng dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin và truyền thông cho quá trình học tập và lao động. Cùng với việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo cũng phải được đổi mới theo hướng hiện đại, cập nhật thông tin công nghệ sản xuất tiên tiến. Muốn thực hiện được điều này, phía cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cũng cần hợp tác với nhau để thực hiện một số hoạt động như:

+ Tổ chức, hướng dẫn, giới thiệu cho học sinh (đầu khoá đào tạo) tham quan thực tế nghề nghiệp tương lai ở các nhà máy, dây chuyền sản xuất thực tế, tạo động lực và hướng nghiệp cho người học. Điều này sẽ kích thích và thúc dục lòng yêu nghề cho học sinh.

+ Tổ chức quá trình dạy - học thực tập sản xuất ngay trong môi trường thực tiễn sản xuất ở các nhà máy, công xưởng với những trang thiết bị hiện đại đang vận hành.

Điều này sẽ giảm bớt sự “lạc hậu” cho người học sau khi tốt nghiệp và doanh nghiệp cũng không phải mất thời gian để đào tạo lại

133

Với sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học - kỷ thuật trên nhiều lĩnh vực, nhất là khoa học công nghệ thì rất cần thiết có sự cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy. Đội ngũ cán bộ giảng dạy là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục. Phải ra sức đầu tư xây dựng phát triển nâng cao chất lượng của đội ngũ này. Nhanh chóng đưa những nội dung mới, những tri thức mới, thời sự nhất vào bài giảng. Chú trọng nội dung nghiên cứu cơ bản, gắn chặt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Giới thiệu cho sinh viên những nguồn thông tin cần tiếp cận và nghiên cứu. Phương pháp giáo dục cũng cần được đổi mới theo hướng lấy người học làm trung tâm, khơi dậy tính năng động sáng tạo độc lập tự chủ trong học tập của người học, tạo cho họ sẵn sàng trong học tập theo phương pháp mới; kết hợp chặt chẽ các phương pháp giáo dục truyền thống với phương pháp hiện đại; mạnh dạn sử dụng các các phương pháp dạy học mới; trang bị cho người học những phương pháp học tập một cách khoa học. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, rất nhiều phát minh, nhiều công trình khoa học cho ra đời thì càng có phương pháp thật tốt để có thể tiếp cận nó. Cần có sự tích cực chủ động trong học hỏi kinh nghiệm, liên kết và mời các trường nổi tiếng của các nước giúp Việt Nam cải tiến chương trình giảng dạy, nghiên cứu học tập mà ta chưa bắt kịp với thế giới.

- Phân luồng đào tạo và liên thông đào tạo

Phân luồng đào tạo: Bên cạnh sự đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo nghề, phải có sự tuyên truyền để thực sự đổi mới trong tư duy của phụ huynh, vì sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, phu huynh thường không muốn cho con em mình thi vào các trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp mà chỉ mong muốn con mình học đại học, cao đẳng. Đây là mong muốn chính đáng nhưng chưa hẳn đã phù hợp với sức học của mỗi học sinh, do vậy cần có sự phân luồng đào tạo một các hợp lý.

Liên thông trong đào tạo: Hiện nay, trong các KCN, khu chế xuất của thành phố đòi hỏi một số lượng lớn người công nhân, nhân viên nghiệp vụ phải có trình độ kỹ thuật viên có kỹ thuật cao, lớp công nhân này phải có lý thuyết chuyên môn và tay nghề thành thạo. Các cấp trình độ đào tạo phải được liên thông bằng chương trình đào tạo để NLĐ có cơ hội tham gia quá trình đào tạo và thụ hưởng các thành quả phát triển của đào tạo.

Muốn thực hiện được nhiệm vụ trên thì các chương trình đào tạo cần được thiết kế theo module, hiện đang là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới mà các cơ sở dạy

134

nghề ngắn hạn đang tổ chức thực hiện. Đó là một căn cứ để tiếp cận quá trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông với các cấp trình độ khác nhau.

- Nâng cao toàn diện chất lượng và đồng bộ hoá cơ cấu đội ngũ giáo viên đào tạo dạy nghề.

Hoàn thiện cơ chế đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để đáp ứng được tiêu chuẩn nâng cao trong điều kiện mới của TP.HCM.

Bổ sung, điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm thu hút chuyên gia, giáo viên xuất sắc, nghệ nhân và thợ lành nghề; triển khai cơ chế đặc thù cho TP.HCM trong đào tạo nghề cho nông dân, công nhân, nhà quản lý và cán bộ đi bồi dưỡng.

Nâng cấp chất lượng đội ngũ giảng viên, hướng đến năm 2030 có 90% giáo viên cao đẳng nghề và 50% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp đạt trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu phát triển KCN và tuân thủ tiêu chuẩn pháp luật.

* Giải pháp đối với các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn TP.HCM - Cần quan tâm, chú trọng đầu tư hơn nữa công tác đào tạo trong chính các doanh nghiệp để năng cao tự chủ tránh bị động khi điều kiện không thuận lợi chẳng như dịch covid đã từng xảy ra.

- Tạo mọi điều kiện để NLĐ có thể tiếp cận với công nghệ mới, dây chuyền sản xuất hiện đại; tạo điều kiện về hỗ tài chính cho NLĐ học tập nâng cao trình độ.

- Xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, xác định mục tiêu yêu đối với lao động theo nhu cầu của doanh nghiệp từ đó liên kết với các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo chất lượng cao cung ứng lao động và bồi dưỡng chính lao động doanh nghiệp mình.

- Doanh nghiệp cần tạo ra động lực thúc đẩy NLĐ tự đào tạo trên cơ sở tạo điều kiện bố trí sắp xếp vị trí làm việc có mức thu nhập phù hợp sau khi đã hoàn thành khóa học.

Vấn đề đào tạo lại sẽ phải được đẩy mạnh trong điều kiện các mối quan hệ thị trường trở nên phát triển. Doanh nghiệp, dưới tác động của sự cạnh tranh, có thể phải thu hẹp qui mô sản xuất, dẫn đến sự dư thừa về lao động trên thị trường. Sự cuốn hút của một số ngành nghề có thu nhập cao có thể tạo ra những dòng di chuyển lao động từ ngành nghề này sang ngành nghề khác. Do vậy, nhu cầu đào tạo ngày càng trở nên cấp thiết và ngành giáo dục – đào tạo cần đáp ứng được nhu cầu đó thông qua việc mở rộng các hình thức đào tạo, đặc biệt là đào tạo lại.

135

Cùng với sự đẩy mạnh CNH, HĐH là sự hội nhập nhanh chóng với kinh tế khu vực và thế giới, những kiến thức thu được của NLĐ sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu, những đòi hỏi mới đối với kiến thức, kỹ năng của NLĐ luôn được đặt ra bởi thực tiễn, do vậy cần đẩy mạnh đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao cho người lao động, TP.HCM nên đầu tư có trọng điểm vào một số trường đào tạo lại cho đội ngũ này, thậm chí doanh nghiệp có thể ký hợp đồng đưa lao động của họ sang đào tạo nâng cao. Dĩ nhiên để thực hiện được, phải có một nguồn ngân sách của thành phố hỗ trợ cho các trang thiết bị hiện đại, tìm kiếm các nguồn tài trợ trong và ngoài nước. Khi các cơ sở đào tạo lại có được những trang thiết bị tiên tiến nhất, một đội ngũ giáo viên hướng dẫn đầy đủ năng lực thì các doanh nghiệp và người học mới có lòng tin đối với các cơ sở này.

4.3.2.3. Điều kiện thực hiện giải pháp

- Để phát triển NNL cho các KCN ở TP.HCM, cần xây dựng chiến lược tổng thể toàn diện.

- Tái cấu trúc hệ thống đào tạo nghề và quy hoạch các KCN nhằm đảm bảo cung ứng NNL phù hợp với nhu cầu thực tế.

- Doanh nghiệp cần tập trung đầu tư vào tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực, đồng thời đa dạng hóa hình thức đào tạo và cải thiện chất lượng giảng viên để nâng cao hiệu quả phát triển NNLCLC.

- Thiết lập chính sách khuyến khích NLĐ tham gia các chương trình đào tạo, nâng cao kỹ năng, thi nâng bậc và mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp.

4.3.2.4. Kết quả kỳ vọng của giải pháp

- Hình thành được các trung tâm đào tạo nghề và cơ sở giáo dục phù hợp, đáp ứng nhu cầu NNLCLC cho TP.HCM và các DN ở KCN.

- NNLCLC đạt tiêu chuẩn cả về số lượng và chất lượng, thỏa mãn được yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp.

- Trang bị cơ sở hạ tầng, ngân sách và đội ngũ giảng viên chất lượng phục vụ hoạt động đào tạo tại mỗi DN, KCN.

- Tăng cường hợp tác giữa DN và KCN để nâng cao hiệu quả đào tạo, bảo đảm NLĐ được trang bị kỹ năng và kiến thức cần thiết trước khi bắt đầu làm việc.

136

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM (Trang 141 - 147)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(181 trang)