Dạy học dự án

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 80 - 93)

CHƯƠNG 4. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

4.1. Quan điểm, phương pháp dạy học

4.1.2. Dạy học dự án

a. Khái niệm

Dự án là một dự định, một kế hoạch cần đƣợc thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, đƣợc thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt.

Dạy học dự án là quan điểm/phương pháp dạy học/kiểu dạy học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập để giải quyết một vấn đề thực tiễn có liên quan đến nội dung học tập trong chương trình giáo dục, chủ động lập kế hoạch và vận dụng kiến thức tổng hợp ở nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo ra sản phẩm có ý nghĩa thực tiễn thông qua đó người học chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển kĩ năng18.

Trong quá trình dạy học dự án, HS có thể lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc đóng một hoặc nhiều vai (người giải quyết vấn đề, người đưa ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo) nhằm giải quyết vấn đề hay bài tập tình huống gắn liền với thực tiễn. Kết quả dự án là sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày, đƣợc thực hiện bởi HS.

b. Đặc điểm của dạy học dự án

Khi nghiên cứu về phương pháp dạy học dự án các tác giả đã thiết lập nên các đặc điểm đặc trƣng của dạy học dự án. Trong những năm gần đây tác giả Bernd Meier

18 Hà Thị Thúy, Tổ chức dạy học dự án sinh học 10 THPT góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh,

và Nguyễn Văn Cường đã nghiên cứu và thống kê dạy học dự án có các đặc điểm sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của các dự án học tập xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng nhƣ thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ của các dự án học tập cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học. Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội. Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án học tập có thể mang lại những tác động tích cực cho xã hội.

- Định hướng hứng thú người học: Người học được tham gia lựa chọn những đề tài, những nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện các dự án học tập.

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án học tập có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn và thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố và mở rộng những hiểu biết về lí thuyết cũng như rèn luyện những kĩ năng hành động và kinh nghiệm thực tiễn cho người học.

- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dự án, người học cần tự lực và tham gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và trợ giúp người học. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với năng lực, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ học tập.

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.

Dạy học dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học, với GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án học tập. Đặc điểm này còn đƣợc gọi là học tập mang tính xã hội.

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện các dự án học tập, các sản phẩm học tập của các nhóm đƣợc tạo ra. Sản phẩm này không chỉ giới hạn trong phạm vi là những bài thu hoạch thiên về lí thuyết, mà trong đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm của hoạt động thực tiễn và thực hành. Những sản phẩm của các dự án học tập có thể đƣợc sử dụng, công bố, giới thiệu...

Ngoài ra, dạy học dự án còn có thêm các đặc điểm sau:

- Không phụ thuộc vào không và thời gian: dạy học dự án có thể đƣợc tiến hành trong phạm vị một nhóm, một lớp học nhƣng cũng có thể vƣợt ra phạm vi lớp học.

Thời gian dạy học dự án có thể là một tiết, một ngày, nhiều ngày hay hàng tuần tùy thuộc vào quy mô và mức độ của dự án học tập. Cùng một nội dung nhƣng mỗi thành viên trong nhóm có thể tiếp cận bằng những cách thức khác nhau sao cho phù hợp với năng lực, sở trường, điều kiện thực tế của mỗi thành viên trong nhóm.

- Tạo ra môi trường học tập tương tác: dạy học dự án sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động tương tác đa chiều: Tương tác giữa HS và HS, GV và HS, HS và xã hội… và tương tác giữa các thành tố trong quá trình dạy học.

- HS cần sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện các hoạt động học tập.

- HS đƣợc kiểm tra, đánh giá căn cứ vào quá trình hoạt động học tập, chủ động để hoàn thành dự án và những sản phẩm có thực.

c. Phân loại dự án học tập

Dự án học tập có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là cách phân loại theo tác giả Bernd Meier- Nguyễn Văn Cường19

- Phân loại theo chuyên môn:

+ Dự án học tập trong một môn học (nội môn): Là các dự án học tập mà trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.

+ Dự án học tập liên môn: Là các dự án học tập mà trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.

+ Dự án học tập ngoài chuyên môn: Là các dự án học tập không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học.

- Phân loại theo sự tham gia của người học: Dự án học tập cho nhóm người học, dự án học tập cá nhân. dự án học tập dành cho nhóm người học là hình thức dự án học tập chủ yếu. Ngoài ra còn có dự án học tập toàn trường, dự án học tập dành cho một khối lớp và dự án học tập cho một lớp học.

- Phân loại theo sự tham gia của GV: Dự án học tập dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án học tập với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.

19 Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường

- Phân loại theo quỹ thời gian:

+ Dự án học tập nhỏ: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 - 6 giờ học.

+ Dự án học tập trung bình: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện trong một hoặc một số ngày học, nhƣng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.

+ Dự án học tập lớn: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học) hoặc có thể kéo dài nhiều tuần.

- Phân loại theo nhiệm vụ: Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án học tập, có thể phân loại theo các dạng sau:

+ Dự án học tập tìm hiểu: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện nhằm khảo sát thực trạng đối tƣợng.

+ Dự án học tập nghiên cứu: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tƣợng...

+ Dự án học tập thực hành: Là các dự án học tập đƣợc thực hiện nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhƣ trang trí, trƣng bày, biểu diễn, sáng tác...

+ Dự án học tập hỗn hợp: Là các dự án học tập có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.

Các loại dự án học tập trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án học tập theo đặc thù riêng.

d. Tiêu chuẩn của một dự án học tập

Dự án học tập là dự án mà HS sẽ tiếp nhận kiến thức của bài học, rèn luyện và phát triển kĩ năng thông qua quá trình thực hiện hàng loạt các hoạt động học tập trong một dự án.

Một dự án học tập cần phải có: Mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện, hình thức tổ chức. Đƣợc cụ thể hóa nhƣ sau:

Dự án học tập

STT Tiêu chí Đặc điểm

1

Mục tiêu - HS chủ động lĩnh hội tri thức môn học - Hình thành đƣợc sản phẩm học tập cụ thể

- Chú trọng phát triển kĩ năng: làm việc nhóm, kĩ năng tƣ duy, kĩ năng thực hành, kĩ năng công nghệ, kĩ năng lập kế hoạch, tổ chức.

2

Nội dung - Hướng tới các vấn đề thực tiễn, gắn nội dung bài học với thực tế - Tri thức đƣợc cập nhật từ nhiều nguồn tài liệu nhƣ: SGK, sách GV, các tài liệu khoa học phù hợp trên tạp trí hoặc trên báo mạng, thông tin nảy sinh trong cuộc sống, cộng đồng

3

Phương pháp thực hiện

- Phương pháp đóng vai, điều tra, thu thập, khai thác và xử lí số liệu, trình bày kết quả thông qua phần mềm tiện ích, đóng gói sản phẩm bằng những vật liệu và công cụ phù hợp. Thực hiện nhiều hình thức đánh giá (GV đánh giá HS, HS đánh giá HS)

4

Hình thức tổ chức

Cơ động, linh hoạt tùy vào nội dung của hoạt động học tập có thể diễn ra ở trong lớp, trong phòng thí nghiệm, hiện trường trong thực tế. Học cá nhân, đôi bạn, theo nhóm, toàn lớp, toàn khối, toàn trường thậm chí là liên trường.

4.1.2.2. Tổ chức dạy học dự án

Qui trình xây dựng dự án học tập và tổ chức dạy học dự án gồm 3 giai đoạn cơ bản.

* Giai đoạn 1: Xây dựng dự án học tập, lập kế hoạch thực hiện dự án

- Xác định chủ đề của dự án: Để xây dựng dựa án, trước hết GV cần bố cục lại nội dung các bài học để xây dựng một chủ đề hấp dẫn, thú vị, gần với cuộc sống thực tế, phù hợp với tâm lí lứa tuổi. GV cần chủ động tìm hiểu các vấn đề thực tiễn liên quan đến tri thức của môn học và hấp dẫn đối với HS để xây dựng. Vấn đề thực tiễn mà GV chọn để thiết kế dự án nên là một vấn đề thời sự hay một sự kiện thực tế đang đƣợc xã hội quan tâm nhƣng không nên quá khó. Sự thích thú của HS, nhu cầu tìm hiểu của HS và những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày của HS luôn luôn là quan trọng để GV phải cân nhắc, để đảm bảo tiêu chuẩn của một dự án học tập. Ý tưởng về dự án có thể do GV đề xuất hoặc do HS/nhóm HS đề xuất. Trong trường hợp

bảo sự phù hợp với mục tiêu học tập, phù hợp chương trình và điều kiện thực tế.

Khi đặt tên cho chủ đề của một dự án học tập nên bắt đầu bằng một động từ hành động, ví dụ: Xác định; Tìm hiểu; Đánh giá…thường gói gọn trong một câu và có nghĩa tường minh. Tên chủ đề chứa đựng nội dung học tập, không xa lạ với người học.

Nội dung trong chủ đề hiển thị mục tiêu về thái độ, kiến thức, kĩ năng mà HS cần phải đạt đƣợc sau khi tham gia vào các hoạt động của dự án. GV phải đánh giá đƣợc sản phẩm đầu ra của chủ đề.

Một dự án học tập có thể đƣợc phân chia thành các tiểu dự án (dự án học tập có đơn vị kiến thức và phạm vi thực hiện nhỏ hơn). Mỗi tiểu dự án khác nhau có thể đƣợc phân bổ cho các nhóm HS khác nhau trong lớp thực hiện. Để phân chia các tiểu dự án, GV có thể xây dựng bản đồ khái niệm hoặc graph về nội dung của dự án. Graph hoặc bản đồ khái niệm sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau và biểu diễn bằng hình ảnh/đường liên kết sự kết nối các khái niệm. GV dễ nhận diện từng lớp nội dung và sản phẩm tương ứng đạt được. Bên cạnh đó, thông qua bản đồ khái niệm GV sẽ lường trước được những vấn đề có thể xảy ra và tập trung vào những vấn đề thuộc phạm vi chủ đề học tập.

- Dự kiến nguồn tài liệu, phương tiện thực hiện dự án: Nguồn tài liệu là địa chỉ để cung cấp tri thức đáng tin cậy cho hoạt động học tập. Nguồn tài liệu có thể là tài liệu trực tuyến trên Website hoặc sách tham khảo, tạp chí, bài báo…Ngoài nguồn tài liệu, Gv cần dự kiến những phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho HS thực hiện dự án như trang thiết bị thí nghiệm của nhà trường…

Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của HS cũng nhƣ khuyến khích đƣợc HS quan tâm đến những vấn đề liên quan ngoài phạm vi nội dung học tập. Tuy nhiên, HS khó có thể biết cách giới hạn nguồn tri thức đƣợc cung cấp từ một khối lƣợng lớn tài liệu. GV cần giới thiệu tài liệu cụ thể, biết rõ nguồn và định hướng kịp thời để người học rút kinh nghiệm cho hoạt động học tập của mình nhƣng cũng cần có thời gian để HS tìm hiểu và gặp trở ngại trong hoạt động trải nghiệm, khám phá tri thức.

- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện dự án: Để lập kế hoạch tổ chức thực hiện dự án, GV cần căn cứ vào nội dung và mục tiêu của dự án để xây dựng hệ thống các câu hỏi định hướng hoạt động học tập của HS thông qua cách đặt vấn đề kích thích tư duy.

Các câu hỏi cần hướng người học tiếp cận vấn đề thực tiễn, tư duy về khái niệm chính, mỗi câu hỏi đƣợc xây dựng nhằm giải quyết từng vấn đề mà kế hoạch học tập đã nêu

ra và định hướng sản phẩm cụ thể của dự án. Bên cạnh đó GV cần lập kế hoạch triển khai các hoạt động: triển khai nhƣ thế nào, vào thời gian nào, ở đâu, ai sẽ cùng tham gia ở dạng khung kế hoạch, mục đích là giúp HS tự chủ trong học tập, xác định những công việc cần làm, đặt thời gian biểu, phương tiện, kinh phí, địa điểm, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm. Thông qua khung kế hoạch GV đã ngầm thiết kế các nhiệm vụ cho HS và khi HS thực hiện xong các hoạt động thì bộ câu hỏi đƣợc giải quyết và các mục tiêu học tập đồng thời cũng đạt đƣợc. Trong giai đoạn xây dựng dự án học tập, GV cần lường trước các tình huống có thể xảy ra và định hướng cách thức giải quyết các tình huống đó.

- Dự kiến đánh giá: Trong dạy học dự án, HS là người tổng hợp và khái quát hóa các khái niệm mà họ thu nhận đƣợc trong quá trình học, GV cần xây dựng những tiêu chí có giá trị để đánh giá quá trình học tập của HS, từ lúc HS bắt đầu lập kế hoạch dự án cho tới khi hoàn thành dự án. Căn cứ vào hoạt động và sản phẩm dự án học tập để xây dựng tiêu chí đánh giá tương ứng. Mỗi tiêu chí đánh giá cần phải cân nhắc thang điểm, mục nhận xét và thuận tiện khi triển khai. Quá trình đánh giá phải công bằng, chính xác và đƣợc ghi nhận bằng điểm số và nhận xét.

* Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học theo dự án

- Bước 1. GV giới thiệu dự án và giao nhiệm vụ cho HS.

Đây là một hoạt động để thông báo với toàn thể HS và những người tham gia thực hiện dự án kế hoạch triển khai chi tiết từng nội dung đã đƣợc soạn thảo trong dự án học tập. Khi đó GV cung cấp những mốc thời gian quan trọng trong dự án để HS chủ động học tập. Mốc thời gian đó có thể là nội dung cần đạt đối với 1 tiết học trên lớp hoặc thời điểm để kết thúc một hoạt động học tập. Đồng thời đƣa ra những mục tiêu học tập thông qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước, để HS lựa chọn cách làm và tìm câu trả lời. Điều này là rất quan trọng vì nó sẽ định hướng hoạt động học tập của HS cũng nhƣ tạo cơ hội cho HS chủ động trong cách học của mình.

- Bước 2. HS thực hiện dự án

+ Xây dựng nhóm học tập: HS trong lớp đƣợc chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4-6 HS. Có nhóm trưởng, thư kí và các bạn thành viên. Mỗi nhóm phải kê khai thông tin của các thành viên trong nhóm (sở thích, điểm mạnh, điểm yếu, khả năng học tập từng môn học, thông tin liên hệ, điện thoại, địa chỉ email..). Các HS đƣợc tập hợp vào mỗi nhóm cần phải tương đồng về khả năng thực hiện các hoạt động học

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 80 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(227 trang)