CHƯƠNG 5. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
5.2. Phương pháp và công cụ đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
5.2.1. Phương pháp đánh giá
a. Phương pháp viết26
Phương pháp viết là một phương pháp mà HS thể hiện sự am hiểu kiến thức, kỹ năng bằng cách viết những mô tả hoặc suy nghĩ của mình thông qua một hệ thống câu hỏi/nhiệm vụ được giao. Phương pháp viết có 2 dạng: trắc nghiệm khách quan và tự luận.
* Trắc nghiệm khách quan: Theo Dương Thiệu Tống (2005), trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách quan chứ không chủ quan của người chấm. Có thể coi kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắc nghiệm đó, do đó trắc nghiệm khách quan có độ tin cậy cao. Phương pháp trắc nghiệm khách quan đƣợc chia thành 4 dạng sau: Trắc nghiệm ghép đôi; Trắc nghiệm điền khuyết; Trắc nghiệm đúng sai; Trắc nghiệm nhiều lựa chọn.
Trắc nghiệm khách quan đặc biệt có ƣu thế khi cần đánh giá năng lực nhận thức của HS trong phạm vi kiến thức rộng, đặc biệt là ở các mức độ tƣ duy Biết, Hiểu, Vận dụng. Khả năng đánh giá mức độ nhận thức cao của HS (phân tích, tổng hợp, đánh giá) của phương pháp trắc nghiệm là khó khăn hơn, do khó để xây dựng được câu hỏi trắc nghiệm cho các mức độ nhận thức này.
* Tự luận: Là phương pháp thu thập thông tin đánh giá nhờ hệ thống câu hỏi, bài tập, yêu cầu HS ghi ra câu trả lời hoặc làm bài tập, bài luận trên giấy hoặc trên máy tính.
Phương pháp tự luận có những ưu điểm sau: câu hỏi, bài tập đòi hỏi thí sinh tự trả lời và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình, GV ít tốn thời gian cho việc soạn câu hỏi, thí sinh có thể tự do diễn đạt ý tưởng phát huy khả năng sáng tạo, cách thức giải quyết vấn đề, rèn luyện ngôn ngữ cho họ. Tuy nhiên, phương pháp tự luận có nhƣợc điểm là: số lƣợng câu hỏi ít, do đó chỉ đánh giá đƣợc một phạm vi kiến thức hẹp của HS, chấm bài tốn thời gian, cho điểm gặp khó khăn vì phụ thuộc rất nhiều vầo trình độ và năng lực của người chấm, tính khách quan không cao nên độ tin cậy thấp.
b. Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp (hỏi đáp) là phương pháp GV đặt câu hỏi và HS trả lời câu hỏi (hoặc ngƣợc lại), nhằm đạt đƣợc những mục đích nhất định trong dạy học. Mục đích đó có thể là giúp HS khám phá, tìm kiếm tri thức mới trong dạy học kiến thức mới, hay thu thập thông tin về mức độ hiểu biết kiến thức, khả năng trình bày, giao tiếp cũng nhƣ thái độ, sự quan tâm, quan điểm cá nhân của người học.
c. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát trong đánh giá là phương pháp thu thập thông tin của người học thông qua quá trình theo dõi hoạt động học tập của HS (quan sát quá trình) hoặc nhận xét sản phẩm quá trình học tập của HS (quan sát sản phẩm). Phương pháp quan sát thích hợp khi cần thu thập thông tin về những biểu hiện hành vi, kĩ năng, thái độ của người học, chẳng hạn như sự tương tác giữa các HS với nhau trong nhóm (tranh luận, chia sẻ suy nghĩ,…); sự chú ý, tập trung trong học tập; thái độ học tập, kĩ năng thực hành...Do vậy, phương pháp này có thể được sử dụng để đánh giá các năng lực thể hiện qua biểu hiện hành vi của người học như năng lực giao tiếp hợp tác, tự chủ tự học, năng lực tìm hiểu thế giới sống...
Ưu, nhược điểm và yêu cầu khi sử dụng phương pháp quan sát
- Ƣu điểm: Giúp cho việc thu thập thông tin của GV đƣợc kịp thời, nhanh chóng (quan sát không chính thức). Quan sát được dùng kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện một cách liên tục, thường
xuyên và toàn diện.
- Hạn chế: Kết quả quan sát phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người quan sát; Khối lƣợng quan sát không đƣợc lớn, khối lƣợng thu đƣợc không thật toàn diện nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin; Chỉ thu đƣợc những biểu hiện trực tiếp, bề ngoài của đối tƣợng.
d. Phương pháp đánh giá sản phẩm học tập
Đây là phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học thông qua các sản phẩm nhƣ: bức vẽ, bản đồ, đồ thị, đồ vật, sáng tác, chế tạo, lắp ráp… Qua các sản phẩm học tập, GV có thể đánh giá đƣợc kiến thức, khả năng sáng tạo, các kĩ năng hành động, giải quyết vấn đề, hợp tác… của người học. Để đánh giá sản phẩm, GV cần dựa vào các tiêu chí và tiêu chuẩn được thể hiện dưới dạng Bảng kiểm, Thang đánh giá, Rubric.
Các dạng sản phẩm học tập27:
- Sản phẩm giới hạn ở những kỹ năng thực hiện trong phạm vi hẹp (cắt hình, xếp hình, hát một bài hát…)
- Sản phẩm đòi hỏi người học phải sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, các kỹ năng có tính phức tạp hơn, và mất nhiều thời gian hơn: thiết kế mô hình bể cá sinh thái, xây dựng poster tuyên truyền…. Sản phẩm này có thể đòi hỏi sự hợp tác giữa các HS và nhóm HS, thông qua đó mà GV có thể đánh giá đƣợc năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS.
e. Hồ sơ học tập
Hồ sơ học tập là một tập hợp các yêu cầu, nhận xét, những ghi chép, sản phẩm, kết quả bài kiểm tra trong quá trình học tập của HS theo những mục đích nhất định.
Thông qua hồ sơ học tập, GV và chính bản thân HS sẽ có những đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, sự tiến bộ của HS trong quá trình học tập, từ đó có những hướng dẫn, điều chỉnh để việc dạy và học tốt hơn. Ngoài ra, hồ sơ học tập cũng là kênh liên lạc và kết nối có hiệu quả với cha mẹ HS về quá trình học tập của HS. Hồ sơ học tập có thể đƣợc thực hiện bởi GV, tuy vậy, việc HS tự xây dựng hồ sơ học tập của riêng mình dưới sự hướng dẫn của GV sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Một mặt, HS thể hiện được
bản sắc, sự sáng tạo của bản thân trong cách sắp xếp, xây dựng hồ sơ. Mặt khác, xây dựng hồ sơ sẽ giúp HS tự đánh giá quá trình học tập của bản thân sâu sắc hơn, từ đó có chiến lƣợc học tập hiệu quả hơn.