CHƯƠNG 4. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
4.1. Quan điểm, phương pháp dạy học
4.1.3. Bàn tay nặn bột
Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.
Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột tiếng Pháp là La main à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, đều có nghĩa là “bắt tay vào hành động”. Đây là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sƣ Georges Charpak (Giải Nobel Vật lí năm 1992). Theo ông thì: Bàn tay nặn bột, thực chất là sự huy động cả năm giác quan: xúc giác cũng nhƣ thị giác, thính giác và có cả khứu giác và vị giác nữa để phát triển trong HS sự tiếp xúc diệu kì với thế
giới bao quanh, để HS học cách khám phá và tìm hiểu nó.
Theo phương pháp Bàn tay nặn bột, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đƣợc đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
Đứng trước một sự vật hiện tượng, HS có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đƣa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức.
Về bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của HS thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lí (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề đó nhƣ thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận.
Mục tiêu: Tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của HS.
Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS.
4.1.3.2. Tổ chức dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Phương pháp Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận và tiến trình đó đi theo 6 bước cụ thể là:
* Bước 1: GV đặt tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do GV chủ động đƣa ra nhƣ là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với HS. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học. Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không đƣợc dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.
* Bước 2: HS thực hiện qui trình giải quyết câu hỏi nêu vấn đề
- Bộc lộ biểu tượng ban đầu: Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, l à đặc trưng của phương pháp Bàn tay nặn bột. Bước này khuyến khích HS
nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức. GV có thể yêu cầu HS trình bày biểu tƣợng ban đầu bằng nhiều hình thức, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ.
- Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về biểu tƣợng ban đầu của HS, GV giúp HS đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. Ở bước này GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tƣợng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp HS so sánh, từ đó giúp HS đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.
- Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi đƣợc đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS, đề nghị HS đề xuất thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là: "Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?"; "Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra!"…Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết, trình bày ý tưởng của mình sau đó đối chiếu với các bạn. Nếu ý kiến của HS nêu lên có ý đúng nhƣng ngôn từ chƣa chuẩn xác hoặc diễn đạt chƣa rõ thì GV nên gợi ý giúp HS suy nghĩ và sử dụng ngôn từ thích hợp. Trường hợp HS đưa ra ngay thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì GV nên tiếp tục hỏi các HS khác để làm phong phú phương án tìm câu trả lời. Sau khi HS đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn. Trường hợp HS không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu thích hợp, GV có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà HS chưa nghĩ ra. Ở đây, phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành - thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…
- Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu: Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để HS tiến hành. Ƣu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Khi tiến hành thực hiện thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì? Lúc này GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt đông. Sở dĩ như vậy là vì, nếu để các vật
dụng thí nghiệm sẵn trên bàn HS sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật trong lớp; hoặc HS tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của GV đưa ra;
hoặc HS sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm.
Tiến hành thí nghiệm tương ứng với nội dung kiến thức. Làm lần lượt các thí nghiệm nếu có nhiều thí nghiệm. Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để HS rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng).
GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thí nghiệm. Phần ghi chép này GV để HS ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột. Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, GV nên thiết kế một mẫu sẵn để HS điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm. Ví dụ nhƣ các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…Khi HS làm thí nghiệm, GV bao quát lớp, quan sát từng nhóm. Nếu thấy nhóm hoặc HS nào làm sai theo yêu cầu thì GV chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng HS đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm HS khác. GV chú ý yêu cầu HS thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm đƣợc thực hiện theo từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy.
Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránh việc HS nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho GV phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm đƣợc thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhƣng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lí sẽ không thu đƣợc kết quả thí nghiệm nhƣ ý.
* Bước 3. HS báo cáo kết quả và thảo luận.
HS báo cáo kết quả giải quyết vấn đề, các HS khác nhận xét và bổ sung ý kiến.
Trong giai đoạn này, Gv dự kiến và đặt ra những câu hỏi có liên quan để làm sáng tỏ vấn đề, mở rộng những kiến thức, kĩ năng có liên quan đến vấn đề học tập.
* Bước 4. Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần
đƣợc giải quyết, kiến thức đƣợc hình thành, tuy nhiên vẫn chƣa có hệ thống hoặc chƣa chuẩn xác một cách khoa học. GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút ra kiến thức của bài học). GV khắc sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức. Nếu có điều kiện, GV có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phát cho HS dán vào vở thí nghiệm hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gian ghi chép.
Sau khi tổ chức dạy học, GV cần đánh giá các khía cạnh sau: Tính phù hợp giữa thời gian thực tế dạy học với thời gian dự kiến; Mức độ đạt đƣợc mục tiêu của HS, thông qua kết quả đánh giá các hoạt động học tập; Sự hứng thú của HS với chủ đề, thông qua kết quả đánh giá các hoạt động học tập; Mức độ khả thi với điều kiện cơ sở vật chất. Việc đánh giá tổng thể chủ đề có ý nghĩa đối với GV, giúp GV điều chỉnh, bổ sung chủ đề cho phù hợp hơn.
Ví dụ minh họa về việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học về thoát hơi nước ở thực vật.
* Bước 1: GV đặt tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
GV giới thiệu trường hợp nếu không tưới nước đầy đủ cây sẽ bị héo lá vào buổi trưa để cùng HS nhận diện về hiện tượng thoát hơi nước. Từ đó GV đặt vấn đề: Quá trình thoát hơi nước của cây diễn ra như thế nào? Chủ yếu qua bộ phận nào?
* Bước 2: HS thực hiện qui trình giải quyết câu hỏi nêu vấn đề
- Bộc lộ biểu tƣợng ban đầu: Diễn ra ở lá, tại bộ phận nào đó trên bề mặt lá…
- Đề xuất câu hỏi :GV yêu cầu HS lí giải các biểu tƣợng ban đầu mà mình đã đặt ra; từ đó lựa chọn biểu tượng ban đầu về việc thoát hoai nước diễn ra ở lá; gợi ý để cùng HS đặt ra một số câu hỏi: Làm cách nào để chứng minh quá trình thoát hơi nước ở lá? Lá có cấu tạo đặc biệt như thế nào để có thể diễn ra quá trình thoát hơi nước? Làm thể nào
để biết con đường diễn ra quá trình thoát hơi nước ở lá?
- Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu:
+ GV hướng dẫn HS tham khảo tài liệu và đề xuất biện pháp thí nghiệm chứng minh thoát hơi nước diễn ra ở lá từ một số vật liệu đơn giản như chậu cây nhỏ (có lá và không có lá), bao nilon. Nghiên cứu SGK để tìm hiểu về giải phẩu cắt ngang của lá.
+ Từ đề xuất của HS, GV cùng HS đưa ra phương án thí nghiệm cuối cùng: Lấy 2 chậu cây, 1 chậu có lá và 1 chậu không có lá. Trùm túi ni lông lên cả hai chậu. Sau một thời gian thì thấy cây có lá xuất hiện hơi nước trong túi ni lông. Còn chậu không có lá thì không có hiện tƣợng. Quan sát ghi lại kết quả so sánh giữa 2 chậu và giải thích vào vở thực hành. Tiếp tục lấy lá của chậu 1, quan sát dưới kính hiển vi, vẽ lại cấu tạo của lá dựa theo những gì quan sát đƣợc vào vở thực hành.
- Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu: HS tiến hành thí nghiệm từ tiết 1 của buổi học/ thực hiện ở nhà
* Bước 3. HS báo cáo kết quả, các HS khác nhận xét, bổ sung ý kiến. GV có thể đặt một số câu hỏi để thảo luận: Tại sao sự thoát hơi nước qua mặt dưới của lá mạnh hơn qua mặt trên? Thoát hơi nước ở lá xảy ra theo những con đường chủ yếu nào? Các loài thực vật ở sa mạc làm thế nào để hạn chế thoát hơi nước? Vì sao đứng dưới bóng cây mát hơn đứng dưới mái che bằng vật liệu xây dựng?
* Bước 4. Kết luận, hợp thức hóa kiến thức. GV nhận xét quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của HS. Chính xác hóa những kiến thức, kĩ năng liên quan đến nội dung học tập:
+ Thoát hơi nước ở lá diễn ra theo 2 con đường: Qua khí khổng: Vận tốc lớn, được điều tiết (phổ biến nhất); Qua tầng cutin: Vận tốc nhỏ, không đƣợc điều tiết.
+ Cơ chế : Khuyếch tán, sự điều tiết độ đóng mở khí khổng.
+ Vai trò: Tạo ra sức hút nước ở rễ; Giảm nhiệt độ bề mặt thoát hơi tránh cho lá, cây không bị đốt náng khi nhiệt độ quá cao; Tạo điều kiện để CO2 đi vào thực hiện quá trình quang hợp, giải phóng O2 điều hoà không khí....