Kĩ thuật dạy học

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 119 - 132)

CHƯƠNG 4. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

4.2. Kĩ thuật dạy học

Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm của HS thông qua sử dụng phiếu học tập

đƣợc bố trí nhƣ khăn trải bàn. Kĩ thuật dạy học này có vai trò kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS; phát triển mô hình có sự hợp tác giữa HS với HS, phát triển năng lực giao tiếp, tƣ duy phản biên...

Hình 4.3. Minh họa kĩ thuật khăn trải bàn

Kĩ thuật khăn phủ bàn thường vận dụng trước những câu hỏi (vấn đề) có tính mở, như tìm các giải pháp cho các kiến thức xây dựng theo con đường lí thuyết (Giải pháp bảo vệ môi trường nước..), các phương án thí nghiệm cho các kiến thức xây dựng theo con đường thực nghiệm, các ứng dụng của kiến thức trong thực tiễn (thể hiện sự tích hợp mức liên hệ)... Kĩ thuật này đặc biệt phù hợp trong dạy học các vấn đề liên quan đến hình thành thái độ, chủ kiến cá nhân...

4.2.1.2. Cách tiến hành

+ Mỗi HS ngồi vào vị trí nhƣ hình vẽ minh hoạ

+ Mỗi HS chủ động ghi ý kiến của mình vào ô ý kiến cá nhân. Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút.

+ Nhóm chia sẻ và thảo luận các câu trả lời của thành viên trong nhóm.

+ Nhóm thảo luận và ghi ý kiến chung cảu cả nhóm vào ô ghi ý chung cả nhóm.

Ví dụ minh họa:

(1) Khi dạy học kiến thức về Vệ sinh hệ thần kinh (Sinh học 8), GV đặt vấn đề và tổ chức Thảo luận nhóm với tình huống sau: Bạn An rất mê game nhƣng vẫn lo học, trong mùa thi bạn lên kế hoạch uống cafe vào buổi tối để tỉnh táo và chơi game đến 10h khuya, sau đó học bài đến 1/2h sáng. Theo em, bạn n làm như thế có ảnh hưởng không tốt đến Hệ thần kinh không? Tại sao?

(2) Khi dạy về Virut gây bệnh và Ứng dụng vi rút trong thực tiễn, GV vào bài bằng câu hỏi thảo luận nhóm sau: Theo em, Virut có lợi hay có hại? Vì sao?

4.2.2. Kĩ thuật mảnh ghép 4.2.2.1. Mô tả

- Kĩ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của HS, nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).

Kĩ thuật các mảnh ghép là một KTDH thể hiện quan điểm/chiến lƣợc học hợp tác, trong đó có kết hợp hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm và liên kết giữa các nhóm.

- Kĩ thuật các mảnh ghép thường vận dụng trong quá trình tổ chức hoạt động học tập tìm hiểu về một nội dung/chủ đề cụ thể, trong nội dung/chủ đề này có nhiều nội dung nhỏ hơn (gọi là đơn vị nội dung bộ phận) tương đối trọn vẹn và các nội dung bộ phận này có dung lượng kiến thức, kĩ năng tương đương nhau.

4.2.2.2. Cách tiến hành

Kĩ thuật này đƣợc thực hiện qua 2 vòng gồm các nhóm chuyên gia (vòng 1) và nhóm hợp tác (vòng 2) nhƣ hình 4.5.

Hình 4.4. Minh họa kĩ thuật Mảnh ghép - Giai đoạn 1: Nhóm chuyên sâu

+ Lớp học đƣợc chia thành các nhóm (khoảng 3-6 HS). Mỗi nhóm đƣợc giao một nhiệm vụ là tìm hiểu hoặc nghiên cứu một nội dung khác nhau trong nội dung dạy học.

+ Các nhóm nghiên cứu tài liệu hoặc SGK, thảo luận đảm bảo cho mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và có khả năng trình bày lại đƣợc các nội dung đã nghiên cứu.

- Giai đoạn 2: Nhóm mảnh ghép

+ Mỗi HS từ các nhóm chuyên sâu khác nhau hợp lại thành nhóm mới, nhóm mới đƣợc gọi là nhóm mảnh ghép.

+ Từng HS sẽ trình bày lại cho nhóm mới nghe về nội dung mình đã đƣợc nghiên cứu, tìm hiểu ở nhóm chuyên sâu.

+ Nhiệm vụ mới đƣợc giao cho các nhóm mảnh ghép. Nhiệm vụ này mang tính khái quát cao, tổng hợp toàn bộ nội dung đã đƣợc tìm hiểu ở nhóm chuyên sâu.

Ví dụ mình họa: Khi tìm hiểu về nội dung “Hoocmôn thực vật”, GV có thể vận dụng kĩ thuật các mảnh ghép với vòng 1 (vòng chuyên gia) gồm 5 nhóm: Nhóm 1 – Tìm hiểu về Auxin, nhóm 2 – Tìm hiểu về Gibêrelin, nhóm 3 – Tìm hiểu về Xitôkinin, nhóm 5 – Tìm hiểu về Etilen, Nhóm 6 – Tìm hiểu về Axit abxixic; vòng 2 (Vòng ghép) sẽ hình thành các nhóm gồm các thành viên từ nhóm 1 đến nhóm 6 ở vòng chuyên gia và thực hiện nhiệm vụ “Tìm hiểu về hoocmon thực vật”. Hoặc vòng chuyên gia có thể chia 2 nhóm: Nhóm 1 – Tìm hiểu về hoocmon kích thích và nhóm 2 – Tìm hiểu về hoocmon ức chế.

4.2.3. Kĩ thuật ổ bi 4.2.3.1. Mô tả

Hình 4.5. Minh họa kĩ thuật ổ bi

Kĩ thuật “ổ bi” là một kĩ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm theo hai vòng tròn đồng tâm nhƣ hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lƣợt các HS ở nhóm khác nhằm kích thích sự tham gia của HS, nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình dạy học. Kĩ thuật ổ bi thích hợp trong việc tổ chức cho HS ôn tập kiến thức cũ (ôn tập cuối chương...) hoặc ôn tập/trao đổi hiểu biết về 1 chủ đề cụ thể trước khi tiến hành tạo nhóm để tìm hiểu sâu sắc hơn về chủ đề đó.

4.2.3.2. Cách thực hiện

- Để tổ chức thực hiện hoạt động học tập bằng kĩ thuật ổ bi, GV cần chuẩn bị hệ thống các câu hỏi, sao cho mỗi câu hỏi có thời gian trao đổi vừa phải, với 1 nội dung kiến thức tương đối trọn vẹn. Có thể tiếp tục chia nhóm thảo luận theo đường nét đứt.

- GV tổ chức xếp vòng ổ bi và giới thiệu chủ đề/nội dung cần ôn tập.

- GV nêu câu hỏi và cho HS thảo luận, sao cho mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài và ngược lại. Đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác.

- Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ (hoặc ngược lại), tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.

Ví dụ minh họa: Để tổ chức dạy học bài thực hành “Quản lí và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên“, GV có thể sử dụng kĩ thuật ổ bi với hệ thống các câu hỏi sau:

(1) Tài nguyên không tái sinh là gì? Gồm những loại nào?

(2) Tài nguyên tái sinh là gì? Gồm những loại nào?

(3) Tài nguyên năng lƣợng vĩnh cửu là gì? Gồm những loại nào?

(4) Hãy chia sẻ biện pháp sử dụng bền vững tài nguyên nước.

(5) Làm thế nào để sử dụng bền vững tài nguyên đất?

(6) Hãy trình bày các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên rừng.

(7) Làm thế nào để khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên biển và ven biển?

(8) Hãy trình bày cách thức duy trì đa dạng Sinh học.

Sau đó chia nhóm lớn hơn và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chung: Hãy phân tích tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đề xuất biện pháp khai thác bền vững tài

nguyên thiên nhiên ở nước ta.

4.2.4. Kĩ thuật công đoạn 4.2.4.1. Mô tả

Kĩ thuật công đoạn đƣợc sử dụng trong dạy học hợp tác, trong đó HS đƣợc chia thành các nhóm, mỗi nhóm đƣợc giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau. Sau đó lần lƣợt chuyển kết quả cho nhóm khác, nhóm nhận kết quả có nhiệm vụ đọc và bổ sung ý kiến, chỉnh sửa các ý kiến nếu cần thiết.

4.2.4.2. Cách tiến hành

- Chia nhóm: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D,…

- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm sẽ luân chuyển giấy A0 ghi kết quả thảo luận cho nhau. Cụ thể là: Nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm 1. Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.

- Cứ nhƣ vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại đƣợc tờ giấy A0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác. Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm . Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học.

Lưu ý: Các câu hỏi thảo luận nên có nội dung kiến thức tương đối trọng vẹn (không nên thuộc loại kiến thức cơ chế, quy trình hay quy luật, định luật).

Ví dụ minh họa: Vận dụng kĩ thuật công đoạn vào việc tìm hiểu Đột biến cấu trúc Nhiễm sắc thể:

Nhóm 1: Đột biến chuyển đoạn là gì? Nguyên nhân và cơ chế dẫn đến đột biến chuyển đoạn?

Nhóm 2: Đột biến mất đoạn là gì? Nguyên nhân và cơ chế dẫn đến đột biến mất đoạn?

Nhóm 3: Đột biến đảo đoạn là gì? Nguyên nhân và cơ chế dẫn đến đột biến đảo đoạn?

Nhóm 4: Đột biến lặp đoạn là gì? Nguyên nhân và cơ chế dẫn đến đột biến lặp đoạn?

4.2.5. Kĩ thuật KWL(H) 4.2.5.1. Mô tả

Kĩ thuật KWL là viết tắt của các từ sau: K: Known - Những điều đã biết; W:

want to know - Những điều muốn biết; L: Learned - Những điều đã học đƣợc; có thể bổ sung thêm cột H: How – Học đƣợc nhƣ thế nào? Loại bảng này dùng để khơi gợi lại những kiến thức đã học/đã tìm hiểu của HS bằng cách hỏi về những gì đã biết về bài học và giúp các em liên hệ với bản thân trước khi tìm hiểu sâu hơn về nội dung bằng việc đƣa ra các ớ kiến trong cột “K”. Sau đó, các em độc lập hoặc hợp tác động não đƣa ra các câu hỏi trong cột “W”. Cuối cùng, khi trả lời những câu hỏi này trong quá trình học, các em thu nhận thông tin và điền vào cột “L”. Có thể bổ sung thêm cột H (How) khi cần thiết.

4.2.5.2. Cách thực hiện21

- Chọn bài đọc: Công cụ này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích

- Tạo bảng KWL: GV vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi HS cũng có một mẫu bảng của các em..

- Đề nghị HS động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề.

Cả GV và HS cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi HS đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho HS thảo luận về những gì các em đã ghi nhận.

Để tạo điều kiện cho HS thực hiện nhiệm vụ ở cột K, GV cần chuẩn bị những câu hỏi để giúp HS động não. Đôi khi để khởi động, HS cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em: "Hãy nói những gì các em đã biết về...". Đồng thời GV cần khuyến khích HS giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường. GV cần hỏi HS xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả GV và HS ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi HS đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Nếu HS trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.

Tại hình thành cột W – GV cần hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em: "Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?" Đôi khi HS trả lời đơn

21 Bộ Giáo dục và đào tạo (2020), Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thông cốt cán, Module 3 – Kiểm tra đánh giá học sinh trung học cơ sở theo hướng phát triển phẩm chất năng lực, Hà nội.

giản "không biết", vì các em chưa có ý tưởng. Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau:"Em nghĩ mình sẽ biết thêm đƣợc điều gì sau khi em đọc chủ đề này?". GV có thể chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi: "Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên quan đến ý tưởng này không?". Đồng thời GV cần chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W để phòng trường hợp HS không tập trung vào những ý tưởng mà bạn mong muốn hoặc các câu hỏi của HS không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi của HS.

- Yêu cầu HS đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm đƣợc vào cột L. Trong quá trình đọc, HS cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W.

HS có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong. Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích HS ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em. Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lời cho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao. GV cũng có thể đề nghị HS tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời. (Không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều đƣợc bài đọc trả lời hoàn chỉnh). Thảo luận những thông tin đƣợc HS ghi nhận ở cột L − Khuyến khích HS nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhƣng chƣa tìm đƣợc câu trả lời từ bài đọc.

Ví dụ Bảng KWL(H) Tên bài học: ………..

Tên học sinh: .…...………. Lớp:.………….

Trường: ……….……...

K

(Những điều đã biết)

W

(Những điều muốn biết)

L

(Những điều đã học đƣợc)

H

(Học nhƣ thế nào?)

-………

-………

-……….

- ………..

-………...…..

-……….…

-…………...…..

-……….…

4.2.6. Kĩ thuật 5W1H (kĩ thuật Kipling) 4.2.6.1. Mô tả

5W1H là sáu từ dùng để hỏi trong tiếng Anh: What (cái gì) Where (ở đâu), When (khi nào), Who (là ai), Why (tại sao), How (thế nào).

Kĩ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới, hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển, sử dụng hiệu quả khi xây dựng giải pháp thực hiện dự án, xây dựng các nhiệm vụ cho một chủ đề dạy học liên môn. Kĩ thuật này đặc biệt phù hợp trong việc phát triển năng lực tự học cho HS. Bên cạnh đó còn có thể vận dụng trong dạy học theo hình thức tranh luận.

Để trình bày một ý tưởng, tóm tắt một sự kiện, một cuốn sách hoặc bắt đầu nghiên cứu một vấn đề, hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi ví dụ nhƣ: WH T? (Cái gì?), WHERE (Ở đâu?), WHEN (Khi nào?), WHY (Tại sao?), HOW (Nhƣ thế nào?), WHO (Ai?).

4.2.6.2. Cách thực hiện

- Với mục đích hướng dẫn tự học:

+ Giao nhiệm vụ học tập

+ Hướng dẫn cách sử dụng kĩ thuật 5W1H (Vấn đề nằm ở tâm, các nhánh sẽ là các câu hỏi 5W1H – Tương tự Sơ đồ tư duy/ Dùng bảng). Lưu ý: Các câu hỏi cần ngắn gọn, đi thẳng vào chủ đề; các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how)

Ví dụ minh họa: Khi tổ chức dạy học về Nhân bản vô tính ở động vật

Câu hỏi Dự kiến

câu trả lời WHAT Nhân bản vô tính là gì

WHY 1.Tại sao cần nghiên cứu công nghệ nhân bản vô tính?

2.Tại sao nhân của tế bào sinh dƣỡng lại có thể phát triển nhƣ 1 hợp tử khi đƣa vào trứng loại bỏ nhân?

HOW Quy trình nhân bản vô tính đƣợc tiến hành nhƣ thế nào?

WHO i là người đầu tiên thành công công nghệ nhân bản vô tính?

WHERE Nhân bản vô tính đã đƣợc công nhận và phát triển ở những nước nào?

WHEN Công nghệ nhân bản vô tính ra đời khi nào?

- Với mục đích tổ chức dạy học trên lớp

+ Giai đoạn tự học theo hình thức chuẩn bị bài ở nhà: thực hiện bước 1 và 2 như trên

+ Giai đoạn trên lớp: Chia lớp thành 2 nhóm, nhóm hỏi và nhóm trả lời; có thể xuyên suốt hoặc luân phiên với từng nhóm câu hỏi.

4.2.7. Kĩ thuật phòng tranh 4.2.7.1. Mô tả

Kĩ thuật phòng tranh là kĩ thuật GV tổ chức cho HS giải quyết vấn đề học tập bằng cách trưng bày ý tưởng của cá nhân hoặc một nhóm xung quanh lớp học như một triển lãm tranh thực sự. Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

* Ƣu điểm của kĩ thuật phòng tranh:

- Góp phần giúp HS có đƣợc khả năng ghi nhớ kiến thức tốt nhất.

- Tạo không khí học tập thoải mái, sinh động nhưng vẫn hiệu quả. Người học sẽ đƣợc tạo cơ hội để giao tiếp, thể hiện quan điểm riêng, giá trị bản thân, ƣớc mơ, mục tiêu cá nhân…

- Hình thành và rèn luyện kĩ năng thuyết trình cho tất cả HS trong lớp. Từ đó bồi đắp sự tự tin cho HS.

- Việc quan sát hình ảnh trong tranh giúp HS ghi nhớ đƣợc thông tin kiến thức nhanh và lâu hơn so với nghe và đọc trong cùng 1 thời gian.

4.2.7.2. Cách thực hiện

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm. Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

- GV tổ chức hoạt động nhóm qua 2 vòng:

+ Vòng 1: Thành lập các nhóm chuyên gia. Mỗi nhóm chuyên gia thực hiện một nhiệm vụ học tập (Có thể cùng 1 chủ đề nhưng định hướng những sản phẩm khác nhau nhƣ thiết kế nhiệm vụ học tập bằng tranh vẽ, làm mô hình, nặn đất….; hoặc nhiều nhiệm vụ học tập riêng lẻ - là bộ phận của 1 chủ đề học tập).

+ Vòng 2: Thành lập nhóm ghép đi xem tranh sao cho mỗi nhóm ghép sẽ bao

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 119 - 132)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(227 trang)