CHƯƠNG 5. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
5.2. Phương pháp và công cụ đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
5.2.2. Công cụ đánh giá
Câu hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu của phương pháp trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận) và phương pháp vấn đáp. Câu hỏi bao gồm các dạng sau:
- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Gồm có 04 dạng: câu hỏi ghép nối, câu hỏi điền khuyết, câu hỏi đúng sai, câu hỏi nhiều lựa chọn
- Câu hỏi ghép nối: Loại câu này thường bao gồm hai dãy thông tin gọi là các câu dẫn và các câu đáp. Hai dãy thông tin này có số câu không bằng nhau, một dãy là danh mục gồm các tên hay thuật ngữ và một dãy là danh mục gồm các định nghĩa, đặc điểm,... Nhiệm vụ của người làm bài là ghép chúng lại một cách thích hợp.
Ví dụ: câu hỏi ghép đôi đánh giá năng lực nhận thức sinh học của HS về nội dung câu trúc và chức năng của tế bào (mức độ hiểu)
Cấu trúc (A) Chức năng (B) Trả lời
1. Vỏ nhầy 2. Thành tế bào 3. Màng sinh chất 4. Tế bào chất 5. Nhân tế bào
a. Quy định hình dạng tế bào và bảo vệ tế bào
b. Là nơi thực hiện các hoạt động chuyển hóa của tế bào
c. Tăng sức bảo vệ tế bào .
d. Chứa vật chất mang thông tin di truyền e. Điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào
f. Đảm bảo mối liên hệ giữa môi trường bên trong và bên ngoài tế bào
g. Giúp tế bào di chuyển đƣợc
1…..
2…..
3…..
4…..
5…..
- Câu hỏi đúng – sai
Loại này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và thí sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn đúng (Đ) hoặc sai (S). Loại CH này rất thông dụng vì nó thích hợp với những kiến thức sự kiện, có thể KT nhiều kiến thức trong một thời gian ngắn. GV có thể soạn một đề thi trong thời gian ngắn. Nhƣợc điểm cuả loại này là khó xác định
điểm yếu của HS do yếu tố đoán mò, xác xuất đúng - sai 50%, có độ tin cậy thấp.
Ví dụ: Câu hỏi đánh giá biểu hiện Năng lực nhận thức Sinh học “Trình bày đặc điểm của các hình thức sinh sản ở thực vật” (mức độ Hiểu):
Hãy xác định những câu dưới đây là đúng hay sai
Nhận định Đúng Sai
1. Sự kết hợp hai bộ nhân đơn bội của giao tử đực và giao tử cái hình thành hợp tử
2. Ứng dụng hình thức sinh sản hữu tính trong trồng trọt sẽ giúp bảo tồn đƣợc các đặc tính tốt của cây.
3. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản phổ biến ở thực vật bậc cao - Câu hỏi điền khuyết
Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết là những phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống, HS phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ cần thiết.
Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết có ƣu điểm là làm hạn chế khả năng đoán mò của HS, phát huy óc sáng tạo của HS khi HS có thể sử dụng những thuật ngữ khác có ý nghĩa tương đương đáp án. GV dễ soạn và có thể đánh giá mức hiểu biết về các nguyên lý, giải thích các sự kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ của HS đối với vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, nhƣợc điểm lớn của loại trắc nghiệm này là việc chấm bài mất nhiều thời gian và GV thường không đánh giá cao các câu trả lời sáng tạo tuy khác đáp án mà vẫn có lí.
Ví dụ 1. Câu hỏi đánh giá biểu hiện Năng lực nhận thức Sinh học “ Trình bày được vai trò của rễ cây” trong dạy học bài “Sự hút nước và muối khoáng của rễ” (Sinh học 6).
Hãy chọn từ thích hợp trong các từ: lông hút, vỏ, mạch gỗ, mạch rây điền vào chỗ trống trong các câu dưới đây:
Câu 1. Nước và muối khoáng hoà tan trong đất, được .... hấp thụ, chuyển qua ... tới ....
Câu 2. Rễ mang các ... có chức năng hút nước và muối khoáng hoà tan trong đất.
- Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple-Choice Question - MCQ)
thường từ 4-5 phương án chọn), trong đó chỉ có một tuỳ chọn là câu trả lời chính xác, các tuỳ chọn không chính xác còn lại được gọi là phương án nhiễu. Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn nên sử dụng khi:
+ Khảo sát kết quả học tập trên một số lƣợng lớn HS trong thời gian ngắn.
+ Đánh giá mức độ đạt đƣợc về mục tiêu kiến thức của HS.
+ Khi không muốn mất nhiều thời gian để chấm điểm, muốn chấm điểm nhẹ nhàng, nhanh chóng và có đƣợc những điểm số đáng tin cậy không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm bài.
+ Khi muốn ngăn ngừa HS học tủ và gian lận trong khi làm bài.
Trong dạy học phát triển năng lực, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm MCQ có ƣu thế trong việc đánh giá năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các mức độ thấp hoặc trung bình nhƣ biết, hiểu, vận dụng. Đối với các mức độ nhận thức cao nhƣ phân tích, đánh giá, câu hỏi MCQ thường khó thu thập hơn, đòi hỏi câu hỏi MCQ cần phải được thiết kế cẩn thận, chi tiết.
Ví dụ: Câu hỏi MCQ đánh giá biểu hiện Năng lực nhận thức Sinh học “Phân biệt đƣợc cây ƣa sáng và ƣa bóng” (mức độ hiểu)
Đặc điểm nào dưới đây thuộc nhóm cây ưa sáng?
A. Cây có lá màu xanh thẫm, phiến lá mỏng và lá nằm ngang so với mặt đất B. Cây có lá màu xanh nhạt, phiến lá dày và xếp nghiêng so với mặt đất
C. Cây có phiến lá mỏng, mô giậu kém phát triển, lá nằm ngang so với mặt đất D. Cây có phiến lá dày, mô phát triển, lá nằm ngang so với mặt đất
- Câu hỏi trả lời ngắn: Câu trả lời ngắn đòi hỏi HS trình bày sự hiểu biết bằng cách viết một từ, một cụm từ hay một đoạn văn khoảng 4, 5 dòng. Phương pháp này thích hợp cho những HS gặp khó khăn về vốn từ, hoặc khi GV muốn thu thập thông tin về cả kiến thức, kĩ năng trình bày hay lập luận của HS. Tuy nhiên, vì dung lƣợng câu trả lời tương đối ngắn và hẹp nên những kĩ năng này thường chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản.
Một số ví dụ về câu hỏi trả lời ngắn:
Câu 1. Cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ tế bào là gì?
Câu 2. Khái niệm Quần thể đƣợc định nghĩa nhƣ thế nào?
- Câu hỏi tự luận: Câu tự luận tạo cho HS cơ hội tốt để viết câu trả lời của
mình, có hiệu quả cao khi đánh giá tƣ duy cấp cao nhƣ phân tích, tổng hợp và đánh giá. Có hai dạng câu hỏi tự luận là câu tự luận có giới hạn cấu trúc và câu tự luận không cấu trúc.
+ Câu tự luận giới hạn cấu trúc (question/restricted-response): là loại câu hỏi mà ý hỏi có giới hạn về nội dung trả lời. Nội dung câu hỏi đề cập tới những vấn đề cụ thể, nội dung đƣợc giới hạn trong phạm vi nhất định. Nhờ tính cụ thể của câu trả lời nên sẽ dễ dàng hơn cho GV đánh giá kết quả và độ tin cậy cao hơn. GV có thể sử dụng dạng câu hỏi này đánh giá năng lực nhận thức Sinh học hoặc đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS. Tuy nhiên, bởi sự giới hạn về nội dung trả lời nên loại câu hỏi này không có lợi thế khi thu thập thông tin về quan điểm cá nhân cũng như tính sáng tạo của người học.
Ví dụ về câu tự luận giới hạn cấu trúc:
Câu 1. Hoạt động của enzyme bị ảnh hưởng bởi các yếu tố pH, nhiệt độ, nồng độ cơ chất nhƣ thế nào?
Câu 2. Hãy phân tích sự phù hợp giữa cấu trúc và chức năng của DN.
Câu 3. Tại sao nói ti thể là trung tâm năng lƣợng của tế bào?
+ Câu tự luận không cấu trúc (Unstructured essay-type question/free-response question) là những câu hỏi cho phép HS tự do xác định nội dung, cấu trúc và phạm vi câu trả lời về một chủ đề cụ thể, trong khoảng thời gian nhất định. HS tự quyết định thực tế nào là thích hợp và làm thế nào để tổ chức, tổng hợp, đánh giá chúng. Câu hỏi này thích hợp với để đánh giá các năng lực nhận thức ở mức độ cao (phân tích, đánh giá) và khả năng lập luận, trình bày của người học. Sau đây là một số ví dụ:
Câu 1. Có người đưa ra nhận định rằng: “Việc phát triển khu dịch tại bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng đã thu hẹp vùng sống của loài Vooc Chà vá chân nâu, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác bảo tồn loài động vật quý giá này”. Em có suy nghĩ gì về nhận định đó. Bản thân em sẽ làm gì để bảo tồn loài Voọc Chà vá chân nâu?
Câu 2. Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Sars-cov2 đang gây những tổn thất nặng nề đến sức khỏe của con người và nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Mặc dù dịch bệnh đƣợc tạm thời đẩy lùi ở Việt Nam, nhƣng nguy cơ bùng phát có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Dựa trên những hiểu biết của bản thân về dịch bệnh này,
phát dịch bệnh.
b. Bài tập
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000): “Bài tập là bài giao cho HS làm để vận dụng những điều đã học được”. Bài tập trong đánh giá theo định hướng phát triển năng lực là những tình huống nảy sinh trong cuộc sống, trong đó chứa đựng những vấn đề mà HS cần phải quan tâm, cần tìm hiểu, cần phải giải quyết và có ý nghĩa GD.
Cấu trúc bài tập có hai phần:
+ Phần thông tin: Thông tin trong bài tập phải gắn liền với các tình huống và bối cảnh đƣợc giả định hoặc có thực trong thực tiễn.
+ Phần yêu cầu: câu hỏi, yêu cầu (nhiệm vụ học tập mà HS phải thực hiện). Các yêu cầu của bài tập phải kích thích tư duy, buộc người học phải vận dụng kiến thức và vốn kinh nghiệm sẵn có của mình để lập luận, giải quyết vấn đề mà bài tập đƣa ra.
Dưới đây là ví dụ về dạng bài tập đánh giá cả 2 năng lực Năng lực Sinh học, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo:
“Với gần 2.600 ha rừng đặc dụng, bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đƣợc mệnh danh là xứ sở của loài thú linh trưởng như khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài, khỉ mặt lợn. Đặc biệt, khu rừng này có loài Voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao trong Sách đỏ Việt Nam. Một cán bộ kiểm lâm cho biết: “loài Voọc thường phân bố tập trung ở các khu vực rừng nguyên sinh – nơi chƣa có sự xuất hiện của con người nên rất hiếm khi chúng ta bắt gặp chúng. Chúng thường di chuyển kiếm ăn, nước uống uống vào thời điểm sáng sớm và gần chiều tối. Mỗi lần chúng tôi đi tuần tra sâu vào rừng thường bắt gặp mỗi đàn khoảng 10 -13 con đi chung với nhau”. Loài Voọc sống trên cây, thức ăn chủ yếu là lá cây (cây chò đen, cây Bứa, cây Đa xanh…).
Cách điểm du lịch chừng 1 km đường rừng, đàn voọc chà vá chân nâu với bộ lông ngũ sắc sặc sỡ đứng trên cây cao hướng ánh mắt tò mò nhìn những vị khách lạ. Dường như chúng đang dần quen với sự có mặt của khách du lịch. Vừa đƣa ống kính máy ảnh lên thì chú voọc đã nhanh chân di chuyển sang cành cổ thụ khác ẩn nấp. Trong ký ức của nhiều người dân Sơn Trà, voọc và khỉ là những con vật quen thuộc, gần gũi với cuộc sống con người. Trải qua thời gian, số lượng các loài linh trưởng dần ít đi. “Giờ muốn ngắm nhìn những chú voọc đầy màu sắc cũng phải đi bộ gần nửa ngày vào sâu trong
rừng mới hy vọng gặp” - ông Ninh tiếc nuối. Nhìn từ xa bán đảo Sơn Trà nhƣ một chiếc bánh bị cắt xẻ bởi những khu du lịch và các tuyến đường giao thông chằn chịt bao quanh đảo. Đi về phía đông nam bán đảo, các khu resort, khu giải trí, điểm du lịch nối tiếp nhau san sát. Nhiều cánh rừng bị phá nham nhở để nhường đất cho các dự án này. Sự phát triển của du lịch đã gây những ảnh hưởng tiêu cực đến quần thể Voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà.
Từ những thông tin trên, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Các tập tính nào của loài Voọc chà vá chân nâu có xuất hiện trong đoạn thông tin trên?
2. Các hoạt động phát triển du lịch có ảnh hưởng như thế nào đến sự tồn tại và phát triển của quần thể Voọc?
3. Theo em, nên làm thế nào để hạn chế tác động tiêu cực của phát triển du lịch đến quần thể Voọc ở Sơn Trà?
4. Em sẽ có những biện pháp gì để tuyên truyền bảo vệ loài Voọc quý hiếm này?
Quy trình xây dựng bài tập đánh giá năng lực:
Hình 5.2. Quy trình thiết kế bài tập đánh giá theo hướng phát triển năng lực Ví dụ về quy trình xây dựng bài tập đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho chủ đề “Quang hợp” – chương trình Sinh học 11 như sau:
Bước 3D: Xây dựng đáp án/tiêu chí đánh giá bài tập Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá
Bước 2: Xác định nội dung kiến thức có thể xây dựng bài tập
Bước 3: Thiết kế bài tập
Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện
Bước 3A: Tìm kiếm tư liệu
Bước 3B: Đề xuất giả thuyết và yêu cầu cầu
Bước 3C: Xây dựng cấu trúc sƣ phạm của bài tập
Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá
- Phân tích ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến quang hợp.
- Ảnh hưởng của quang hợp đến năng suất cây trồng - Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề
Bước 2: Xác định nội dung có thể xây dựng BTthí nghiệm - Khái niệm và PTTQ của QH.
- Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến quang hợp.
- Ảnh hưởng của quang hợp đến năng suất cây Bước 3: Thiết kế bài tập
Để xác định ảnh hưởng của quang hợp đến năng suất cây trồng bạn n quyết định làm thí nghiệm. Chọn 2 chậu khoai lang con và B. Chậu đƣợc để ở ngoài trời có ánh sáng 10h/ngày trong khi chậu B chỉ đƣợc để ngoài sáng 4h/ngày. Trong quá trình phát triển, cả 2 chậu đề được chăm sóc, bón phân và tưới nước như nhau. Sau 3 tháng, thu hoạch lấy tất cả củ ở 2 chậu và B đem đi cân để so sánh khối lƣợng.
Câu 1: Hãy dự đoán kết quả khi đo tổng khối lƣợng của củ ở chậu và chậu B.
Câu 2: Vì sao lại có sự khác nhau giữa sản phẩm của chậu và chậu B?
Câu 3: Để chứng minh nguyên tố khoáng là yếu tố ảnh hưởng đến quang hợp và năng suất cây trồng. Em sẽ đề xuất thí nghiệm nhƣ thế nào?
Đề xuất tiêu chí đánh giá dưới dạng rubric:
Tiêu chí Mô tả tiêu chí chất lƣợng
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3
Phân tích tình huống
-Không dự đoán đƣợc hiện tƣợng thí nghiệm.
-Không giải thích đƣợc hiện tƣợng thí nghiệm.
-Dự đoán đƣợc hiện tƣợng thí nghiệm.
-Giải thích đƣợc hiện tƣợng thí nghiệm nhƣng còn thiếu sót.
-Dự đoán đƣợc hiện tƣợng thí nghiệm: Tổng khối lƣợng củ ở chậu A lớn hơn so với chậu B.
-Giải thích đƣợc hiện tƣợng là do sự khác biệt trong thời gian chiếu sáng của 2 cây dẫn đến cây chậu có năng suất quang hợp mạnh hơn chậu B nên trọng lƣợng củ của cây chậu A lớn hơn.
Vận dụng vào tình huống mới
-Không nghiên cứu tìm đƣợc cách chứng minh sự ảnh hưởng của dinh dƣỡng khoáng đối với năng suất cây trồng.
- Nghiên cứu tìm đƣợc cách chứng minh sự ảnh hưởng của nguyên tố khoáng lên năng suất cây trồng nhƣng còn chƣa chính xác.
- Nghiên cứu tìm đƣợc cách xác định sự ảnh hưởng của nguyên tố khoáng lên năng suất cây trồng.
Thiết lập không gian vấn đề
-Không thu thập đƣợc thông tin liên quan đến vấn đề
-Thu thập nhƣng chƣa làm rõ đƣợc các thông tin liên quan đến vấn đề.
- Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề:
+ Quang hợp ở thực vật là quá trình sử dụng năng lƣợng ánh sáng mặt trời đã đƣợc diệp lục hấp thụ để tổng hợp Cacbohidrat và giải phóng oxi từ khí cacbonic và nước.
+ Quang hợp quyết định 90- 95% năng suất cây trồng.
+ Cường độ ánh sáng tăng thì cường độ quang hợp tăng đến một mức khi cường độ quang hợp giữ nguyên dù cường độ ánh sáng có tăng.
+ Nguyên tố khoáng cũng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đề xuất giải pháp
- Đề xuất và phân tích đƣợc giải pháp giải quyết vấn đề.
-Đề xuất và phân tích đƣợc giải pháp giải quyết vấn đề nhƣng còn thiếu logic.
- Đề xuất, lựa chọn và giải thích đƣợc giải pháp phù hợp nhất:
+ Tìm đƣợc mối liên hệ giữa ánh sáng, quang hợp và năng suất cây trồng.
+Dự đoán và giải thích hiện thƣợng thí nghiệm.
+Rút ra kết luận về thí nghiệm.
+Đề xuất thí nghiệm chứng mình nguyên tố khoáng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.