Phương pháp dạy học và mô hình cấu trúc của phương pháp dạy học

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 65 - 69)

CHƯƠNG 3. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

3.1. Phương pháp dạy học và mô hình cấu trúc của phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là một khái niệm cơ bản của lí luận dạy học, phương pháp đƣợc coi là “công cụ” quan trọng hàng đầu của nghề dạy học. Cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề trong cách định nghĩa, trong quan niệm, quan điểm về PPDH cũng như việc phân loại, gọi tên các phương pháp dạy học. Nhìn chung, khái niệm, mô hình cấu trúc và việc phân loại phương pháp dạy học chưa có sự thống nhất.

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường16, “PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những môi trường dạy học được chuẩn bị, nhằm đạt mục đích dạy học, phát triển các năng lực của cá nhân”. Khái niệm này cho thấy, cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể. Cách thức và hình thức dạy học không tách nhau một cách độc lập. Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực của HS, việc tạo môi trường học tập thích hợp, tạo điều kiện cho HS chủ động tìm tời, khám phá tri thức, trả nghiệm, thực hành vận dụng kiến thức là hết sức quan trọng.

3.1.2. Mô hình cấu trúc của phương pháp dạy học

Do tính phức hợp của khái niệm PPDH (Gồm 3 khía cạnh chính: Cách thức,

16 Nguyễn Văn Cường, Methoden

hình thức, môi trường học tập) nên việc phân loại và mô tả cấu trúc của khái niệm PPDH rất khác nhau và theo nhiều bình diện khác nhau. Sau đây là một số mô hình cấu trúc PPDH theo nghĩa rộng và phương pháp luận dạy học.

3.1.2.1. Mô hình cấu trúc hai mặt của phương pháp dạy học

(1) Mặt bên ngoài của phương pháp dạy học: là những hình thức bên ngoài của hoạt động dạy học, bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS.

Hình thức bên ngoài có thể dễ dàng quan sát và nhận biết khi hoạt động học tập đƣợc tổ chức. Bao gồm:

- Các hình thức cơ bản của phương pháp dạy học: Dạy học theo hình thức thông báo (thuyết trình, biểu diễn trực quan, làm mẫu); dạy học theo hình thức GV và HS cùng làm việc (các phương pháp đàm thoại); dạy học theo hình thức làm việc tự lực của HS (các phương pháp thực hành, điều tra, khảo sát thực địa…).

- Các hình thức xã hội của phương pháp dạy học: dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, học cặp đôi và làm việc cá thể.

- Nguồn cung cấp thông tin của quá trình dạy học: Thông tin từ lời nói, chữ viết (làm việc với tài liệu, SGK; thuyết trình…); thông tin từ hình ảnh, mô hình, phim….(phương pháp trực quan, phương pháp làm mẫu..); thông tin do chính HS thực hiện (phương pháp thực hành).

(2) Mặt bên trong của phương pháp dạy học: là những hình thức, thành phần không dễ dàng nhận biết, quan sát đƣợc thông qua việc quan sát giờ dạy mà cần có sự quan sát kĩ và phân tích để nhận biết chúng. Mặt bên trong của phương pháp dạy học bao gồm:

- Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học

- Các phương pháp 1ôgic: trong các phương pháp dạy học có thể sử dụng những phương pháp và thao tác 1ôgic nhận thức khác nhau, ví dụ: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tƣợng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá, phân loại.

- Các kiểu phương pháp dạy học như: Giải thích – minh hoạ (GV thông báo tri thức thông qua giải thích và minh hoạ, HS tiếp thu thụ động, PPDH chủ yếu là thuyết trình); Dạy học chương trình hóa - hay còn gọi là Algorit hoá (Quá trình học tập được thiết kế theo các bước đã được lập trình sẵn, HS thực hiện các thao tác học tập theo quy trình đã được thiết kế trước); Dạy học khám phá (HS tham gia tích cực, tự

lực vào quá trình tìm tòi, khám phá tri thức - ví dụ thông qua đàm thoại gợi mở);

Giải quyết vấn đề (quá trình dạy học đƣợc tổ chức theo cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề. Sự tham gia của HS ở những mức độ tự lực khác nhau, ở mức độ cao nhất là tự lực nhận biết và giải quyết vấn đề).

- Các mức độ tƣ duy của HS (tái hiện, tìm tòi, nghiên cứu).

3.1.2.2. Mô hình các thành tố cơ bản của phương pháp dạy học

(1) Kĩ thuật hành động phương pháp: bao gồm các đơn vị hành động phương pháp (hay còn gọi là các thao tác phương pháp) của GV và HS diễn ra trong một thời gian ngắn (thường chỉ kéo dài mấy giây đến mấy phút), theo một cấu trúc, trình tự xác định trong quá trình dạy học nhằm thực hiện một nhiệm vụ và có kết quả cụ thể. Ví dụ các kĩ thuật hành động đặt câu hỏi và trả lời, trình bày một nhiệm vụ, chia nhóm hợp tác, đƣa ra ý kiến phản hồi…

(2) Mô hình hành động phương pháp: mô tả cấu trúc cách thức hoạt động của GV và HS trong một quá trình dạy học cụ thể, từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc với kết quả xác định, có thể kéo dài một số phút đến vài giờ. Có thể coi mô hình hành động là những PPDH cụ thể, phù hợp với những nội dung dạy học xác định, ví dụ thuyết trình, đàm thoại, trực quan.

(3) Tiến trình dạy học: còn được gọi là các bước dạy học, quy trình dạy học.

Tiến trình dạy học mô tả trình tự xác định của các bước dạy học, tiến trình thời gian, tiến trình lô gic hành động. Các bước chung nhất của tiến trình dạy học là mở đầu, thực hiện, kết thúc. Tuy nhiên, tiến trình dạy học có thể được biến đổi thành các bước nhỏ hơn, cụ thể hơn hoặc mở rộng hơn nhƣ: đặt vấn đề/giao nhiệm vụ, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng… trong mỗi bước lại có thể chia ra thành những bước nhỏ hơn.

(4) Hình thức xã hội: còn gọi là hình thức hợp tác của PPDH, hoặc các hình thức tổ chức dạy học (về phương diện hợp tác), bao gồm bốn hình thức cơ bản là:

dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, dạy học cặp đôi và làm việc cá thể.

(5) Hình thức dạy học lớn: còn gọi là các hình thức tổ chức dạy học, có thể có nhiều PPDH cụ thể và nhiều hình thức xã hội khác nhau. Ví dụ: Dạy học theo bài học, dạy học theo chủ đề, dạy học theo dự án; hình thức lên lớp, hình thức khảo sát thực địa, hình thức tự học…

3.1.2.3. Mô hình quan điểm dạy học – phương pháp dạy học– kĩ thuật dạy học

(1) Bình diện vĩ mô - Quan điểm dạy học: là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, điều kiện dạy học và tổ chức cũng nhƣ nhƣ định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. QĐDH là những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH. Tuy nhiên các quan điểm dạy học chƣa đƣa ra những mô hình hành động cũng như những hình thức xã hội cụ thể cho hành động phương pháp, do đó chưa phải các PPDH cụ thể.

Một số quan điểm dạy học nhƣ: dạy học tích hợp, dạy học lấy HS làm trung tâm, dạy học khám phá, dạy học định hướng hành động, dạy học giải quyết vấn đề…

(2) Bình diện trung gian - Phương pháp dạy học: Trong mô hình này, khái niệm PPDH ở đây được hiểu là các PPDH cụ thể, các mô hình hành động phương pháp. PPDH là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu DH xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện DH cụ thể. PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS. Trong mô hình này thường không có sự phân biệt giữa PPDH và hình thức dạy học. Các hình thức tổ chức hay hình thức xã hội (nhƣ dạy học theo nhóm) cũng đƣợc gọi là các PPDH. Các phương pháp dạy học cụ thể bao gồm các phương pháp dạy học cụ thể chung cho nhiều môn (như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp hội thảo) và phương pháp dạy học đặc thù của môn học (nhƣ Bàn tay nặn bột, thực hành thí nghiệm).

(3) Bình diện vi mô - Kĩ thuật dạy học (KTDH): là những động tác, cách thức hành động của của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ (hay còn gọi là kĩ thuật hành động phương pháp) nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các KTDH chƣa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép...; trong phương pháp vấn đáp có kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật sử dụng câu hỏi, kĩ thuật phản hồi…Mặt khác, PPDH có mối quan hệ đặc biệt với phương tiện dạy học. Bản thân phương tiện dạy học chưa phải là PPDH, nhưng hành động sử dụng phương tiện là hành động PPDH.

Vì vậy trong mô hình này, kĩ thuật sử dụng phương tiện dạy học được đưa vào nhằm thể hiện mối quan hệ đặc biệt của PPDH và phương tiện dạy học.

Các KTDH vô cùng phong phú về số lƣợng, có thể tới hàng ngàn. Bên cạnh những KTDH thông thường như kĩ thuật trình diễn phương tiện trực quan, kĩ thuật xây dựng phiếu học tập… ngày nay người ta đặc biệt chú trọng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, ví dụ: kĩ thuật động não, kĩ thuật tia chớp, kĩ thuật tương tự, kĩ thuật lược đồ tư duy. …

Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể. Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đƣa ra mô hình hành động. KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động. Một QĐDH có những PPDH phù hợp, một PPDH cụ thể có các KTDH đặc thù. Tuy nhiên có những phương pháp phù hợp với nhiều QĐDH, cũng như những KTĐH dùng trong nhiều phương pháp khác nhau.

Việc phân biệt giữa các QĐDH, PPDH, KTDH mang tính tương đối.

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp dạy học sinh học (Trang 65 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(227 trang)