của các chủ thể văn hóa này để từ đó xác định những ưu điểm và nhược điểm, những thuận lợi, khó khăn của văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ và đề ra những giải pháp cho việc hội nhập c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HOÁ HỌC
LÂM THỊ MỘNG HÒA
VĂN HÓA KINH DOANH
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC
Mã số: 60.31.70
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HOÁ HỌC
LÂM THỊ MỘNG HÒA
VĂN HÓA KINH DOANH
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, gia đình và thân hữu Tôi xin trân trọng gửi lời tri ân sâu sắc đến:
GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Quý thầy cô đã giảng dạy và hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình học cao học và hoàn thành luận văn
Quý thầy cô Khoa Văn hóa học, Phòng Sau đại học - Trường Đại học KHXH &NV đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn tất luận văn Các anh chị học viên ngành văn hóa học đã giúp đỡ, chia sẻ và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp trong công ty Cosi đã chia sẻ thời gian, hỗ trợ công việc để tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng biết ơn sự hỗ trợ và động viên của gia đình!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 9 năm 2011
Lâm Thị Mộng Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
7 Bố cục của luận văn 11
Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Kinh doanh, doanh nhân và doanh nghiệp 13
1.1.2 Kinh tế và kinh doanh 13
1.1.2 Doanh nhân 15
1.1.3 Doanh nghiệp 15
1.2 Văn hóa kinh doanh 16
1.2.1 Khái niệm, định nghĩa 16
1.2.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa kinh doanh 18
1.2.3 Cấu trúc của văn hoá kinh doanh 20
1.3 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam 21
1.3.1 Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở Việt Nam 21
1.3.2 Những đặc điểm của văn hóa kinh doanh ở Việt Nam 26
1.4 Vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ 30
1.4.1 Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ 30
1.4.2 Miền Tây Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa 31
1.4.3 Miền Tây Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa 32
1.4.4.Miền Tây Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa 35
1.5 Tiểu kết 39
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CẤU TRÚC VĂN HÓA KINH DOANH Ở MIỀN TÂY NAM BỘ 41
Trang 52.1 Văn hóa nhận thức trong kinh doanh 41
2.1.1 Văn hóa nhận thức khái quát 41
2.1.2 Văn hóa nhận thức chuyên sâu 44
2.1.3 Văn hóa nhận thức cảm tính 50
2.2 Văn hóa tổ chức trong kinh doanh 52
2.2.1 Tính cộng đồng 52
2.2.2 Tính cá thể 56
2.3 Văn hóa ứng xử trong kinh doanh 58
2.3.1 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội 58
2.3.2 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 65
2.4 Tiểu kết 69
Chương 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH CÁCH MIỀN TÂY NAM BỘ THỂ HIỆN QUA KINH DOANH 70
3.1 Các tính cách chung 70
3.2 Các tính cách đặc thù 73
3.2.1 Tính sông nước, bao dung và trọng nghĩa 73
3.2.2 Tính năng động 81
3.2.3 Tính thiết thực 86
3.3 Tương lai của văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ 94
3.3.1 Khuynh hướng phát triển 94
3.3.2 Điều chỉnh các giá trị 97
3.4 Tiểu kết 106
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Miền Tây Nam Bộ là vùng đất thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về MTNB ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong thời gian gần đây Đặc biệt, đề án nghiên cứu khoa học trọng
điểm của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về “Những Vấn đề
năm 2006) tập trung vào lĩnh vực văn hóa với “Chương trình bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập ở khu vực Nam Bộ” cho thấy văn hóa miền Tây Nam Bộ là một trong những hướng quan trọng đang được tập trung nghiên cứu
Nghiên cứu Văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ như là một tiểu
văn hóa trong một chỉnh thể văn hóa miền Tây Nam Bộ là cần thiết để góp
phần vào các nghiên cứu về khu vực Nam Bộ Việc phác họa chân dung văn
hóa con người kinh tế miền Tây Nam Bộ thông qua nghiên cứu bản sắc văn
hóa, lối sống, tính cách, quan niệm và triết lý kinh doanh, tinh thần doanh nghiệp, v.v của các chủ thể văn hóa này để từ đó xác định những ưu điểm và nhược điểm, những thuận lợi, khó khăn của văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ và đề ra những giải pháp cho việc hội nhập của vùng đất này vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước mang ý nghĩa rất thiết thực bởi hoạt động kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Là một người làm công tác kinh doanh lâu năm, có cơ hội tiếp xúc với nhiều đối tác trong và ngoài nước và nhận thức được tầm quan trọng của việc hiểu rõ những khác biệt trong văn hóa kinh doanh của các chủ thể văn hóa
1 Đề án do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm trưởng ban soạn thảo kiêm chủ nhiệm
Trang 7khác nhau, đặc biệt là trong giao tiếp kinh doanh liên văn hóa nên tôi luôn
dành thời gian nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về vấn đề này Đây cũng là lý do
để tôi chọn nghiên cứu Văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học của mình
2 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ như là một hệ thống giá trị quy định và chi phối các hoạt động kinh doanh của người Việt miền Tây Nam Bộ
Luận văn sẽ nhằm đạt tới các mục đích: (a) Lý luận, phân tích mối quan
hệ và tác động của các nhân tố cấu thành và làm khu biệt văn hóa kinh doanh của một vùng văn hóa và trên cơ sở đó xác định các thành tố cấu trúc văn hóa kinh doanh của vùng văn hóa đó; (b) xây dựng một bức tranh tổng quan về các thành tố cấu trúc văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ; (c) phân tích tìm hiểu các đặc trưng tính cách và các thành tố cấu trúc văn hóa kinh doanh
ở miền Tây Nam Bộ cùng các hệ quả, mặt mạnh, điểm yếu của nó (trong mối quan hệ so sánh với văn hóa kinh doanh của một số vùng văn hóa ở Việt Nam và thế giới) và xây dựng mô văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ phù hợp trong quá trình hội nhập văn hóa và kinh tế thế giới
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thứ nhất, xét về lịch sử nghiên cứu văn hóa kinh doanh, có thể thấy chưa có nhiều công trình thật sự nhìn vấn đề này dưới góc độ văn hóa học,
chưa theo cách tiếp cận hệ thống và mặc dù có chú trọng đến tính đa ngành
nhưng tính liên ngành vẫn chưa cao Nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài chỉ tập trung vào mô tả các hiện tượng của văn hóa kinh doanh nên chưa xây dựng được một bức tranh tương đối tổng quan và toàn diện về các thành tố
của văn hóa kinh doanh Trong “Cultures and Organizations, Software of the
Trang 8mind – Intercultural Cooperation and its importance for survival” (Văn hoá
và các tổ chức: Phần mềm của tư duy - Hợp tác đa văn hoá và tầm quan trọng của nó để tồn tại) xuất bản 1991/1997, Hofstede đã phân định nhiều
vùng lãnh thổ khác nhau với những kiểu văn hóa chức, văn hóa kinh doanh
khác nhau Trong các tác phẩm: “Managing Cultural Differences – Strategies
for Competitive Advantage” (Quản trị những khác biệt văn hoá – Những chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh) xuất bản năm 1995; “Managing across Cultures” (Quản trị xuyên văn hoá) xuất bản năm 1997, các tác giả
Hoecklin, Schneider và Barsoux đã lý giải những sự khác biệt trong văn hóa kinh doanh, trong phương thức lãnh đạo quản trị kinh doanh và đề ra những chiến lược quản trị văn hóa nhằm tối đa hóa các lợi thế cạnh tranh Tương tự,
trong “Riding the Waves of Culture – Understanding cultural diversity in
global business” (Lướt trên các làn sóng văn hóa - Sự hiểu biết về tính đa dạng văn hoá trong kinh doanh toàn cầu) xuất bản năm 1998, Trompenaars
và Hampden-Turner cũng đã phân tích những khác biệt trong mô hình văn hóa kinh doanh của những vùng lãnh thổ khác nhau và đi cùng với nó là những lợi thế cũng như khuyết điểm cần điều chỉnh Tương tự, trong các
sách: “Organizational Culture” (Văn hoá tổ chức) xuất bản 1998;
“Organizational culture and Leadership” (Văn hoá tổ chức và Lãnh đạo) các
tác giả Brown, Schein đã đề cập đến sự khác biệt trong các giả định cơ sở của các chủ thể thuộc những nền văn hóa khác nhau dẫn đến những khác biệt trong cách thức lãnh đạo, trong văn hóa kinh doanh của các chủ thể của các nền văn hóa đó nhưng cũng chưa thật sự tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn hệ thống - loại hình
Cũng đã có nhiều tác phẩm viết về văn hóa kinh doanh của một quốc gia
riêng biệt, như: “Japan Business Etiquette” (Nghi thức Kinh doanh của
người Nhật) của Rowland xuất bản năm 1993; “Bí quyết kinh doanh với
Trang 9người Nhật” (How to do Business with the Japanese) của Mente B; “Khám phá bí mật kinh doanh Trung Quốc của Chen Minh - Jer xuất bản 2004;
“Lịch sử thương nhân” (Thương cổ sử) của Điền Triệu Nguyên, Điền Lượng;
“Thương nhân Trung Hoa: họ là ai?” (Trung Quốc cổ đại đích thương nhân) của Vương Triệu Tường, Lưu Văn Trí; “China Business Culture – Strategies
for success (Văn hoá kinh doanh của người Trung Hoa – Những chiến lược
để thành công) của các tác giả Wang và Zhang, xuất bản năm 2005; v.v
Một số nhà nghiên cứu nước ngoài cũng đã đề cập đến những khác biệt trong tôn giáo, ngôn ngữ, quan niệm về thời gian v.v như là những thành tố quan trọng của văn hóa kinh doanh quyết định thành công và thất bại trong kinh
doanh như: Hofstede, G & Bond, M.H., 1988: The Confucious connection:
From cultural roots to economic growth (Mối quan hệ Khổng giáo: Từ những gốc rễ văn hoá đến sự phát triển kinh tế), “Kinh điển Văn hoá 5000 năm Trung Hoa” (tập IV) của Dương Lực; “The silent language of overseas business” (Ngôn ngữ không lời trong kinh doanh quốc tế) của Hall đăng trên
Tạp chí kinh doanh của Đại học Harvard, Mỹ, 1960 v.v
Tại Việt Nam, văn hóa kinh doanh là vấn đề còn tương đối mới tuy gần đây đã có nhiều bài báo, hội thảo, tham luận, sách tham khảo, nghiên cứu đề
cập đến (như sách “Văn hóa và kinh doanh” do Phạm Xuân Nam chủ biên xuất bản năm 1998; “Văn hóa và Kinh doanh” do Phạm Văn Thuyên, Vũ Hòa, Trần Trúc Thanh đồng chủ biên, xuất bản 2001; “Văn hoá Kinh doanh
và Triết lý Kinh doanh” của Đỗ Minh Cương, xuất bản năm 2001; “Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam” - luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Hoàng Ánh,
Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội) Đặc biệt, bài nói chuyện của giáo
sư Trần Ngọc Thêm về “Văn hoá doanh nghiệp” với Hiệp hội Doanh nghiệp
Đầu tư Nước ngoài tại Hà Nội ngày 15-7-2005 và luận văn thạc sỹ chuyên
Trang 10ngành Văn hóa học “Bước đầu tìm hiểu về Văn hóa doanh nghiệp và Văn hóa
Doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Lân đã bước đầu tiếp
cận và phân tích các vùng văn hóa thương nghiệp, các loại hình văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp trên thế giới, các thành tố của văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệpViệt Nam
Thứ hai, xét về các nghiên cứu riêng về miền Tây Nam Bộ thì chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và có tính hệ thống về văn hóa kinh doanh
ở miền Tây Nam Bộ Các nghiên cứu về vùng Nam Bộ trên các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, quân sự, du lịch, v.v thì nhiều và phần lớn thường tiếp cận ở góc độ dân tộc học Các tác giả người nước ngoài, trong nước nhìn chung cũng đã mô tả và khắc họa được lịch sử, kinh tế, văn hoá của miền Tây Nam Bộ Léopold Pall (1864) đã mô tả không khí giao thương đông đúc,
nhộn nhịp của vùng đất này; Chu Đạt Quan trong Chân Lạp Phong thổ ký
cũng đã đề cập đến sự trù phú, giàu có của vùng đô quốc Chân Lạp, v.v Sơn
Nam trong Tiếp cận với đồng bằng sông Cửu Long (2000); Đồng Bằng Sông
Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa và Văn minh Miệt vườn (2004); Lịch sử Khẩn hoang miền Nam (2005) đã đề cập về sự hình thành của kinh tế thị trường và
kinh tế hàng hóa ở khu vực miền Tây Nam Bộ; cho rằng người Nam Bộ lanh
lẹ, biết hội nhập nên dễ thích ứng khi gặp kinh tế thị trường và làm giàu
nhanh chóng Trong “Nam Bộ xưa và nay”, Lê Thảo Nguyên đã đề cập đến
một xã hội tiêu dùng ở miền Tây Nam Bộ và cho rằng kinh tế thị trường bắt
đầu tác động sâu rộng đến các mối quan hệ gia đình và xã hội Trong Đồng
bằng Sông Cửu Long- Nghiên cứu và phát triển, Nguyễn Công Bình & nnk
đã cho rằng thương nhân và thương trường đã có vai trò thúc đầy việc sản xuất hàng hóa (nông, lâm, ngư nghiệp) ở khu vực này từ rất sớm Trong
“Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ”, Nguyễn Cẩm Thúy cho rằng
hoạt động kinh tế và thương nghiệp của người Hoa đã đóng góp vai trò hết
Trang 11sức quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế bản địa nói chung và kinh tế các tỉnh Nam Bộ nói riêng, …
Như vậy, tất cà các công trình trong và ngoài nước nói trên và các công
trình nghiên cứu chung về văn hóa Việt Nam như Việt Nam Văn hóa Sử
cương của Đào Duy Anh, Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa
ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam của Trần
Ngọc Thêm, v.v và đặc biệt là các đề cương bài giảng, tài liệu của giáo sư Trần Ngọc Thêm về văn hóa Nam Bộ sẽ là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi có thể triển khai nghiên cứu văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ theo cách tiếp cận hệ thống - loại hình và đi sâu vào nghiên cứu nó từ các bình diện: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Văn hóa người Việt là điển hình nhất cho văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ bởi người Việt là tộc người chiếm đa số tuyệt đối với 92% dân
số MTNB Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn sẽ là văn hóa kinh doanh của chủ thể văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ trong mối quan hệ
so sánh đối chiếu với văn hóa kinh doanh của người Hoa ở khu vực này và văn hóa kinh doanh của các chủ thể văn hóa người Việt ở các vùng khác Như vậy, đề tài chúng tôi không phải chỉ giới hạn trong không gian các tỉnh miền Tây Nam Bộ, mà khi cần thiết, có thể mở rộng nghiên cứu các doanh nhân, doanh nghiệp xuất xứ từ miền Tây Nam Bộ đang hoạt động kinh doanh
ở các địa bàn khác Về thời gian nghiên cứu, chúng tôi tập trung chủ yếu vào quá trình những lưu dân người Việt đến định cư và phát triển ở vùng đất
Trang 12Nam Bộ cho đến nay (giai đoạn cận hiện đại và giai đoạn hiện đại, đặc biệt từ đổi mới đến nay)
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ dưới góc độ văn hoá học
Về mặt khoa học: luận văn sẽ phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh; làm phong phú thêm hệ thống lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về văn hóa vùng và mở ra hướng tiếp cận địa văn hóa trong việc nghiên cứu, xây dựng một lý thuyết chung về văn hóa kinh doanh của một vùng văn hóa, một khu vực văn hóa dựa trên phương pháp hệ thống - loại hình và tiếp cận liên ngành
Về mặt thực tiễn ứng dụng: trước hết, luận văn sẽ là nguồn tài liệu cho các doanh nhân, doanh nghiệp ở miền Tây Nam Bộ “nhìn lại”, phân tích và phát huy những ưu điểm đồng thời hạn chế các khuyết điểm trong văn hóa kinh doanh của mình Ngoài ra, luận văn sẽ là một nguồn tài liệu hữu ích cho những doanh nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước muốn giao dịch làm ăn
và phát triển kinh doanh với doanh nghiệp ở miền Tây Nam Bộ sẽ tránh được
những “va chạm văn hóa” khi giao tiếp kinh doanh liên văn hoá trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay
Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên chuyên ngành kinh tế, quản trị, hành vi tổ chức, văn hóa kinh doanh … Luận văn sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu, tư vấn, các ban ngành chức năng hoạch định chính sách, pháp luật, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế ở miền Tây Nam Bộ và giúp xây dựng một mô hình văn hóa kinh doanh phù hợp cho vùng này
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Luận văn hướng vào nghiên cứu đối tượng văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ với cách tiếp cận liên ngành, trong đó cách tiếp cận văn hóa học đóng vai trò chủ đạo Các phương pháp nghiên cứu sau sẽ được sử dụng trong luận văn:
Phương pháp tổng hợp tài liệu được dùng để thu thập những thông tin,
dữ liệu cần thiết để nghiên cứu văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ
Phương pháp sử dụng tư liệu dân gian được dùng để xác định những giá trị văn hóa gốc có sức sống bền vững và định hình những đặc điểm của văn hóa miền Tây Nam Bộ và văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ
Phương pháp so sánh giúp so sánh những đặc trưng, tính chất của văn
hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ và văn hóa kinh doanh ở các vùng văn hóa khác của Việt Nam (và thế giới)
Phương pháp định lượng giúp xử lý những số lượng thống kê thu thập được để tạo cơ sở cho những luận điểm phân tích
Phương pháp Hệ thống - Loại hình dùng để phân tích các thành tố cấu
trúc của văn hóa kinh doanh và mô hình hóa văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ
Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn này ngoài những tài liệu nêu trong danh mục tài liệu tham khảo là những sách chuyên luận, những bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các Website có nội dung liên quan Bên cạnh đó, luận văn sẽ sử dụng các thông tin từ các cuộc điều tra, các cuộc phỏng vấn và các tài liệu văn hóa dân gian sưu tầm được trong thời gian thực hiện luận văn…
Trang 147 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 (Những tiền đề lý luận và thực tiễn) sẽ tập trung phân tích
các khái niệm, định nghĩa như: Kinh doanh, doanh nhân, doanh nghiệp…để làm cơ sở phân tích các đặc trưng, chức năng, các thành tố cấu trúc của văn hóa kinh doanh Từ đó phân tích và chỉ ra được sự khác biệt trong cấu trúc văn hóa kinh doanh của các loại hình văn hoá khác nhau
Chương này cũng sẽ phân tích những tác động của điều kiện địa lý - tự nhiên, kinh tế và lịch sử - xã hội đã tác động đến diễn trình hoạt động kinh doanh ở Việt Nam từ truyền thống cho đến hiện đại Trên cơ sở này, Chương
1 cũng sẽ phân tích các thành tố cấu trúc của văn hóa kinh doanh Việt Nam truyền thống và những điều chỉnh, thay đổi để đáp ứng yêu cầu hiện đại Chương này cũng sẽ đặt trọng tâm vào nghiên cứu vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ từ không gian văn hóa, nhìn từ thời gian văn hóa, nhìn từ chủ thể văn hóa để tìm ra những đặc trưng, những khác biệt với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam và từ đó xác định những đặc trưng tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ Đây là thao tác quan trọng đặt nền tảng cho việc đi sâu vào nghiên cứu văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ trong các chương tiếp theo
Chương 2 (Những đặc điểm cấu trúc văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ) phân tích các đặc điểm thành tố cấu trúc của văn hóa kinh
doanh ở miền Tây Nam Bộ trên hệ tọa độ ba chiều: không gian – thời gian –
chủ thể và trong mối quan hệ so sánh với các thành tố cấu trúc văn hóa kinh doanh thuộc các vùng văn hóa khác Trọng tâm của chương này là sẽ phân
tích và lý giải những đặc trưng và các yếu tố tác động đến văn hóa nhận
thức, văn hoá tổ chức và văn hóa ứng xử trong kinh doanh của các chủ thể
Trang 15kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ Việc nhìn nhận và đánh giá đúng mối quan
hệ biện chứng giữa ba thành tố này sẽ giúp đặt nền tảng vững chắc cho nghiên cứu những đặc điểm của tính cách miền Tây Nam Bộ thể hiện qua kinh doanh ở chương tiếp theo
Chương 3 (Những đặc điểm của tính cách miền Tây Nam Bộ thể
hiện qua kinh doanh) sẽ phân tích và lý giải những yếu tố quy định, tác
động đến tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện qua kinh doanh
Từ đó, chương này sẽ xác định hệ thống các tính cách đặc trưng cần và đủ để xác định tính cách (đủ điển hình để chi phối mọi biểu hiện tính cách văn hoá khác) của người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện trong kinh doanh
Hệ thống những tính cách này tác động như thế nào đến hoạt động phát triển kinh tế, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ Vị trí, vai trò của hệ thống những tính cách này trong văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ như thế nào?
Tương lai văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ sẽ ra sao trong bối cảnh toàn cầu hóa mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội? Câu trả lời xác đáng sẽ
có được sau khi nghiên cứu và phân tích nghiêm túc các vấn đề nêu ở trên
Trang 16Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Kinh doanh, doanh nhân và doanh nghiệp
1.1.2 Kinh tế và kinh doanh
Hoạt động kinh tế bao gồm hoạt động kinh tế tự cấp tự túc và hoạt động kinh tế vì lợi nhuận Hoạt động kinh tế tự cấp tự túc nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, còn hoạt động kinh tế vì lợi luận hướng đến phục vụ nhu cầu của người khác để thông qua đó thỏa mãn nhu cầu của bản thân Kinh doanh
là một hoạt động kinh tế để kiếm lời “Kinh doanh là một nghề chính đáng
xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội
tạo ra.” [Đỗ Minh Cương 2001: 69]
“Tự điển tiếng Việt” định nghĩa “kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời” [Hoàng Phê 2002: 6] Trong “Tự điển tiếng Việt Tường giải và Liên tưởng” (1999), Nguyễn Văn Đạm định nghĩa kinh doanh là “tổ chức buôn bán, sản xuất để kiếm lời”
Luật Doanh nghiệp 2005 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Định nghĩa này nêu đầy đủ những đặc điểm của kinh doanh như một hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận, không chỉ giới hạn ở việc mua bán sản phẩm mà còn bao gồm những hoạt động khác như sản xuất, thương mại, dịch vụ… Như vậy, tất cả các hoạt động đáp ứng những nhu cầu thị trường để thu lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh được xem là hoạt động kinh doanh
Trang 17Tuy nhiên, kinh doanh còn là một hoạt động mang tính xã hội Trong
tiếng Anh, từ “trade” và “business” được dùng để chỉ “nghề nghiệp” và để chỉ việc “làm doanh nghiệp/kinh doanh” “Trade” có gốc từ tiếng Anh cổ là
“traden”, nghĩa là “lối đi”, “phong cách ứng xử” Đến thế kỉ 16, “trade” mới được hiểu là “nghề nghiệp”, “quan hệ doanh thương” và sau đó là “làm kinh
doanh” Từ “business” xuất hiện vào cuối thế kỉ 14, có gốc từ chữ
“bisignisse” với nghĩa khởi nguyên là “lo âu vì muốn công việc được hoàn
thành tốt”
Tương tự, tiếng Pháp có hai từ phổ biến là “Affair” và “Commerce” để
chỉ việc “làm doanh nghiệp” hay “kinh doanh” Từ “Commerce” có nghĩa
ban đầu là “thiết lập quan hệ giữa người và người” Đến cuối thế kỉ XVI, nó
mới có thêm ý nghĩa là “giao dịch thương mại” Từ “beruf” trong tiếng Đức
có nghĩa là “nghề nghiệp” bắt nguồn từ “gewerbe” (tay nghề) và “geschaft” (làm kinh doanh) Thế nhưng “beruf” lại thoát thai từ hai từ Đức cổ là
“berouf” (danh tiếng) và “berufung” (sứ mệnh) [dẫn theo Tôn Thất Nguyễn
Thiêm 2004: 388 -389]
Như vậy, hoạt động kinh doanh không chỉ là mua bán kiếm lời mà còn
nhằm thực hiện những sứ mệnh, trách nhiệm xã hội nào đó Và quan niệm về
kinh doanh của Phương Đông mang một hàm ý tiến bộ Cách giải thích chữ
“kinh” trong “kinh doanh” liên quan đến triết lý Á Đông về “kinh bang tế thế” – nghĩa là dựng nước và chăm lo cho cuộc đời – phổ biến ở hầu hết các
Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 10-5-2001, tr.37
3 Đối với chữ “kinh doanh”, người Việt trong Nam dùng âm “dinh”, trong khi người Bắc dùng âm “doanh” [dẫn theo Trần Hữu Quang, 2007, 14]
Trang 18chức khai khẩn, mở mang đất đai và lập nghiệp do vua quan tiến hành “Từ
‘kinh doanh’ ngày xưa có nghĩa là ‘tung hoành ngang dọc’ rồi về sau mới có nghĩa là ‘trù hoạch suy tính công việc để làm ăn buôn bán’, là ‘chuyện tính
toán lời lỗ ăn thua’ [dẫn theo Trần Hữu Quang 2007: 14]
1.1.2 Doanh nhân
Cách hiểu doanh nhân thường là những người làm ăn, buôn bán chưa khái quát được hết những đặc điểm của doanh nhân Doanh nhân là khái niệm chung chỉ một mẫu người trong xã hội chứ không phải là một cá nhân
cụ thể Theo Trần Ngọc Thêm, “doanh nhân là con người thực hiện hoạt động kinh doanh một cách chuyên nghiệp”4 Sự chuyên nghiệp chính là yếu
tố phân biệt một doanh nhân và một người làm ăn buôn bán bình thường
Sự chuyên nghiệp thể hiện ở việc doanh nhân phải là người có quyết tâm theo đuổi lợi nhuận bằng con đường kinh doanh (có chí làm giàu) Chỉ với quyết tâm thôi thì chưa đủ, doanh nhân phải có đầu óc kinh doanh, có kiến thức cũng như khả phán đoán và xử lý những vấn đề có thể xảy đến trong quá trình kinh doanh Ngoài ra, doanh nhân phải là người biết nắm bắt
cơ hội cũng như chấp nhận rủi ro để làm giàu Đây chính là những tố chất tạo nên một doanh nhân
4 Nguồn: Giáo trình môn “Văn hóa quản trị kinh doanh” của GS Trần Ngọc Thêm
Trang 19(1) Doanh nghiệp nhà nước; (2) Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị – xã hội; (3) Hợp tác xã; (4) Doanh nghiệp tư nhân; (5) Công ty; (6) Doanh nghiệp liên doanh và (7) Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Sự khác biệt giữa một doanh nghiệp và một tổ chức kinh tế nghiệp dư nằm ở tính chuyên nghiệp của nó bởi “Doanh nghiệp là tổ chức do doanh
nhân lập ra để thực hiện hoạt động kinh doanh một cách chuyên nghiệp và hiệu quả” [Trần Ngọc Thêm 2007]
Kinh doanh, doanh nghiệp và doanh nhân là những khái niệm liên quan với nhau Kinh doanh là một hoạt động, doanh nhân là chủ thể của hoạt động
kinh doanh và doanh nghiệp chính là một trong những phương tiện hoạt
động [Trần Ngọc Thêm 2007]
1.2 Văn hóa kinh doanh
1.2.1 Khái niệm, định nghĩa
Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa kinh doanh Tuy
nhiên, có thể phân chúng thành hai loại: Định nghĩa miêu tả và định nghĩa
nêu đặc trưng
Định nghĩa kiểu miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa kinh doanh Ví
dụ: “Văn hóa kinh doanh là phương pháp kinh doanh bằng cách nắm bắt
thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thị trường, giữ được chữ tín với người tiêu dùng trong
và ngoài nước” [Phạm Xuân Nam (cb) 1996: 46]
Trang 20Các định nghĩa nêu đặc trưng thường: (1) Xem văn hóa kinh doanh là
những kết quả (sản phẩm) Đó là những giá trị, truyền thống, chuẩn mực, nếp sống, biểu trưng, mà chủ thể kinh doanh đã sáng tạo, kế thừa và tích luỹ; hoặc (2) Xem văn hóa kinh doanh như một quá trình Đó là những hoạt động
sáng tạo, những phương thức kinh doanh để tồn tại và phát triển, cách thức
ứng xử với môi trường kinh doanh…; hay (3) Xem văn hóa kinh doanh là những quan hệ, cấu trúc
Ví dụ: “Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong các hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ” [Đỗ Minh Cương 2001: 69-70]
Mỗi kiểu định nghĩa đó đều có hạt nhân hợp lý riêng Tuy nhiên, một định nghĩa đầy đủ về văn hóa kinh doanh phải nêu bật được các chức năng cơ
bản của nó, đó là: tính hệ thống; tính giá trị; tính nhân sinh; tính lịch sử
Dựa vào định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm, chúng tôi quan
niệm: “Văn hóa kinh doanh là một hệ thống của các giá trị do chủ thể kinh
doanh sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình”
Định nghĩa trên cho thấy một hệ toạ độ ba chiều mà trong đó văn hóa
kinh doanh tồn tại: (1) Chủ thể văn hóa kinh doanh; (2) Môi trường tự nhiên
và xã hội là không gian văn hoá; (3) Quá trình hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh là thời gian văn hoá
Sự khác biệt trong cấu trúc văn hóa giữa các loại hình văn hoá khác nhau ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh đặc thù ở mỗi vùng văn hoá Loại hình văn hoá trọng động (gốc du mục) tạo điều kiện cho sự phát triển thương nghiệp dẫn đến nhu cầu xây dựng đường sá, nhà kho, bãi chứa hàng, khu tập
Trang 21trung mua bán hàng hóa (hình thành các đô thị) Đây là qui luật chung của
phát triển thương nghiệp, tổ chức đô thị và hình thành xã hội công nghiệp [Trần Ngọc Thêm 2004: 38-39]
Ngược lại, thương nghiệp không phát triển ở các vùng văn hoá thuộc loại hình văn hoá nông nghiệp trọng tĩnh vì tâm lý ưa sự ổn định, trọng bảo tồn hơn là phát triển Trong khi đó, vùng văn hoá (trung gian) chuyển tiếp do tích hợp được những yếu tố trội của hai loại hình văn hoá trọng động và trọng tĩnh nên phát triển kinh doanh và văn hóa kinh doanh
1.2.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa kinh doanh
Là một tiểu văn hóa, văn hóa kinh doanh cũng có bốn đặc trưng của văn hoá là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Tính hệ thống của văn hóa kinh doanh thể hiện ở chỗ nó có khả năng chi phối mọi mặt của
hoạt động kinh doanh, giúp phân biệt văn hoá kinh doanh với kinh doanh
dựa trên một tập hợp giá trị Tính giá trị của văn hóa kinh doanh phản ánh
qua việc văn hoá kinh doanh đảm bảo tính hiệu quả và phát triển bền vững
của kinh doanh Tính giá trị giúp phân biệt kinh doanh có văn hoá với kinh
doanh phi văn hoá Văn hóa kinh doanh là kết quả của sự sáng tạo, duy trì
và phát triển các giá trị kinh doanh của chủ thể trên cơ sở tương tác với những đối tương hữu quan khác.Vì vậy, văn hóa kinh doanh có tính nhân sinh Ngoài ra, văn hoá kinh doanh mang tính lịch sử vì nó được định hình
và phát triển trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh Vì vậy, văn hóa kinh doanh đúng nghĩa không phải là một hiện tượng “sớm nở, tối tàn” mà phải có tính ổn định trong một khoảng thời gian nhất định
Với những đặc trưng trên, văn hóa kinh doanh có bốn chức năng cơ bản tương ứng như sau:
Trang 22Chức năng tổ chức: Đây là chức năng bắt nguồn từ tính hệ thống của
văn hóa kinh doanh Tính hệ thống của văn hóa kinh doanh phân biệt một tổ chức kinh doanh có văn hoá (một hệ thống kết cấu hữu cơ các giá trị) với
một tổ chức chỉ có tập hợp các giá trị rời rạc Chức năng tổ chức giúp đẩy
mạnh sự đồng thuận, nhất quán trong quan điểm và hành động của các thành
viên trong tổ chức kinh doanh
Chức năng điều chỉnh: Chức năng điều chỉnh của văn hóa kinh doanh
xuất phát từ tính giá trị Mỗi chủ thể đều xây dựng văn hóa kinh doanh dựa trên những tiêu chuẩn riêng, những quan niệm khác nhau về cách kinh doanh, về lợi nhuận, rủi ro, thành công, thất bại… Những giá trị này sẽ điều chỉnh hoạt động kinh doanh theo hướng được cho là thích hợp nhất, đồng thời loại bỏ lại những hành vi được xem là gây hại cho hoạt động kinh doanh Nhờ chức năng điều chỉnh của văn hóa kinh doanh mà nhà kinh doanh kịp thời chuyển biến cho phù hợp với những thay đổi của thị trường, những biến động về cung và cầu cũng như thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước
Chức năng giao tiếp: Tính nhân sinh đã tạo ra chức năng giao tiếp cho
văn hóa kinh doanh Kinh doanh là một hoạt động hướng đến phục vụ con người, vì vậy giao tiếp là một chức năng quan trọng của kinh doanh “Trong bản chất của nó, kinh doanh là giao tiếp, phải trao đổi, là ‘động’ và ‘mở’, kinh doanh là chuyển hàng từ tay người này đến tay người khác, từ một vùng này đến một vùng khác [Trần Hữu Quang - Nguyễn Công Thắng (cb) 2007: 225] Nhờ chức năng giao tiếp, văn hóa kinh doanh giúp các chủ thể kinh doanh hiểu rõ hơn về những đối tượng mà họ đang nhắm tới Chức năng giao tiếp còn giúp các chủ thể kinh doanh mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ra những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội
Trang 23Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục phát sinh từ tính lịch sử của
văn hóa kinh doanh Nhờ chức năng giáo dục, những giá trị ổn định của văn hóa kinh doanh được sẽ truyền lại cho những thế hệ kế thừa Những giá trị này sẽ được các thế hệ sau đó tiếp tục gìn giữ, sử dụng để duy trì và phát huy tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh
Vì vậy, theo Trần Ngọc Thêm [2005/2007], văn hoá kinh doanh có các chức năng như sau:
Đặc trưng
văn hóa
Chức năng của văn hóa
Chức năng của văn hóa kinh doanh
Tính hệ thống Tổ chức xã hội Tổ chức
kinh doanh Tính giá trị Điều chỉnh xã hội Điều chỉnh
kinh doanh Tính nhân sinh Giao tiếp Làm cơ sở giao tiếp trong
và ngoài tổ chức kinh doanh Tính lịch sử Giáo dục Giáo dục - đào tạo
trong tổ chức kinh doanh
Là cơ sở cho sự tồn tại ổn định và
bền vững của chủ thể (dân tộc)
Làm cơ sở cho sự thành công bền vững của chủ thể kinh doanh
Bảng 1: Đặc trưng và chức năng của văn hóa kinh doanh
1.2.3 Cấu trúc của văn hoá kinh doanh
Là một tiểu văn hóa, văn hoá kinh doanh có cấu trúc bao gồm ba thành tố: Văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức và văn hoá ứng xử
Văn hoá nhận thức xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ,
về môi trường kinh doanh và con người Xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính
Văn hoá tổ chức chính là văn hoá quản lý trên mọi mặt của hoạt động
kinh doanh để tồn tại và phát triển
Trang 24Văn hoá ứng xử bao gồm văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (tận
dụng và đối phó với môi trường và tài nguyên thiên nhiên) và văn hóa ứng
xử với môi trường xã hội
Trong mỗi thành tố ấy đã có tính đến quan hệ bộ ba: Chủ thể – hoạt
động – sản phẩm [Trần Ngọc Thêm 2007]
Văn hoá
nhận thức
Nhận thức khái quát
Triết lý kinh doanh, hiến chương, tín điều kinh doanh Nhận thức
chuyên sâu
Các kinh nghiệm kinh doanh, tri thức nghề nghiệp mà CTKD tích luỹ
được Nhận thức
Văn hoá quản trị trên mọi mặt hoạt động của tổ chức kinh
doanh
Tổ chức đời sống cá nhân
Văn hóa tổ chức đời sống vật chất và tinh thần
Văn hoá
ứng xử
Ứng xử với môi trường xã hội
Ứng xử với các đối tượng hữu quan (khách hàng, đối tác )
Ứng xử với môi trường tự nhiên
Ứng xử với môi trường tự nhiên nơi cư trú, với nguồn nguyên nhiên
liệu
Bảng 2: Cấu trúc của văn hóa kinh doanh
1.3 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
1.3.1 Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở Việt Nam
Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh của Việt Nam có thể được
chia thành bốn giai đoạn: (1) Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây; (2)
Giai đoạn tiếp thu ảnh hưởng phương Tây (từ năm 1859 đến năm 1975); (3)
Trang 25Giai đoạn trước đổi mới kinh tế (4) Giai đoạn đổi mới kinh tế (1976 – 1985)
[dẫn theo Nguyễn Thanh Lân [2007: 84 -105]
Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây (từ thời kỳ dựng nước đến khi
thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858)
Ở giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo hướng sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp Hoạt động thương mại dừng lại ở mức buôn bán nhỏ nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngày Ngoại thương không phát triển vì “Nhà nước Đại Việt thường tỏ
ra không mấy có thiện cảm đối với việc buôn bán nói chung và đối với ngoại thương nói riêng Chư Phiên Chí, cuốn sách của một du khách người Trung Hoa xuất bản vào thế kỷ 13 đã tóm tắt thái độ đặc biệt này của nước Đại Việt đối với buôn bán trong một câu ngắn ngủi: “Xứ này không buôn bán (với người nước ngoài)” [Li Tana 1999: 84]
Kinh tế thị trường và ngoại thương chỉ bắt đầu manh nha hình thành cùng với việc mở đất về phía Nam và định cư tại đồng bằng sông Cửu Long
“Tuy không thể xác định rõ được mức độ của sản xuất và kinh tế hàng hóa lúc bấy giờ, nhưng có thể nói rằng trước khi người Pháp đến, chính sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã mở rộng tầm mắt của người nông dân ra khỏi xóm làng, kích thích sản xuất, tăng năng suất, ” [Võ Văn Sen – Phan Văn
Dốp, trong Nam Bộ đất và người 2008: 70]
Giai đoạn tiếp thu ảnh hưởng phương Tây (từ năm 1859 đến 1975)
Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, hoạt động thương nghiệp nói riêng và kinh doanh nói chung ở Việt Nam bắt đầu bước sang một giai đoạn mới Một số nhà trí thức yêu nước, nhận ra thương nghiệp chính là một phương cách làm cho dân giàu nước mạnh, đã bắt tay vào kinh doanh
“Doanh nghiệp Duy Tân” (những công ty của các cụ đồ Nho bỏ khoa cử để
Trang 26kinh thương tế thế), công ty Hồng Tân Hưng, Đông Thành Xương (Hà Nội),
Quảng Nam Hiệp Thương (Đà Nẵng), Liên Thành Thương Quán5 … ra đời Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nhân có ý thức làm giàu một cách chân chính còn có những nhà kinh doanh đã tiếp thu những mặt trái của kinh doanh tư bản chủ nghĩa như tính tàn bạo, hám lợi, bất chấp thủ đoạn .” [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 81]
Ở miền Nam, những doanh nhân người Hoa cũng đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn này
Họ rất thành công trong các lĩnh vực dịch vụ ăn uống, khách sạn, xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng, bất động sản nhờ tầm nhìn dài hạn và quan niệm
trọng chữ “TÍN” trong kinh doanh
Sau hiệp định Geneve, miền Bắc tiến hành xây dựng nền kinh tế chủ nghĩa xã hội và giữ vai trò hậu phương cho cuộc cách mạng chống đế quốc
Mỹ ở miền Nam Mục tiêu kinh tế lúc này là xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước, hạn chế và đi dần đến xóa bỏ loại hình kinh tế tư nhân Về mặt pháp luật, nhà nước không thừa nhận kinh doanh Hoạt động kinh doanh thật
sự chỉ tồn tại dưới hình thức tiểu thương ở quy mô nhỏ Trong khi đó, hoạt động kinh doanh ở miền Nam lại phát triển đáng kể Việc giao lưu với văn hoá Mỹ cũng ảnh hưởng đến văn hoá kinh doanh ở miền Nam trong thời kỳ 1954-1975 “Sự giao lưu này đã bổ sung cho văn hóa kinh doanh nơi đây một
số kiến thức, yếu tố cần thiết cho kinh tế thị trường như cơ sở hạ tầng, công nghệ, kiến thức kinh doanh hiện đại ”6 [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 82]
Trang 27Giai đoạn trước đổi mới kinh tế (1976 – 1985)
Sau khi thống nhất đất nước, thực trạng kinh doanh của miền Bắc và miền Nam có những điểm tương đồng và khác biệt Điểm tương đồng là sự vận hành các doanh nghiệp tư sản miền Nam bị chuyển đổi theo định hướng
xã hội chủ nghĩa giống như doanh nghiệp miền Bắc bằng cách quốc hữu hoá, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và xây dựng những doanh nghiệp của nhà nước [dẫn theo Nguyễn Thanh Lân 2007: 96]
Nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến nhu cầu của thị trường, chỉ sản xuất và phân phối những sản phẩm lạc hậu, kém chất lượng Cơ chế bao cấp (có lãi thì nộp cho Nhà nước, lỗ thì được Nhà nước bù vào) khiến cạnh tranh, kinh doanh theo định hướng khách hàng bị triệt tiêu “Với bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều tầng quản lý và đầu mối cơ quan trung gian, doanh nghiệp nhà nước không thể ‘ứng phó’ và giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế sản xuất kinh doanh” [Nguyễn Thanh Lân 2007: 97]
Tuy nhiên với tinh thần sáng tạo một số doanh nhân lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước ở miền Nam như Xí nghiệp Việt Thắng, Công ty Biti’s dần dần hướng hoạt động kinh doanh vào việc đáp ứng nhu cầu của thị trường Điều này phản ánh sự linh hoạt, sáng tạo trong tính cách của doanh nhân Việt Nam nói chung và giới doanh nhân Nam Bộ nói riêng
Giai đoạn đổi mới kinh tế (1986 đến nay)
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Việt Nam Năm 2000, sự ra đời của luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho kinh doanh phát triển mạnh Số lượng doanh nghiệp năm 2000 tăng lên gấp 3 lần so với năm 1999 Luật doanh
Trang 28nghiệp 2005 cho phép mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh và công bằng dưới sự bảo vệ của pháp luật Tuy nhiên, trình độ chuyên môn yếu kém cùng với những “lề lối” làm ăn theo kiểu cũ vẫn tiếp tục cản trở cho sự phát triển và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam
Có thể khái quát quá trình phát triển và những đặc điểm của hoạt động
kinh doanh ở miền Bắc và miền Nam như sau:
Nghề buôn và nhà buôn bị coi rẻ
Ngoại thương không phát triển
Kinh tế hàng hóa và thương mại bắt đầu manh nha ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ khi vùng này được khai phá
Nhà nước không thừa nhận kinh doanh tư nhân
Hoạt động kinh doanh khá phát triển
Trang 29 Kinh doanh chỉ ở mức quy mô vừa và nhỏ
Trình độ chuyên môn cũng như những hạn chế
do yếu tố văn hoá vẫn còn gây trở ngại cho sự phát triển của kinh doanh
Bảng 3: Những đặc điểm về truyền thống kinh doanh ở Việt Nam
1.3.2 Những đặc điểm của văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
Nhận thức về kinh doanh
Nhận thức về kinh doanh ở Việt Nam thay đổi theo những biến động lịch sử Ở giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây, hoạt động kinh doanh bị coi nhẹ, thậm chí xem thường là “mạt nghiệp” do những nguyên nhân xuất phát từ những đặc trưng văn hóa sau:
+ Người Việt Nam trọng DANH hơn trọng LỢI Trong khi việc buôn bán muốn thành công phải chú trọng đến LỢI (lợi nhuận), một yếu tố thực dụng thường được quy gán là nguyên nhân của những hành vi tội lỗi Cũng
do trọng DANH mà người Việt Nam thích học hành, đỗ đạt làm quan để làm
vẻ vang cho dòng họ và coi khinh nghề buôn bán được xem là “mạt nghiệp”
“Ở nước ta, suốt một thời gian dài kinh doanh không được xem là một nghề nghiêm chỉnh ‘Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ’ Xã hội Việt Nam suốt ngàn năm cứ lẩn quẩn trong cái vòng ‘sĩ – nông’ này” [Trần Hữu Quang (cb) 2007: 229]
+ Văn hóa Việt Nam thiên về âm tính nên xem trọng sự ổn định Người Việt Nam không thích sự thay đổi, di chuyển, do đó không phù hợp với những nghề nghiệp có tính động như làm ăn, buôn bán luôn đòi hỏi cạnh
tranh và năng động “Làm bạn với sông giang mất cả quang lẫn gánh” Cách
Trang 30tích lũy của cải được xem trọng chỉ là cố gắng tiết kiệm “Buôn tàu buôn bè
không bằng ăn dè hà tiện”, “Buôn Ngô buôn Tàu không giàu bằng hà tiện”
+ Bên cạnh yếu tố khách quan, nghề buôn bị coi rẻ trong xã hội truyền thống Việt Nam còn do yếu tố chủ quan là bản thân người thương nhân Thương nhân Việt Nam thường làm ăn gian dối, thiếu mất nhận thức về “chữ
tín” với khách hàng nên càng bị xã hội lên án: “Thật thà cũng thể lái trâu”;
“Em ơi đừng lấy quân buôn, Khi vui nó ở khi buồn nó đi”… Doanh nhân
trong xã hội truyền thống Việt Nam (và có lẽ cho đến tận bây giờ) vẫn bị quy gán cho những đức tính xấu như độc ác (Lý Thông), hám lợi (Cái cân thuỷ ngân), hợm của (Thạch Sùng)
Khi giao lưu với phương Tây, người Việt Nam dần dần nhận ra vai trò của sản xuất hàng hóa và thương nghiệp, ý thức được sức mạnh kinh tế Đây
là một bước tiến đáng kể trong cách nhìn nhận về nghề kinh doanh và người làm kinh doanh trong xã hội Việt Nam Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử (chiến tranh kéo dài, đất nước bị chia cắt, cơ chế quan liêu bao cấp của nhà nước sau khi thống nhất đất nước), những quan điểm tích cực này không có sức ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam
Bước sang thời kỳ đổi mới kinh tế, hoạt động kinh doanh ở Việt Nam có bước tiến đáng kể nhờ những chính sách tích cực và hiệu quả của nhà nước Nhận thức về kinh doanh có những chuyển biến tích cực Vai trò của hoạt động kinh doanh và vị thế của người doanh nhân được cải thiện Trong một cuộc điều tra xã hội học ở TP.HCM tháng 5/2003, 94% số người được hỏi đã cho rằng “kinh doanh là một nghề có ích cho xã hội”, 74% tán thành “Người biết làm giàu là người đáng quí trọng” Bên cạnh đó, doanh nhân Việt Nam hiện cũng có trách nhiệm và thức xã hội khá cao, muốn khẳng định năng lực
cá nhân của mình [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 90 - 91] Tuy nhiên trình độ
Trang 31chuyên môn của đội ngũ doanh nhân chưa cao, vẫn còn bị chi phối bởi những đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp như trọng tình hơn trọng lý, trọng ổn định, tư duy thiên về cảm tính Rất ít doanh nghiệp có triết lý kinh doanh hay chiến lược kinh doanh trong khi lại quá tin vào may rủi (đặt bàn thờ trong doanh nghiệp, đi lễ chùa cầu xin sự phù hộ của các thế lực siêu nhiên) Một
số doanh nhân có tư tưởng bảo thủ, không muốn hay không thể thay đổi cho phù hợp với xu hướng mới thị trường “Những người này vì thế đã góp phần làm văn hóa kinh doanh Việt Nam kém năng động, chậm hòa đồng với tiến trình hội nhập, ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trên thương trường quốc tế” [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 104]
Tổ chức kinh doanh
Vì các doanh nghiệp Việt Nam có nguồn vốn khá hạn chế nên quy mô kinh doanh chỉ dừng lại ở mức vừa và nhỏ Hầu hết các doanh nghiệp, nhất
là doanh nghiệp tư nhân chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, dịch
vụ (khoảng trên 80%), doanh nghiệp sản xuất chỉ có 11% Điều này chứng tỏ doanh nhân chưa có phương hướng làm ăn lâu dài, chủ yếu làm ăn mang tính hàng xén, lặt vặt [Nguyễn Hoàng Ánh 2004:89] Do trọng sự ổn định, các doanh nghiệp Việt Nam không thích mạo hiểm trong những lĩnh vực kinh doanh có độ rủi ro cao dù đem lại lợi nhuận cao
Tổ chức doanh nghiệp còn mang nặng tính gia đình và gia trưởng Người lãnh đạo quyết định hầu hết các vấn đề trong doanh nghiệp Tâm lý
“sếp lúc nào cũng đúng” khiến cho người nhân viên không dám phát biểu quan điểm hay đóng góp í kiến của mình trong hoạt động của doanh nghiệp Truyền thống lãnh đạo tập thể trong các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ là biểu hiện dân chủ theo kiểu cào bằng, là thủ tục, hình thức để tránh trách nhiệm cá nhân, “huề cả làng” khi có sự cố [Nguyễn Thanh Lân 2007: 107]
Trang 32Môi trường kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều rủi ro do chính sách thiếu
ổn định và minh bạch Yếu tố quen biết, chạy chọt vẫn còn tồn tại, gây trở ngại cho những người có tài năng và mong muốn được làm giàu một cách chính đáng Doanh nghiệp tư nhân vẫn còn phải đối phó với những thủ tục rườm rà, những rào cản pháp lý trong kinh doanh
Ứng xử trong kinh doanh
Về ứng xử trong kinh doanh, người Việt Nam thường chú trọng các mối quan hệ Quan niệm rằng yếu tố thành công quan trọng hàng đầu là quen biết rộng chứ không phải do năng lực vẫn còn phổ biến Do coi trọng việc xây dựng quan hệ, các doanh nhân Việt Nam có thể làm quen đối tác qua thư từ, điện thoại nhưng khi đưa ra những quyết định quan trọng thì phải gặp gỡ và đàm phán trực tiếp
Doanh nhân Việt Nam thường liên kết với nhau để chèn ép khách hàng Trong khi đó ở phương Tây, doanh nhân phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tạo dựng chỗ đứng bằng cách đảm bảo lợi ích của khách hàng Do tính linh hoạt trong tính cách văn hóa, nạn làm hàng giả và nói thách tùy tiện rất phổ biến trong họat động kinh doanh ở Việt Nam
Vì chú trọng sự ổn định, nhiều doanh nhân Việt Nam chuộng làm việc theo lối cũ, hợp tác với những bạn hàng đã quen biết tuy lợi nhuận thu được không cao Đây cũng là một cách đảm bảo an toàn trong khi đa số doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu trách nhiệm cũng như tinh thần tôn trọng pháp luật Trong hoạt động ngoại thương, doanh nghiệp Việt Nam thường mua CIF (mua hàng có giá bảo hiểm) bán FOB (bán hàng không bảo hiểm) để tránh rủi ro trong kinh doanh [Nguyễn Thanh Lân 2007: 109]
Trang 33Do trọng tình nhẹ lý doanh nhân Việt Nam thường bị đánh giá là ít giữ lời hứa, không có tinh thần trách nhiệm và thiếu am hiểu về luật kinh doanh quốc tế, không quan tâm đến thực tế là chính sự công bằng trong kinh doanh tạo được lợi ích chung cho cả hai bên [Nguyễn Hoàng Ánh 2004:89] Từ đó dẫn đến hệ quả là người Việt Nam không coi trọng hợp đồng hoặc thường lập những hợp đồng ngắn gọn và tìm cách sửa đổi các điều khoản nếu gặp tình huống bất lợi Điều này để lại ấn tượng xấu trong mắt các đối tác phương Tây vốn tôn trọng tính pháp lý của hợp đồng
1.4 Vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ
1.4.1 Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Nam Bộ được chia thành Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Khu vực Đông Nam Bộ bao gồm thềm phù sa cổ thuộc lưu vực sông Đồng Nai Khu vực Tây Nam Bộ chủ yếu bao gồm miền đồng bằng sông Cửu Long và một vài dãy núi thấp ở miền Tây An Giang, Kiên Giang Về mặt địa hình, Đông Nam Bộ là vùng đất đồi, núi thấp, là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long Đất ở khu vực này phần lớn là đất nâu đỏ và nâu vàng trên nền bazan và đất xám trên nền phù sa cổ, rất phù hợp trồng cây công nghiệp Ngoài ra với bờ biển dài, vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng thuỷ sản và du lịch phong phú Trong khi đó, vùng Tây Nam Bộ là đồng bằng châu thổ do sông Cửu Long bồi đắp, rất thuận lợi cho các loại nông sản và cây ăn trái và là khu vực sản xuất lương thực lớn nhất nước ta Chính vì điều kiện tự nhiên khác nhau đã dẫn đến sự khác biệt về hoạt động kinh tế Công nghiệp phát triển ở Đông Nam Bộ, còn ngành kinh tế trọng điểm ở Tây Nam Bộ là nông nghiệp Vì vậy, khi nông nghiệp là thành phần kinh tế chủ đạo của nước ta thì Tây Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm Bước sang thời kỳ công nghiệp hóa, Đông Nam Bộ phát triển mạnh,
Trang 34bỏ xa vùng Tây Nam Bộ Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách tiếp cận Tây Nam Bộ như một vùng văn hoá riêng
1.4.2 Miền Tây Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa
Miền Tây Nam Bộ chiếm toàn bộ lưu vực sông Cửu Long hiện nay, gồm 13 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long Tây Nam Bộ có tới 57.000 km đường kênh rạch, sông nước ở hạ lưu chảy chậm mang theo một lượng phù sa lớn nên đây là một đồng bằng châu thổ phì nhiêu Toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm bồi lắng của phù sa Sông sâu rộng, dòng chảy mạnh Hạ lưu sông xuất hiện nhiều đảo sông Ven sông là các “đê” tự nhiên với đất đai màu mỡ Tiếp theo là những vùng “bưng sau đê” với những quần thể thực vật thủy sinh phong phú Sau cùng là các vùng đồng bằng phẳng thấp là địa bàn canh tác nông nghiệp chủ yếu là lúa nước Tổng lượng phù sa bồi đắp lên tới 1.000 triệu tấn/năm, gấp 7 – 8 lần khối lượng phù sa Sông Hồng Một phần phù sa theo lũ tràn bờ đi vào nội đồng, phần lớn đưa ra cửa sông, bồi tụ vùng ven biển Lớp phù sa mới do sông Mêkông mang đến gồm nhiều thành phần: đê thiên nhiên, đồng ngập trũng, bưng lầy, đất giồng, đất phèn, đất mặn, đất than bùn, đất phù sa Đồng bằng sông Cửu Long có một hệ thống sông rạch chằng chịt: 2.500km sông rạch tự nhiên và 2.500 km sông rạch đào
Khu vực Tây Nam Bộ không có sự phân chia bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, cũng không chịu sự ảnh hưởng mưa dầm gió bấc như đồng bằng Bắc
Bộ Chế độ gió mùa hiện nay ở đây tạo nên hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 Chính hai mùa này điều khiển sự phát triển của tự nhiên ở vùng đất này Hàng năm gió mùa Tây Nam
Trang 35đưa mưa về cùng với lũ lụt Đợt nước lũ đầu tiên thường vào khoảng 6 tháng
7, sau đó tùy theo cường độ gió mùa mà có thêm những đợt lũ mới
Biển ở miền Tây Nam Bộ không chỉ tiếp giáp ở đất liền ở phần đáy châu thổ như ở đồng bằng sông Hồng, mà bao quanh ba mặt, Đông-Nam, Tây–Nam với chiều dài 600km Với một địa hình đặc biệt như vậy, đồng
bằng sông Cửu Long càng thể hiện đậm nét tính chất bán đảo của Việt Nam
1.4.3 Miền Tây Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa
Miền Tây Nam Bộ thường được nói đến như một vùng đất mới khai phá hơn 300 năm nay Tuy nhiên, việc tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của miền Tây Nam Bộ phải dựa vào một mốc thời gian xa hơn (ít nhất là từ thế kỷ I sau công nguyên) Trải qua những biến động lịch sử, tiến trình phát triển của miền Tây Nam Bộ có những nét nổi bật sau đây:
Sự phát triển của thương mại và ngoại thương
Từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên, nền văn hoá Óc Eo7 mà đỉnh cao là vương quốc cổ Phù Nam8 đã phát triển rực rỡ, trải dài trên một địa bàn rộng lớn ở khu vực châu thổ sông Cửu Long bao gồm nhiều vùng sinh thái khác nhau của các tỉnh An Giang (Óc Eo- Ba Thê), Kiên Giang (Đá Nổi, Nền Chùa, Tân Long), Đồng Tháp (vùng Đồng Tháp Mười), vùng ven biển Tây Nam (U Minh, Năm Căn) kéo đến vùng rừng Sác duyên hải (Cần Giờ, Giồng Am ) và vươn ra tận Biển Đông (từ cửa sông Tiền đến Cà Mau)
Phù Nam nằm trên lộ trình giao thương đường biển giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương (tức là con đường hương liệu phía Nam cùng thời với
7
Óc Eo là một khu di chỉ khảo cổ học thuộc tỉnh An Giang, được người Pháp phát hiện và khai quật từ năm
1944, đến nay đã có hàng trăm di tích được khai quật
Trang 36con đường tơ lụa phía Bắc) Vì vậy, vương quốc cổ này được biết đến trong lịch sử như một cường quốc thương nghiệp, từ rất sớm đã buôn bán với các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Mã Lai, La Mã “Ở vào vị trí địa lý đặc biệt ấn định bởi sự giao thoa của cả ba mùa gió, mậu dịch hay gió đông của mùa xuân, tây nam của mùa hè và đông bắc của hai mùa thu đông, thương cảng
Óc Eo mang ý nghĩa địa - lịch sử vì đóng góp vào con đường hương liệu nhưng rồi tiến đến tầm mức địa chính trị khi đồng bạc Phù Nam được dùng làm phương tiện thanh toán như một bản tệ mạnh và từ đó điều phối quá trình phát triển của cả khu vực”[Kiến thức ngày nay, số 651: 10]9 Mặc dù suy tàn vào thế kỷ VII, những thành tựu của vương quốc Phù Nam vẫn là một dấu ấn rực rỡ trong truyền thống phát triển thương mại và ngoại thương của miền Tây Nam Bộ
Vào đầu thế kỷ XVIII, người Việt bắt đầu khai phá miền Tây Nam Bộ trên diện rộng Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, việc sản xuất lúa gạo hết sức phát triển Lúa gạo được sản xuất không chỉ còn nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dân mà còn được đưa vào lưu thông như một mặt hàng kinh doanh
“Gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long nhiều đến độ Nguyễn Ánh đã dùng gạo để khuyến khích các thương gia người Hoa đem sắt, thép, chì và lưu huỳnh đến vùng Gia Định” [Li Tana 1999: 124] Các thương cảng buôn bán bắt đầu hình thành ở phố chợ Mỹ Tho và chợ trấn Hà Tiên10 Nhiều trung tâm vừa buôn bán, vừa thu gom hàng hóa về các thương cảng cũng nhanh chóng phát triển như: chợ Lương Phú ở Định Tường, chợ Bảo Định ở Vũng Cù, chợ Long Hồ ở Vĩnh Long, chợ Sa Đéc
9 Tạp chí Kiến thức ngày nay số 651, ngày 10-09-2008, tr.10
10 Một thương cảng thành hình từ xưa, phỏng đoán là ở vùng Bãi Xàu (Mỹ Xuyên ngày nay) nơi có sông Ba Xuyên ăn thông ra Hậu Giang [Sơn Nam 2008: 101]
Trang 37Dưới thời Pháp thuộc, lúa gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nam Bộ và Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo nhiều nhất thế giới Dựa trên thế mạnh về lúa gạo và nông sản, hoạt động thương mại và ngoại thương phát triển mạnh mẽ ở miền Tây Nam Bộ Theo Nguyễn Tiến Lực [2008], trong quan hệ thương mại Việt Nhật vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hàng Việt Nam xuất sang Nhật chủ yếu là gạo và trong mặt hàng gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo Nam Bộ (ở Nhật có một thời từ
“Saigonmai” (gạo Sài Gòn) trở thành một từ lưu hành phổ biến trong đời sống nhân dân)
Do những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và tự nhiên, sự phát triển thương mại và ngoại thương gần như đã trở thành một hằng số phát triển chung của vùng Tây Nam Bộ Đây cũng chính là cơ sở để hoạt động kinh doanh ra đời và phát triển nhanh chóng ở vùng đất này
Khu vực thường xuyên bị tranh chấp
Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng là một vùng đệm thường xuyên bị tranh dành bởi nhiều thế lực chính trị Sau khi vương quốc Phù Nam suy tàn, vùng lãnh thổ này bị người Chân Lạp thôn tính Tuy nhiên, người Chân Lạp gặp rất nhiều khó khăn trong việc cai quản vùng lãnh thổ mới này dẫn tới việc cai trị lỏng lẻo, thiếu hiệu quả và dẫn đến những xung đột qua nhiều thế kỷ
Đến thời các chúa Nguyễn, miền Tây Nam Bộ tiếp tục trở thành địa bàn tranh chấp giữa người Việt với người Miên và người Xiêm, giữa chúa Nguyễn và Tây Sơn “Mãi đến 134 năm sau (1834), vùng đất mà Nguyễn Hữu Cảnh khai sáng còn gặp chinh chiến với quân Xiêm, mặc dầu cuộc Nam tiến hoàn tất vào năm 1759” [Sơn Nam 2005: 8] Đến năm 1867, các tỉnh
Trang 38miền Tây Nam Bộ lại rơi và tay thực dân Pháp và trở thành một bộ phận thuộc lãnh thổ ở hải ngoại của thực dân Pháp
Vào thời cổ trung đại, do chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh giữa những vương quốc trong khu vực và việc tổ chức cai trị và khai thác bị bỏ mặc, vùng đất thuộc miền Tây Nam Bộ ngày nay trở nên hoang phế Người dân bỏ
đi đến những vùng yên ổn hơn Đến thời cận đại, việc khẩn hoang và khai thác vùng đất này lại gặp nhiều khó khăn, có lúc còn bị đình trệ vào đời các chúa Nguyễn do những xung đột của người Việt và người Miên, giữa chúa Nguyễn và anh em nhà Tây Sơn Chỉ sau khi đánh bại Tây Sơn (1802), nhà Nguyễn mới có điều kiện khuyến khích phát triển kinh tế và xã hội ở vùng Tây Nam Bộ như việc đào kênh11, đắp đường, phát triển giao thông thuỷ bộ
Khi người Việt đến khai phá, miền Tây Nam Bộ là một vùng đất màu
mỡ với những nguồn lợi phong phú về động thực vật chưa được khai thác Đây chính là tiền đề cơ bản dẫn đến các thành tựu về nông nghiệp cũng như thương nghiệp ở miền Tây Nam Bộ Bên cạnh đó, Tây Nam Bộ còn là một trong những khu vực tiếp xúc trực tiếp với văn hóa phương Tây trong khoảng thời gian chịu sự cai trị của thực dân Pháp Văn hóa phương Tây cũng có ảnh hưởng tích cực đến truyền thống kinh doanh của khu vực này
1.4.4.Miền Tây Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa
Miền Tây Nam Bộ là địa bàn cư trú của nhiều tộc người Trong đó, người Việt chiếm đa số (92%) và là chủ thể văn hóa ở miền Tây Nam Bộ; (người Khmer chiếm 7%; người Hoa chiếm 0,76%; người Chăm 0.07% )
Người Việt
11 Kênh Thoại Hà (1817), kênh Vĩnh Tế (1820-1824), kênh Vĩnh An (1843-1844)
Trang 39Quá trình Nam tiến của người Việt chính thức bắt đầu khi Nguyễn Hoàng xin Trịnh Kiểm trấn thủ vùng đất từ Quảng Bình trở vào Theo nhiều nhà nghiên cứu, người Việt bắt đầu đến khai khẩn vùng đồng bằng Sông Cửu Long vào nửa cuối thế kỷ XVII Ở giai đoạn này, phần đông lưu dân là nông dân và thợ thủ công nghèo ở các tỉnh phía Bắc vì không chịu nổi những tai họa do chiến tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn cũng như sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến buộc phải rời bỏ quê hương để tìm đất sống Quá trình di dân vào Nam Bộ diễn ra liên tục khi chiến tranh ngày càng khốc liệt
và mâu thuẫn giữa địa chủ và giai cấp nông dân trở nên gay gắt
Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, triều Nguyễn xác lập quyền cai trị ở vùng đất Nam Bộ và chủ trương chiêu mộ lưu dân vào Nam khai hoang Một số ít những kẻ giàu có chiêu mộ người nghèo đi tìm đất khai phá làm ăn Với vốn liếng và kiến thức hơn hẳn những những cư dân nghèo, họ đẩy mạnh khẩn hoang và canh tác, lớn mạnh thành một tầng lớp đại điền chủ
Ngoài ra, lực lượng di cư vào thời kỳ này còn có những tội đồ bị phát vãng và binh lính của triều đình được cử vào khai phá và bảo vệ lãnh thổ Binh lính của triều đình khi già yếu, bệnh tật không còn sức chiến đấu cũng được khuyến khích ở lại đây lập nghiệp
Cư dân đến khai phá miền Tây Nam Bộ phần đông là những người đã chọn từ bỏ nếp sống cũ quen thuộc để mưu sinh trên một vùng đất mới “Ông cha ta thời Nguyễn Hữu Cảnh (1698) đã đến vùng Đồng Nai - Cửu Long mở nước với động cơ chính là tìm công ăn việc làm, cơ bản là tìm đất canh tác vì miền Trung đất chật, người đông” [Sơn Nam 2008:23] Huỳnh Lứa [2008] đã nhận xét: “Họ là những người cứng rắn, mạnh mẽ, có tài tháo vát và bản lĩnh
để trụ lại trên một vùng đất nhiều cơ hội cũng như đầy rẫy nguy cơ Họ là dân ‘tứ chiếng’ từ những tỉnh, phủ, xã khác nhau, chủ yếu từ những vùng nổi
Trang 40tiếng hay cãi, cứng đầu, mang trong mình nhiều chất phản kháng, nổi dậy, ít chất thần phục quyền uy phong kiến, càng ít sự ràng buộc của lễ giáo dạo đức Khổng Mạnh, có tư tưởng ‘dọc ngang nào biết trên đầu có ai’”
Người Việt miền Tây Nam Bộ có tính năng động nhiều nhất trong một nền văn hóa Việt Nam vốn “trọng tĩnh” Tính năng động của cư dân miền Tây Nam Bộ được nuôi dưỡng bởi những yếu tố không gian và thời gian Vùng Tây Nam Bộ là vùng đất mở, nơi tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau thông qua hoạt động ngoại thương
Tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện qua năm đặc trưng
chính: tính sông nước, tính bao dung, tính năng động, tính trọng nghĩa và
tính thiết thực Hệ thống năm đặc trưng này là cần và đủ để xác định tính
cách văn hoá người Việt miền Tây Nam Bộ Chúng đủ điển hình để chi phối mọi biểu hiện tính cách văn hoá khác Năm đặc trưng này và hệ quả của chúng được thể hiện trong bảng dưới đây [Trần Ngọc Thêm 2008]:
Tính
sông nước
1 Giao thông đường thuỷ rất phát triển
2 Thuỷ sản và động thực vật sông nước là thức ăn chủ lực
3 Phương ngữ Nam Bộ rất giàu các từ ngữ chỉ các sự vật, khái niệm liên quan đến nước
4 Sông nước trở thành cơ sở, hình ảnh để diễn đạt tính cách con người