1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản nam hà tĩnh

82 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh
Tác giả Phạm Thị Phượng
Người hướng dẫn TS. Phan Văn Tá
Trường học Đại học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý văn hóa- nghệ thuật
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, văn hóa là một hệ thống được định hình và phát triển trong quá trình lịch sử, bao gồm nhiều yếu tố hợp thành như hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng xử, các chuẩn mực xã hộ

Trang 1

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa- nghệ thuật

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU VĂN HÓA KINH DOANH Ở CÔNG TY

CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN NAM HÀ TĨNH

Giảng viên hướng dẫn: TS PHAN VĂN TÁ Sinh viên thực hiện: PHẠM THỊ PHƯỢNG

 

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

với sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Văn hóa và các thầy cô giáo trong trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội Đặc biệt tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới thầy TS Phan Thanh Tá, người

đã trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý, Phòng hành chính tổng hợp Công ty

Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Nam Hà Tĩnh, và các cán bộ, công nhân công ty

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới chú Trần Đình Nam – Giám Đốc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Nam Hà Tĩnh , người đã trực tiếp tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về kiến thức và thời gian nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô cùng các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Tác giả khóa luận

Trang 3

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại Học đề tài “Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những vấn đề nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa công bố hoặc sao chép trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2015

Tác giả khóa luận

Phạm Thị Phượng

Trang 4

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và vận hành của công ty

Hình 2.2.2.1: Quy trình sản xuất và chế biến tôm

Hình 2.2.2.2: Quy trình sản xuất và chế biến mực file và cắt khoanh Hình 2.2.2.3: Quy trình sản xuất và chế biến cá đông block

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 4

1.1 Văn hóa và văn hóa kinh doanh 4

1.1.1 Văn hóa và đặc trưng của văn hóa 4

1.1.2 Văn hóa kinh tế 6

1.1.3 Văn hóa kinh doanh 8

1.2 Những nhân tố trong văn hóa kinh doanh 11

1.2.1 Văn hóa và đạo đức của nhà kinh doanh 11

1.2.2 Văn hóa trong quản trị doanh nghiệp 14

1.2.3 Văn hóa trong sản xuất và dịch vụ 17

1.3 Vai trò của văn hóa kinh doanh ở nước ta hiện nay 19

1.3.1 Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa 19

1.3.2 Văn hóa kinh doanh – một nguồn lực và phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững 22

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN NAM HÀ TĨNH 26

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh 26

2.1.1 Cơ cấu tổ chức và môi trường sản xuất kinh doanh của công ty 26

Trang 6

Nam Hà Tĩnh 36

2.2.1 Đời sống vật chất và tinh thần của người lao động 36

2.2.2 Chất lượng sản phẩm và vấn đề đảm bảo lợi ích người tiêu dùng 38

2.2.3 Phương thức sản xuất kinh doanh và thị trường tiêu thụ 43

2.3 Những kết quả đạt được của công ty Shatico 45

2.3.1 Những thành tích 45

2.3.2 Những khó khăn và hạn chế 48

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN NAM HÀ TĨNH 51

3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng văn hóa kinh doanh 51

3.1.1 Xây dựng tinh thần hợp tác tương trợ trong cộng đồng doanh nhân – doanh nghiệp 51

3.1.2 Xây dựng triết lý kinh doanh và chiến lược kinh doanh 52

3.1.3 Bảo vệ môi trường tự nhiên và xây dựng chữ tín trong kinh doanh 54

3.1.4 Xây dựng văn hóa giao tiếp trong kinh doanh và khách hàng 56

3.2 Những giải pháp xây dựng văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh 61

3.2.1 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại 61

3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo lợi ích người tiêu dùng 63

3.2.3 Xây dựng môi trường văn hóa trong sản xuất và kinh doanh 65

3.2.4 Cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động 67

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm bốn khâu: sản xuất, lưu thông, phân phối, bảo quản và tiêu dùng Trong đó tiêu dùng là một mắt xích quan trọng, giữ vai trò thúc đẩy quá trình sản xuất Hơn nữa, sản xuất không tự thân, sản xuất luôn có mục đích là để tiêu dùng Trong nền sản xuất hàng hóa vấn đề quan trọng nhất là sản xuất hàng hóa đó phải tìm được người mua, tìm được thị trường tiêu thụ thì hàng hóa đó mới thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng

Theo dòng lịch sử, công cuộc đổi mới đất nước của Đảng Nhà Nước ta đã gần 30 năm cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận hành trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi mới và đô thị hóa trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế đã

và đang mang lại những thành tựu thắng lợi rực rỡ trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế văn hóa xã hội làm thay đổi diện mạo của từng ngõ hẻm, đường phố đô thị của từng mái nhà lối xóm, thôn quê Các phong trào xóa đói giảm nghèo, toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa nở rộ Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao Song để tăng trưởng và phát triển bền vững không thể không quan tâm đến mối quan hệ biện chứng giữa lĩnh vực kinh tế và văn hóa

Đó là văn hóa sản xuất, văn hóa kinh doanh, văn hóa tiêu dùng Sản xuất kinh doanh có văn hóa là thể hiện đặc điểm, nhân cách và năng lực của các nhà sản xuất kinh doanh là tiêu chuẩn của các doanh nhân, hành động luôn hướng tới vì lợi ích cộng đồng, vì bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, vì đảm bảo lợi ích người tiêu dùng Đó là nhân cách văn hóa bởi “văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh đóng trên địa bàn Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh với đia hình một bên là biển, một bên là núi Là một trong những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn của Huyện Kỳ Anh, chiến lược phát triển của công ty là chăn nuôi chế biến thủy sản như : tôm, cá, mực với thị

Trang 9

trường trong nước và xuất khẩu nước ngoài Thừa hưởng tiềm năng sẵn có của tự nhiên và nguồn nhân lực dồi dào của huyện nhà, trong quá trình xây dựng phát triển, hàng năm công ty đã đóng góp nguồn ngân sách cho nhà nước đáng kể và thu hút tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người dân trong huyện Sản phẩm hàng hóa thủy sản của công ty trong những năm gần đây đã phần nào chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước Song để tồn tại và phát triển bền vững, để vươn cao bay xa hơn nữa, thiết nghĩ, công ty phải có chiến lược sản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu đảm bảo uy tín đối với người tiêu dùng

và cạnh tranh lành mạnh trên thương trường Đó chính là những tiêu chí để xây dựng mô hình văn hóa kinh doanh Sẽ góp phần làm giàu cho người dân sống trên mảnh đất quê hương em Cũng từ ý tưởng và mong ước nhỏ bé của mình Khóa luận tốt nghiệp Đại Học chuyên nghành quản lý văn hóa - nghệ thuật em xin chọn đề tài :

Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh, Huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình sản xuất và kinh doanh các sản phẩm hàng hóa thủy sản như: tôm, cá, mực ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Căn cứ vào đường lối chính sách và pháp luật của Đảng Nhà Nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường Dựa trên cơ sở lý luận của các khoa học liên ngành và chuyên ngành về các lĩnh vực triết học, kinh tế học, văn hóa học … Kết hợp với các phương pháp:

- Khảo sát điền dã thực địa

- Sưu tầm tổng hợp và phân tích nguồn tư liệu

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA KINH DOANH

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Văn hóa và văn hóa kinh doanh

1.1.1 Văn hóa và đặc trưng của văn hóa

- Nghiên cứu từ gốc: “Văn hóa” (Culture – Tiếng Anh) xuất phát từ chữ Latinh Cultura có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực (sự vun trồng) Sau đó từ Cultura được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng con người

- Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu: Theo tiêu chí này, văn hóa có thể được định nghĩa theo hai cấp độ chính

Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã tạo ra trong lịch sử, trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem xét văn hóa theo nghĩa rộng nhất, Người cho rằng :

Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về việc ăn, mặc, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn

Phù hợp với nhìn nhận trên về văn hoá, chúng ta cũng có thể dẫn ra định nghĩa văn hóa do Nguyên tổng Thư ký UNESCO Federico Mayor nêu ra nhân ngày

lễ phát động Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hóa (1988 – 1997) Ông cho rằng:

“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cả cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình

Trang 12

thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định được tính riêng của từng dân tộc”

Theo nghĩa hẹp, văn hóa được coi như một ngành văn hóa nghệ thuật (văn chương, âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh, truyền hình …) Văn học nghệ thuật

là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa

Trong những cách hiểu trên, hiện nay, người ta thường xem xét văn hóa với nghĩa rộng nhất Đó cũng chính là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học

- Theo hình thức biểu hiện: Gồm có văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần hay là văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible)

- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống – cấu trúc thì văn hóa là một hệ thống gồm nhiều phân hệ trong hệ thống văn hóa (nền văn hóa) gồm bốn thành tố (tiểu hệ) cơ bản :

+ Văn hóa nhận thức

+ Văn hóa tổ chức cộng đồng

+ Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

+ Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

Ngoài việc nghiên cứu văn hóa theo những lĩnh vực như trên, văn hóa còn được tìm hiểu theo phương diện sử học, theo chức năng của văn hóa …

Trên đây là khái quát sáu phương diện chính của khái niệm văn hóa Qua đó chúng ta có thể hiểu : “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội”

Như vậy, văn hóa có một số nội dung cơ bản sau đây :

+ Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người Văn hóa là dấu hiệu chỉ đặc điểm nhân văn của con người Văn hóa là dấu hiệu chỉ đặc điểm nhân văn của con

Trang 13

người, nó hiện diện trong tất cả các mối quan hệ, trong hoạt động và trong sản phẩm của con người

+ Đối với một cộng đồng xã hội, văn hóa thường thể hiện ra như một lối sống, một kiểu ứng xử riêng biệt và tương đối ổn định, được di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

+ Yếu tố cốt lõi của văn hóa một cộng đồng người là hệ giá trị và chuẩn mực

xã hội, thể hiện như là bản sắc của cộng đồng , nó có chức năng điều tiết hành vi của các thành viên, tạo nên sự thống nhất hành động trong cộng đồng xã hội ấy

Như vậy, văn hóa là một hệ thống được định hình và phát triển trong quá trình lịch sử, bao gồm nhiều yếu tố hợp thành như hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng xử, các chuẩn mực xã hội; nó mang tính ổn định, bền vững và có khả năng di truyền qua nhiều thế hệ; “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”

1.1.2 Văn hóa kinh tế

- Quan niệm về văn hóa kinh tế xuất hiện trong quá trình nghiên cứu kinh tế học và khoa học quản lý

Trước hết, các nhà kinh tế học, quản lý học … thấy rằng sự phát triển kinh tế không chỉ bị quy định bởi các nhân tố thuần kinh tế (đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật) mà còn chịu sự tác động của các nhân tố văn hóa Max Weber [1958] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong kinh tế qua vai trò của đạo Tin lành đối với

sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây

Theo Weber, nguyên nhân chính của sự phát triển của đạo Tin lành Chính đạo Tin lành đã tạo ra một “cuộc cách mạng trí tuệ” bằng việc cho rằng mệnh lệnh của Chúa trong Kinh thánh đã làm cho mọi người có một cố gắng hết sức đối với công việc bởi vì đây là mệnh lệnh cao cả và các giá trị quan trọng này – động cơ thúc đẩy mọi người hăng say lao động – là đức tính chuyên cần và tiết kiệm Chính

Trang 14

những năm 80 vai trò của đạo Khổng đối với sự phát triển “thần kỳ” của Đông Á cũng được nhìn nhận tương tự như vậy ở các học giả khác

Thứ hai, các công cụ phân tích của các nhà kinh tế như bảng cân đối kinh tế, các thước đo “năng suất lao động”, “hiệu quả kinh tế”, “tổng sản phẩm xã hội”, “thu nhập quốc dân” … đã không còn đủ cho sự lý giải thực tế phát triển kinh tế của các quốc gia “Việc tìm ra yếu tố định hướng cho hoạt động kinh tế không hoàn toàn giới hạn trong phạm vi kinh tế mà cần được xem trong một hệ thống tổng thể rộng hơn, trong các yếu tố thuộc về văn hóa” Vì vậy, cần có một cách tiếp cận rộng rãi hơn – cách tiếp cận của văn hóa học đối với sự phát triển kinh tế trong cả phạm vi

vĩ mô và vi mô

Thứ ba, thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của các nước “thế giới thứ ba” đã bác bỏ hầu hết các “lý thuyết phát triển” kinh tế học của phương Tây (thuyết “tăng trưởng cân bằng của Nurkse, thuyết “cú hích lớn” của Roseinstein – Rodan, thuyết

“các giai đoạn tăng trưởng” của Rostow …) đã chứng tỏ rằng các lý thuyết này là

“những tấm biển chỉ đường tai họa” Bởi vì, so với các nước phương Tây, các nước đang phát triển có sự khác biệt rất lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Điều này cũng có nghĩa là tuyệt nhiên không thể có một học thuyết kinh tế học nào có giá trị phổ quát và hoàn toàn đúng cho nhiều quốc gia khác nhau Trong lĩnh vực khoa học quản lý cũng có tình trạng như vậy Những lý luận và phương pháp quản lý đã thành công ở nước này nhưng lại không thể đem lại hiệu quả cao và lâu bền khi áp dụng vào nước khác Những thử nghiệm tạo ra một hệ thống quản lý trên cơ sở lai ghép về văn hóa (thuyết Z chẳng hạn) chưa có mấy sức thuyết phục

Tóm lại, cần nhìn nhận sự hoạt động của mỗi nền kinh tế đều dựa trên và bị quy định bởi một nền văn hóa đặc thù Từ đây xuất hiện khái niệm “Văn hóa kinh tế” Văn hóa kinh tế có một số thuộc tính cơ bản sau:

+ Văn hóa kinh tế là kiểu, là cách thức làm kinh tế của một quốc gia, có tính

ổn định, vững bền và đặc thù Nhận biết được điều này không chỉ dựa vào điều kiện

tự nhiên, vốn hay trình độ phát triển của kỹ thuật; nói cách khác, không chỉ là

Trang 15

chuyên phương thức sản xuất hay tồn tại xã hội – mà còn có mặt của các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh tế Do vậy, những thành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia là rất khó sao chép

+ Văn hóa kinh tế được định hình từ một điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định, được tinh lọc, bồi đắp và phát triển qua nhiều thế kỷ sinh tồn của một quốc gia Vì vậy, tính truyền thống lịch sử - tính định hướng một cách tự nhiên (mặc nhiên) đối với các hành vi kinh tế của chủ thể hoạt động – văn hóa là đặc điểm của văn hóa kinh tế

+ Cốt lõi của văn hóa kinh tế cũng là một hệ thống giá trị có vai trò định hướng, khích lệ và đánh giá các hành vi kinh tế của các cá nhân, tổ chức … Chính các hệ thống giá trị này là “tính quy định” tạo ra khuôn mẫu xã hội và dấu ấn đặc thù của nó trong hoạt động của các chủ thể khác nhau, tạo ra sự liên tục; nó có tác động rộng khắp tới các hoạt động kinh tế vì lợi (kinh doanh) và không vì lợi Tính phổ quát của văn hóa kinh tế vượt ra ngoài phạm vi văn hóa tôn giáo, chủng tộc, tộc người; nó có tính quốc gia Ví dụ, dấu ấn của văn hóa kinh tế mỹ có thể tìm thấy trong bất kỳ một người Mỹ nào hoạt động kinh tế, dù da đen hay da trắng, gốc Trung Quốc, Hàn Quốc hay Tây Ban Nha …

- Từ những đặc điểm trên có thể rút ra một định nghĩa sơ lược về văn hóa kinh tế như sau:

Văn hóa kinh tế là phương thức hoạt động kinh tế truyền thống ổn định và đặc thù của một quốc gia Thông qua một hệ thống giá trị văn hóa, nó có vai trò định hướng, đánh giá và khuyến khích hoặc kìm hãm đối với các hoạt động kinh tế của quốc gia

1.1.3 Văn hóa kinh doanh

- Khái niệm kinh doanh

Trang 16

Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người xuất hiện cùng với kinh

tế hàng hóa và thị trường Ngay từ thời cổ đại đã có một tầng lớp những người làm nghề kinh doanh (doanh nhân)

Kinh doanh (danh từ, động từ hoặc cả hai) gồm nhiều loại hình khác nhau: buôn bán (thương mại), sản xuất, dịch vụ (du lịch, thông tin, y tế, giáo dục, tư vấn

…) Xét về lịch sử, kinh doanh thương mại (mua bán, trao đổi và lưu thông) là loại kinh doanh xuất hiện đầu tiên và có liên quan trực tiếp tới việc sản xuất và trao đổi hàng hóa

Mục đích chính của kinh doanh – với tư cách là một nghề (danh từ) hay một hoạt động (động từ) – đều là đạt được, đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh Vì vậy, có thể định nghĩa vắn tắt kinh doanh từ đặc điểm bản chất của nó như sau: kinh doanh là kiếm lợi (hay lợi nhuận, lời – lời lãi)

Sự thành đạt của kinh doanh phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ cũng

là mâu thuẫn cơ bản trong kinh doanh: quan hệ giữa chủ thể và khách thể Chủ thể kinh doanh là những người làm kinh doanh, gồm các cấp độ: cá nhân, nhóm và tổ chức, tầng lớp các nhà kinh doanh (tầng lớp doanh nhân) Khách thể kinh doanh là những khách hàng của chủ thể, bao gồm người tiêu dùng (tập thể hoặc cá nhân; trực tiếp hoặc gián tiếp) các nhà kinh doanh khác … Bản chất của mối quan hệ kinh doanh được thể hiện trong mối quan hệ trao đổi, ràng buộc lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể Người kinh doanh phải căn cứ vào nhu cầu, thị hiếu sở thích của các khách hàng mục tiêu mà anh ta nhắm vào để cung cấp cho họ một lượng hàng hóa, dịch vụ nào đó, nhằm thu một lượng tiền với một mức lợi nhuận nhất định Ngược lại, khách hàng có quyền chấp nhận hàng hóa và trả tiền hay không, qua đó thực hiện việc có bỏ phiếu hay không cho sự thành đạt của người kinh doanh Như vậy, kinh doanh không trái với phục vụ, nhưng là sự phục vụ có phần thưởng, có mục đích vì lợi Mặc dù có nhiều biến thái khác nhau trong thực tế, song nguyên tắc cơ bản của kinh doanh vẫn là đôi bên (chủ thể và khách thể hoặc nhiều chủ thể) cùng được lợi Trong các nền kinh tế thị trường thì kinh doanh cần cho cuộc sống cũng

Trang 17

như cuộc sống cần kinh doanh; kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra Vấn đề còn lại chỉ

ở chỗ kinh doanh như thế nào, nó đem lại lợi ích và giá trị cho ai? Đó chính là vấn

đề của văn hóa kinh doanh

Tóm lại, từ sự phân tích về kinh doanh trên đây, có thể rút ra một số định nghĩa về kinh doanh như sau:

+ Kinh doanh là một dạng thức của kinh tế với mục đích chính là đạt được lợi nhuận cho chủ thể

+ Kinh doanh là tất cả những hoạt động có mục tiêu cơ bản là đạt được lợi nhuận cho chủ thể

+ Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Từ những luận điểm trên dẫn đến

- Khái niệm văn hóa kinh doanh

Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ

Đối với một người làm kinh doanh hay một tổ chức kinh doanh cụ thể thì văn hóa tồn tại tiềm ẩn trong họ như một nguồn lực, hệ giá trị … mà muốn khơi dậy, phát huy được cần có thời gian, môi trường và sự tác động phù hợp Văn hóa kinh doanh của các nhà kinh doanh, doanh nghiệp … được nhận biết từ hai phương diện chính

Một là: Các nhân tố văn hóa (hệ giá trị, tâm lý dân tộc, triết lý chung mà chủ thể lựa chọn từ văn hóa dân tộc) được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng

Trang 18

có văn hóa Nói tóm lại, đây là lối kinh doanh có văn hóa, kiểu kinh doanh phù hợp với văn hóa các dân tộc

Hai là : Các giá trị, sản phẩm văn hóa như hệ giá trị, triết lý, tập tục riêng, nghệ thuật … mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong qúa trình hoạt động và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ, biểu dương đối với kiểu kinh doanh có văn hóa mà họ đang theo đuổi Nói gọn lại, đây là lối sống có văn hóa của các chủ thể kinh doanh

Hai phương diện trên cũng chính là hai thành tố (vi hệ) chính của một hệ thống văn hóa kinh doanh vốn có mối quan hệ biện chứng và hữu cơ với nhau Xét

về mặt lịch đại, thì thành tố thứ nhất có trước thành tố thứ hai, có vai trò sinh ra cái thứ hai Điều này giống như việc muốn trở thành một con người sống có văn hóa thì trước hết phải tôn trọng và hành động (tự giác hoặc tự phát) theo các chuẩn mực của văn hóa

Văn hóa kinh doanh là một bộ phận, là cái đặc thù so với văn hóa chung của dân tộc Vì vậy, không thể đồng nhất văn hóa kinh doanh với nền văn hóa dân tộc cũng như không thể không phân biệt giữa các “tiểu văn hóa” đặc thù mà các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh khác tạo ra

Văn hóa của một cá nhân, một tổ chức người cũng có cái đặc thù với những điểm riêng so với cá nhân khác, tổ chức khác trong cùng một dân tộc và đương nhiên, sự khác biệt này càng lớn nếu họ thuộc về những nền văn hóa dân tộc khác nhau

1.2 Những nhân tố trong văn hóa kinh doanh

1.2.1 Văn hóa và đạo đức của nhà kinh doanh

Kinh doanh là một nghề nghiệp phức tạp đòi hỏi chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này phải vừa có đức vừa có tài Trong đó, đức là cơ sở của tài Nói cách khác nhân cách của nhà kinh doanh đòi hỏi cả phẩm chất (đức) và năng lực (tài) ở mức trung bình trở lên Vậy đạo đức và tài năng của nhà kinh doanh là gì ?

Trang 19

Đạo đức kinh doanh là một loại hình đạo đức điều chỉnh trong lĩnh vực kinh doanh có tác động và chi phối hành vi của các chủ hoạt động kinh doanh Căn cứ vào các quan niệm chung về thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh

dự … có tính bền vững, truyền thống, mà người ta – dư luận xã hội – đánh giá hành

vi và phẩm chất của các nhà kinh doanh cụ thể Đạo đức kinh doanh tác động tới các chủ thể kinh doanh thông qua sự thôi thúc của lương tâm và sự kiểm soát, bình giá của dư luận xã hội

Trong lịch sử kinh doanh, đặc biệt là khi cơ chế thị trường còn trong trạng thái sơ khai, “hoang dã”, đã xuất hiện những nhà kinh doanh vô đạo đức, tàn bạo

mà vẫn giàu có, thành đạt với triết lý kết quả sẽ biện hộ cho phương tiện, mọi cái đều trở thành tốt nếu anh trở nên giàu có … Ngày nay, kinh doanh chỉ có thể phát triển bền vững nếu nó không trái với văn hóa và đạo đức dân tộc

Đạo đức kinh doanh đòi hỏi việc kinh doanh phải thực hiện đúng đạo lý dân tộc và phù hợp với các quy chuẩn về cái thiện và cái tốt chung của nhân loại Sở dĩ nghề kinh doanh cần coi trọng tiêu chuẩn đạo đức vì sản phẩm và dịch vụ mà nhà kinh doanh bán ra thị trường liên quan trực tiếp tới sức khỏe và đời sống của rất nhiều người, đặc biệt là trong các ngành kinh doanh dược phẩm, thực phẩm … Khách hàng thường không thể tự kiểm tra mọi thông tin về chất lượng, tính năng, tác dụng của sản phẩm mà nhà kinh doanh đã công bố, quảng cáo; tức là khách hàng thường phải tin vào tính đúng đắn của nhà kinh doanh Nhưng nếu những thông tin này thiếu trung thực hoặc bị cắt xén, cố ý gian dối để vụ lợi cá nhân, thì hậu quả mà nhà kinh doanh gây ra cho khách hàng và xã hội thường rất tai hại và lâu dài

- Một số tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đối với người làm nghề kinh doanh :

+ Tính trung thực: Thể hiện trong sự nhất quán giữa nói và làm, danh và thực Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời, không quảng cáo sai

sự thật Coi trọng sự công bằng, chính đáng và đạo lý trong kinh doanh

Trang 20

+ Tôn trọng con người: Coi trọng những nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng, tôn trọng phẩm giá và tiềm năng phát triển của nhân viên Coi trọng chữ tín trong giao tiếp, quan hệ và hoạt động kinh doanh

+ Vươn tới sự hoàn hảo: Không ngừng tu dưỡng bản thân, luôn có nỗ lực tự vượt lên mình, không thỏa mãn với những gì đã đạt được Có hoài bão, lý tưởng nghề nghiệp và quyết tâm phấn đấu vươn lên để thành đạt bằng kinh doanh

+ Đương đầu với thử thách: Không ngại và quyết tâm vượt qua những khó khăn, gian khổ mà nghề kinh doanh thường gặp phải

+ Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội: Hiệu quả kinh tế - xã hội là thước đo sự thành công, thành đạt trong kinh doanh Muốn phát triển thì nhà kinh doanh phải không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu suất trong hoạt động kinh doanh của họ đồng thời đóng góp xứng đáng cho xã hội

Tài năng của nhà kinh doanh: Tài năng của nhà kinh doanh được chứng nghiệm qua kết quả và hiệu quả sau một số năm làm kinh doanh của họ Một cách tương đối, nó bao gồm các năng lực sau đây:

+ Hiểu biết về thị trường: bao gồm hiểu biết về thị trường ngành hàng, khách hàng mục tiêu, các đối thủ cạnh tranh và yếu tố khác ảnh hưởng tới việc kinh doanh

+ Hiểu biết về nghề kinh doanh: Những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh như công nghệ, quản trị, marketing, chất lượng sản phẩm, tài chính – kế toán …

+ Hiểu biết về con người, và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ: Đó là năng lực giao tiếp, nuôi dưỡng và phát triển các mối quan hệ phục vụ cho công việc kinh doanh như quan hệ với khách hàng, đối tác, chính quyền, ngân hàng, cộng đồng …

+ Nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan

- Phong cách của nhà kinh doanh

Trang 21

Phong cách của nhà kinh doanh là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn ngữ, cách cư xử, hành động của anh ta Phong cách của nhà kinh doanh thường được đồng nhất với phong cách hay lối kinh doanh của chủ thể, vì nhà kinh doanh thường dành phần lớn thời gian, cuộc sống của họ cho công việc Phong cách của một nhà kinh doanh biểu hiện rõ nét nhất ở lối ứng xử và hoạt động nghiệp vụ của

họ

Các nhà kinh doanh có văn hóa đều biết rằng không thể tùy tiện trong việc

ăn, nói, mặc, đi lại, quan hệ … mà cần có hành vi, hoạt động theo tiêu chuẩn phù hợp với văn hóa

Tóm lại, vì phong cách là một chỉnh thể bao gồm phong cách tư duy (suy nghĩ), phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt nên muốn có một phong cách văn hóa tốt, nhà kinh doanh cần chú ý học tập, rèn luyện tất cả các mặt trên

1.2.2 Văn hóa trong quản trị doanh nghiệp

Các nhân tố văn hóa có mặt trong tất cả mọi công việc quản trị doanh nghiệp, nhưng tựu trung ở ba vấn đề chính:

1 Môi trường văn hóa của doanh nghiệp

2 Quản trị bằng văn hóa doanh nghiệp

3 Văn hóa của người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp

Vấn đề thứ 3 chúng ta đã xem xét ở phần trên, sau đây chỉ tập trung phân tích vấn đề thứ nhất và thứ hai

- Môi trường nhân văn của doanh nghiệp

Cần phân biệt môi trường nhân văn – môi trường văn hóa – của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp đó

Thứ nhất, đó là sự khác biệt giữa các nhân tố bên trong với các yếu tố bên ngoài (còn gọi là môi trường bên trong và môi trường bên ngoài) Môi trường nhân

Trang 22

văn của doanh nghiệp là mối quan hệ giữa người – người trong doanh nghiệp tạo ra;

nó thuộc về môi trường bên trong của tổ chức doanh nghiệp Đương nhiên, giữa yếu

tố bên trong và bên ngoài của sự vật (doanh nghiệp, công ty) có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó vai trò quyết định sự phát triển của sự vật – nguồn nội lực của nó thuộc về yếu tố bên trong

Thứ hai, đó là sự khác biệt giữa cái ổn định, lâu bền với cái thường xuyên biến đổi Văn hóa, như ta đã biết, có tính ổn định, bảo thủ, rất ít biến đổi và có khả năng di truyền Trái lại, môi trường kinh doanh với các yếu tố của nó như chính trị, luật pháp, tiền tệ, thị trường lao động … lại thường xuyên biến đổi Mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh của nó là mối quan hệ giữa “dĩ bất biến ứng vạn biến” Môi trường nhân văn được quy định bởi một hệ thống các giá trị của doanh nghiệp,

nó có tính bảo tồn, duy trì bản sắc của doanh nghiệp trong môi trường đầy biến động và thay đổi – môi trường kinh doanh Văn hóa kinh doanh giữa các doanh nghiệp có sự khác nhau về sắc thái, tính chất và độ mạnh yếu của nó

- Văn hóa doanh nghiệp và công tác quản trị

+ Văn hóa doanh nghiệp (văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó

Nói khác đi, văn hóa doanh nghiệp thực chất là văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp đó Trong một số trường hợp, có thể đồng nhất môi trường văn hóa doanh nghiệp của nó Nói một cách chính xác thì môi trường nhân văn là một bộ phận của văn hóa doanh nghiệp, là cái bề nổi của văn hóa doanh nghiệp (vì nó thể hiện trong quan hệ và hành vi giữa các thành viên) Văn hóa doanh nghiệp là một khái niệm rộng hơn: ngoài bộ phận môi trường văn hóa doanh nghiệp (khác với môi trường văn hóa chung của dân tộc, quốc gia) nó còn bao gồm sự thể hiện cái bản sắc của doanh nghiệp – các nhân tố văn hóa của nó – ra bên ngoài doanh nghiệp, trong

Trang 23

sản xuất kinh doanh Môi trường nhân văn là hành vi, cách ứng xử còn văn hóa doanh nghiệp đặt trọng tâm vào hệ thống các giá trị của nó

Tóm lại: Văn hóa doanh nghiệp = môi trường văn hóa của doanh nghiệp + Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp

+ Các nhân tố văn hóa trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

+ Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp là nền văn hóa đặc thù của doanh nghiệp, là cái phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; là một “tiểu văn hóa” và cái bộ phận nếu so với nền văn hóa của một dân tộc hay quốc gia

Mặc dù chỉ là một “tiểu văn hóa” thuộc loại hình văn hóa tổ chức cộng đồng nhưng văn hóa doanh nghiệp vẫn là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố có quan

hệ hữu cơ với nhau:

1- Hành vi ứng xử, phong cách và lối hành động (chung) của doanh nghiệp 2- Các hoạt động sinh hoạt văn hóa nghệ thuật như ca nhạc, văn chương … của doanh nghiệp

3- Phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý chung của doanh nghiệp

4- Các truyền thuyết, huyền thoại hoặc tín ngưỡng chung của doanh nghiệp

5- Các triết lý, hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp

6- Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp

Nói cách khác, văn hóa doanh nghiệp chính là lối ứng xử, lối sống và hoạt động, lối suy nghĩ và bảng (hệ thống) các giá trị của doanh nghiệp Trong các yếu tố trên, thì các triết lý và bảng giá trị của doanh nghiệp có tầm quan trọng nhất Một bảng giá trị - hệ thống các giá trị - doanh nghiệp bao gồm :

Trang 24

Chân : Quan niệm về cái đúng, cái cần phải làm, cần noi theo đồng thời phân biệt cái sai, cái không được phép làm, hành vi cần lên án, loại bỏ …

Thiện : Quan niệm về cái tốt, thiện những chuẩn mực đạo đức, quy phạm hướng dẫn cho những hành vi, hành động phù hợp Đồng thời, nó nhận diện được cái ác, cái xấu, trái với lương tâm của doanh nghiệp; cái cần bị lên án, loại bỏ, phòng tránh

Mỹ : Quan niệm về cái đẹp, sự hoàn thiện, cái cao cả, anh hùng … mà mọi thành viên của doanh nghiệp cần vươn tới, duy trì và bảo vệ

1.2.3 Văn hóa trong sản xuất và dịch vụ

Nhân tố văn hóa tham gia (với mức độ nhiều ít khác nhau) vào các quá trình

và công việc trong sản xuất, kinh doanh cụ thể

- Văn hóa với mục đích và mục tiêu của các vụ kinh doanh

Tính chất của kinh doanh khác với các hoạt động kinh tế công ích hoặc hoạt động từ thiện Người ta kinh doanh để thu được lợi, để trở thành giàu có, song sự giàu có lại vì những mục đích, lý tưởng khác nhau Không phải ai làm kinh doanh đều có những mục tiêu phù hợp với nhân văn, song chính văn hóa có thể đem lại cho kinh doanh một sứ mạng cao cả, hòa hợp cái lợi với cái đúng, cái thiện, cái đẹp

Đó là sứ mệnh phát triển con người, đem lại hạnh phúc cho nhiều người, đóng góp vào lợi ích của cộng đồng, sự phồn vinh của quốc gia dân tộc … Những mục đích, mục tiêu cao cả của kinh doanh, đến lượt nó, sẽ khiến cho các chủ thể hăng say lao động, không ngại gian khổ, thậm chí có thể hy sinh lợi ích riêng của họ vì sự nghiệp chung Đó chính là lúc sức mạnh của bản sắc văn hóa dân tộc được phát huy đầy đủ trong kinh doanh

- Nhân tố văn hóa trong phương thức sản xuất kinh doanh

Nếu nhân tố văn hóa được phát huy đầy đủ trong quá trình sản xuất kinh doanh thì trước tiên, nó giúp chủ thể loại bỏ những kiểu làm ăn vô văn hóa sẵn sàng dùng bất kỳ thủ đoạn nào nếu có lợi như sản xuất hàng giả, cân đong gian dối, bán

Trang 25

hàng kém phẩm chất và dùng những biện pháp bất lương khác … Kinh doanh phi văn hóa có thể là cách thức làm giàu nhanh chóng song sẽ gây nhiều tai họa cho cộng đồng và nhìn chung, theo luật nhân quả - sớm muộn chủ thể của nó sẽ bị trả giá

Kinh doanh theo kiểu văn hóa buộc các chủ thể của nó phải có nhiều kiến thức văn hóa và văn minh kinh doanh để khai thác những nhân tố văn hóa tiềm tàng trong nhân sự, trong tư liệu sản xuất như : Tạo ra môi trường nhân văn trong doanh nghiệp, xây dựng mối quan hệ cộng đồng lợi ích giữa nhà kinh doanh với các khách hàng, văn minh hóa tư liệu và môi trường sản xuất bằng cách không ngừng đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hóa và không làm tổn hại tới môi trường sinh thái Kiểu kinh doanh có văn hóa đòi hỏi các chủ thể của nó phải có nhiều trí tuệ, phải cống hiến nhiều thời gian, sức lực cho công việc nhưng khi đã đạt tới thắng lợi thì

đó là thắng lợi có tính lâu bền Kinh doanh có văn hóa là phương thức kinh doanh văn minh - hiện đại vừa coi trọng hiệu quả vừa coi trọng chữ tín và danh dự của chủ thể

Kinh doanh có văn hóa dựa trên tư tưởng có tính nguyên tắc là coi con người

là nguồn lực quan trọng, to lớn nhất của sự phát triển, tôn trọng khách hàng và sẵn sàng phục vụ khách hàng với tinh thần trách nhiệm và kỹ năng cao nhất; nó nhận thức được rằng lợi nhuận trong kinh doanh là phần thưởng mà khách hàng, xã hội đền đáp lại sự phục vụ của nhà kinh doanh và doanh nghiệp Nói cách khác, kinh doanh có văn hóa là kiểu kinh doanh mà chủ thể và khách thể của nó đều có lợi

- Nhân tố văn hóa có thể gia tăng giá trị trong sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ

Chúng ta đã biết rằng lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa tạo nên giá trị của hàng hóa đó Nhân tố văn hóa cũng góp phần gia tăng giá trị hàng hóa nếu chúng ta biết vận dụng nó vào quá trình sản xuất, như dùng gam màu nâu, hoa văn dân tộc trong thiết kế mốt ở Việt Nam Mặt khác cần khai thác, phát huy các sản phẩm và dịch vụ đó một cách có văn hóa

Trang 26

- Phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc sẽ giúp các nhà kinh doanh tạo ra công nghệ, cách thức sản xuất và kinh doanh phù hợp và có hiệu quả cao

Hiểu được bản sắc văn hóa là hiểu được cái “hồn dân tộc” cũng là bản chất tâm lý của cộng đồng khách hàng để từ đó tạo ra các kỹ thuật và phương pháp kinh doanh phù hợp nhất

- Đưa văn hóa vào sản xuất kinh doanh còn đòi hỏi sự phân chia lợi ích và

sử dụng lợi nhuận thu được trong kinh doanh công bằng, theo tinh thần nhân bản

Sự phân chia lợi ích công bằng chủ yếu thể hiện trong chế độ lương bổng cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp theo nguyên tắc làm theo kết quả (năng suất, chất lượng) lao động Văn hóa doanh nghiệp có thể phát huy tác dụng trong sản xuất khi mọi thành viên của nó cùng hoạt động theo tinh thần “đồng cam, cộng khổ”, “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” Nếu chế độ phân phối thu nhập quá bất công (ví dụ, người quản lý được hưởng nhiều gấp hàng chục lần so với nhân viên) thì môi trường nhân văn của doanh nghiệp sẽ bị suy thoái, và sẽ không thể phát huy được động lực văn hóa trong kinh doanh Mặt khác, kinh doanh có văn hóa cũng đòi hỏi cần trích ra một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý để đóng góp cho cộng đồng

và xã hội như tài trợ cho văn hóa nghệ thuật, cho các hoạt động giáo dục, y tế … nhằm phát triển văn hóa dân tộc

1.3 Vai trò của văn hóa kinh doanh ở nước ta hiện nay

1.3.1 Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Nếu như trước đổi mới, chúng ta chỉ thừa nhận một chế độ sở hữu duy nhất

là chế độ công hữu (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) thì sau Đại hội 6 (1986), sở hữu tư nhân đã được thừa nhận Cơ cấu kinh tế nước ta, cũng từ đơn thể chuyển sang đa thể Hiện nay, cả nước có 5 thành phần kinh tế chính : kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư bản Nhà nước Trong GDP, xu hướng chung là

Trang 27

giảm tỷ trọng kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tăng tỉ trọng khu vực kinh tế tư nhân cùng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực kinh

tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, từ chỗ hầu như chưa có ý nghĩa gì những năm 1990, nay đã vươn lên chiếm tỉ lệ tương ứng là 8,9% và 15,9% Đồng thời, tỷ trọng kinh tế Nhà nước đã giảm từ 40,2% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005; các tỉ lệ tương ứng trong kinh tế cá thể là 35,9% và 30% Xu thế này chắc chắn sẽ còn tiếp tục duy trì trong thời gian tới, do các doanh nghiệp tư nhân ra đời ngày một nhiều kể từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2003 (trong 5 năm

đã gấp 2,6 lần về số doanh nghiệp và trên 6 lần về số vốn đăng ký so với 10 năm trước đó) Quá trình cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước sẽ được đẩy mạnh; ngoài ra, do năng lực của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được gia tăng cũng hứa hẹn tạo thành một làn song mới cả về số vốn đăng kí mới, bổ sung vốn và số vốn thực hiện, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO

- Từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường

Kể từ sau đại hội 6 (1986), thể chế kinh tế thị trường đã từng bước được hình thành ở nước ta Cương lĩnh của Đảng trong Đại hội 7 (1991) đã xác định nền kinh

tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước” Đến đại hội 9 (2001), định hướng này tiếp tục được xác định một cách cụ thể hơn, Đại hội ghi rõ :

+ Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường,

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt : sở hữu, quản

lý và phân phối

Trang 28

+ Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế Theo nghị quyết Đại hội 9, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập tích cực vào kinh tế khu vực và thế giới

+ Về cơ cấu ngành kinh tế: cơ cấu ngành ở nước ta đang được xây dựng theo hướng đa dạng hóa các loại hình ngành nghề : nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ; đồng thời giảm dần tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng của các ngành còn lại, nhất là công nghiệp và dịch vụ

+ Về cơ cấu lao động : xu hướng chung là giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỉ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ

+ Về hội nhập kinh tế quốc tế: Kể từ sau đổi mới, nhất là từ nửa sau thập niên 90 thế kỉ trước, Việt Nam được coi là một điểm đến hấp dẫn bởi những thành tựu đạt được, cùng với các tiềm năng to lớn về nguyên liệu, nhân công, vị trí địa lý

và tình hình an ninh – chính trị ổn định Đến nay, đã có khoảng 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đầu tư vốn vào Việt Nam Hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu đến nhiều thị trường rộng lớn, kể cả các thị trường khắc nghiệt và đòi hỏi cạnh tranh cao: EU, Nhật Bản, Mỹ …

Ra khỏi tình trạng bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, Việt Nam đã và đang tham gia hợp tác, liên kết quốc tế trên nhiều cấp độ sâu rộng trong các lĩnh vực kinh tế trọng yếu như thương mại, dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học và công nghệ, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông … Cho đến thời điểm này, nước ta đã có quan hệ thương mại với trên 220 nước và vùng lãnh thổ, ký kết

Trang 29

trên 90 hiệp định thương mại song phương (nổi bật là hiệp định thương mại với Mỹ)

và nhiều hiệp định hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học – kĩ thuật khác

1.3.2 Văn hóa kinh doanh – một nguồn lực và phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững

- Văn hóa kinh doanh là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững

Hoạt động kinh doanh được thúc đẩy bằng nhiều động cơ khác nhau, trong

đó động cơ kiếm được nhiều lợi nhuận là động cơ quan trọng nhất Tuy nhiên, sẽ chưa thật là đầy đủ nếu chúng ta khẳng định “mọi cuộc kinh doanh đều bị thúc đẩy hoặc dẫn dắt chỉ bằng mục tiêu lợi nhuận và nhà kinh doanh nào cũng chỉ hoạt động

vì sự ích kỷ và giàu có của bản thân” bởi vì những lí do sau đây:

Thứ nhất, động cơ khiến cho các nhà kinh doanh kiếm lợi không chỉ là các nhu cầu sinh lý và bản năng mà nó còn do các nhu cầu cấp cao hơn (hay có tính văn hóa hơn) đó là nhu cầu mong muốn được xã hội tôn trọng, mong muốn được tự thể hiện và sáng tạo Thực tế đã chứng minh nhiều nhà kinh doanh đã dùng tài sản của mình để đóng góp từ thiện, lập các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, các quỹ giáo dục … mà không vì mục đích quảng cáo hay phô trương

Thứ hai, lợi nhuận dù quan trọng – song không phải là vật chuẩn và vật hướng dẫn duy nhất đối với hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận ra còn có pháp luật

và văn hóa điều chỉnh

Ví dụ : kinh doanh ma túy, mại dâm, buôn lậu … thường là những dạng hoạt động kinh doanh hứa hẹn mức lợi nhuận rất cao, thậm chí là siêu lợi nhuận, nhưng phần đông các nhà kinh doanh đều không muốn tham gia vào loại thị trường đen này

Từ hai lý do trên ta thấy kinh doanh và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, kinh doanh có văn hóa là lối kinh doanh có mục đích và theo phương thức cùng đạt tới cái lợi, cái thiện và cái đẹp, và trái với nó là lối kinh

Trang 30

doanh phi văn hóa sẵn sàng chà đạp lên mọi giá trị và không từ bất cứ một thủ đoạn nào để kiếm lời

Xét từ góc độ kết quả và hiệu quả kinh doanh thì:

+ Kinh doanh phi văn hóa có thể đạt hiệu quả cao và khiến cho chủ thể kinh doanh giàu có nhanh hơn vì họ tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật và vô hiệu hóa

sự điều tiết của các chuẩn mực văn hóa Họ gian dối, thất tín, gây ô nhiễm, dùng mọi phương cách để kiếm lợi … Những kiểu kinh doanh này sẽ không lâu bền vì đó

là lối kinh doanh chụp giật, ăn xổi nên nếu bị phát hiện sẽ bị khách hàng tẩy chay, pháp luật trừng trị và cả xã hội lên án

+ Còn kiểu kinh doanh có văn hóa không thể giúp chủ thể kinh doanh đạt được hiệu quả ngay bởi vì vó chú trọng tới việc đầu tư lâu dài, việc giữ gìn chữ tín Tuy nhiên, khi đã qua được giai đoạn khó khăn thử thách ban đầu thì các nguồn đầu

tư lâu dài như nhân lực, công nghệ, tài chính, môi trường và chữ tín … phát huy tác dụng và chủ thể kinh doanh sẽ có những bước phát triển lâu dài và bền vững

Ngày nay, khi thông tin trên thị trường được cập nhật nhanh chóng, chính xác và đầy đủ, khách hàng sẽ được cung cấp kịp thời và các dữ liệu xác thực về các nhà kinh doanh, về doanh nghiệp và hàng hóa của họ thì lối kinh doanh phi văn hóa

sẽ là phương thức kinh doanh duy nhất của tương lai

Tóm lại, chỉ có kiểu kinh doanh có văn hóa mới có thể kết hợp được hiệu quả cao và phát triển bền vững của chủ thể kinh doanh

- Văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh

Văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh được thể hiện thông qua hai nội dung chính sau :

+ Thứ nhất, trong tổ chức và quản lý kinh doanh

Vai trò của văn hóa thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người và người trong tổ chức; về việc biết tuân theo quy tắc và quy luật của thị trường; ở việc phát triển và

Trang 31

bảo hộ những hàng hóa có bản sắc văn hóa dân tộc Ngoài ra văn hóa kinh doanh còn được thể hiện thông qua việc hướng dẫn và định hướng tiêu dùng; thông qua chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn một phong cách có văn hóa trong kinh doanh … và khi tất cả những yếu tố văn hóa đó kết tinh vào hoạt động kinh doanh tạo thành phương thức kinh doanh có văn hóa – thì đây là một nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh doanh Bởi vì nó sẽ giúp chủ thể tạo phong cách kinh doanh trung thực và ngay thẳng, đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống, không bao giờ vì lợi ích riêng của một

cá nhân hay một nhóm kinh doanh nào mà hy sinh lợi ích của cả cộng đồng quốc gia và xã hội; văn hóa kinh doanh sẽ tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà sản xuất

và người tiêu dùng theo nguyên tắc các bên cùng có lợi; nó kích thích sự cạnh tranh lành mạnh nhằm tiến tới phát triển mạnh mẽ hơn, chứ không phải là để diệt trừ nhau; nguồn lực này sẽ không làm tổn hại đến các truyền thống và tập quán tốt đẹp của người dân Ngoài ra, việc sử dụng các nhân tố văn hóa có thể gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ, ví dụ như sử dụng gam màu nâu và các họa tiết hoa văn dân tộc trong thiết kế thời trang của Việt Nam

Và đặc biệt nếu không có môi trường văn hóa trong sản xuất – kinh doanh tức là không sử dụng các giá trị vật chất và giá trị tinh thần vào hoạt động kinh doanh thì không thể sử dụng được các tri thức, kiến thức về kinh doanh và đương nhiên không thể tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, không thể tạo ra hiệu quả và không thể phát triển sản xuất – kinh doanh được

+ Thứ hai, văn hóa trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh

Văn hóa kinh doanh hướng dẫn toàn bộ hoạt động giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh Đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mua và bán, khi giao tiếp với khách hàng, chúng ta có những lời chào và lời nói tế nhị nhã nhặn và lịch sự, có những dịch vụ hậu mãi thích hợp thì sẽ tạo được mối quan hệ lâu dài với khách hàng và lúc này văn hóa kinh doanh sẽ thực sự trở thành một nguồn động lực vô cùng quan trọng đối với chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động Ngoài ra, trong thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủ cạnh tranh mà có văn hóa thì chúng ta sẽ tạo ra được

Trang 32

một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo ra các cơ hội cho sự tồn tại và phát triển lâu dài

Hơn thế nữa, văn hóa trong giao lưu giao tiếp kinh doanh còn được thể hiện thông qua đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại, thông qua việc soạn thảo các thông điệp về nội dung và hình thức quảng cáo … Tất cả các lĩnh vực đó, khi được thăng hóa lên bởi văn hóa thì sẽ tạo ra nguồn lực tiềm tàng cho chủ thể kinh doanh

+ Thứ ba, văn hóa trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh

Trước hết, trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh là sự gánh vác tự nguyện những ngĩa vụ, trách nhiệm vượt lên trên những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý và thỏa mãn được những mong muốn của xã hội

Kinh doanh không chỉ chú trọng đến lợi nhuận đơn thuần mà còn phải quan tâm thích đáng đến trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh Các phúc lợi xã hội mà các chủ thể được hưởng đã quy định họ phải có nghĩa vụ đóng góp thỏa đáng cho xã hội Việc đóng góp cho ngân sách nhà nước, tham gia hoạt động xã hội

từ thiện, tôn trọng những quy phạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh, tôn trọng các giá trị truyền thống là thái độ văn hóa tối thiểu của các chủ thể Mặt khác trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh còn là việc chi phối từ khâu xây dựng kế hoạch, hình thành chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển đến việc tổ chức kinh doanh và phân phối lợi nhuận, tham gia các hoạt động xã hội

từ thiện, bảo vệ môi trường sinh thái Đó chính là tính nhân văn của hoạt động kinh doanh

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN

XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN NAM HÀ TĨNH 2.1 Tổng quan về công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh

2.1.1 Cơ cấu tổ chức và môi trường sản xuất kinh doanh của công ty

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước là công ty xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh thành lập

từ năm 1993, chuyên hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu

Tên đơn vị: công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh

Tên đơn vị (Tiếng Anh): South Ha Tinh sea product import and export company

Tên viết tắt: SHATICO

Qua 21 năm phát triển, với tiêu chí không ngừng nâng cao chất lượng, tập trung phát triển đa dạng hóa sản phẩm nên các sản phẩm mang thương hiệu Shatico

đã có mặt ở tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, EU, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc với sản lượng cung cấp hàng năm bình quân khoảng từ 2000 tấn đến 3000 tấn/ năm

Trong nhiều năm qua, Công ty đã phát triển và không ngừng lớn mạnh, đạt được những thành tựu lớn trong kinh doanh và được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương Lao động Hạng Ba

Song trong tương lai, để mở rộng quy mô sản xuất chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, theo xu hướng phát triển bền vững Vấn đề đặt ra trước mắt và lâu dài đó là luôn chú trọng đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa trong sản xuất

và phương thức kinh doanh có văn hóa trong kinh tế học văn hóa gọi là văn hóa kinh doanh, để gìn giữ và nâng tầm hình ảnh và thương hiệu công ty hưởng ứng tích

Trang 34

cực phong trào “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” Đối với thị trường trong nước phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước, đảm bảo chất lượng ISO chế biến hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế Đó là nhiệm vụ quan trọng mang tính chiến lược của công ty Shatico mà hội đồng quản trị và ban giám đốc cần phải quan tâm

- Môi trường tự nhiên của công ty

Kỳ Anh – Hà Tĩnh có địa thế thuận lợi, lưng tựa vào Núi, mặt hướng ra Biển Đông, phía Nam và Tây của huyện giáp tỉnh Quảng Bình, phía Bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía đông giáp biển Đông Kỳ Anh cách thành phố Hà Tĩnh và mỏ sắt Thạch Khê 60km về phía Bắc, có cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương có thể tiếp nhận tàu có trọng tải từ 5 đến 15 vạn tấn Khu Kinh Tế Vũng Áng nằm trên trục đường giao thông Bắc Nam, hành lang kinh tế Đông Tây rất thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là xuất nhập khẩu

Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu Vũng Áng nằm trong Khu công nghiệp cảng biển Vũng Áng thuộc xã Kỳ Trinh huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh với địa giới hành chính được xác định như sau :

Phía Tây giáp với Nhà máy chế biến Dứa Vũng Áng;

Phía Bắc giáp đường nội bộ khu công nghiệp;

Phía Đông giáp khu đất trồng;

Phía Nam giáp đường nội bộ khu công nghiệp

- Tổng số cán bộ, công nhân viên của công ty là 435 người, trong đó số lượng nữ chiếm 65,5% số lượng nam chiếm 34,5% Họ đều là lực lượng cán bộ công nhân trẻ, tay nghề cao được đào tạo kỹ lưỡng; có sức khỏe đảm bảo; phẩm chất đạo đức tốt; lý lịch rõ ràng; trình độ học vấn tối thiểu là tốt nghiệp hết phổ thông trung học Cụ thể :

Trang 35

+ Số lượng cán bộ tốt nghiệp trên đại học, học vị Thạc sỹ quản trị kinh doanh : 5 người, Thạc Sỹ tốt nghiệp nghành chăn nuôi chế biến thủy sản : 7 người Thạc

Sỹ kế toán tài chính : 2 người chiếm 0,5 %

+ Số lượng cán bộ tốt nghiệp Đại Học các ngành nghề như : nông nghiệp, bách khoa, kế toán tài chính, quản trị kinh doanh, chăn nuôi chế biến thực phẩm hóa chất đông lạnh, y tế dự phòng là 88 cán bộ, chiếm 20%

+ Số lượng công nhân kỹ thuật tốt nghiệp trình độ trung cấp, cao đẳng nghề chiếm tỉ lệ 40%

+ Số còn lại là tốt nghiệp hết phổ thông trung học , nhưng được đào tạo tay nghề chuyên môn tại chỗ

Nhìn chung đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của công ty luôn được Ban Giám Đốc, Hội Đồng Quản Trị quan tâm tuyển dụng yêu cầu về năng lực chuyên môn phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty cần thiết đào tạo tại chỗ theo tiêu chuẩn quy trình sản xuất và kinh nghiệm kinh doanh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đó cũng là tôn chỉ của công ty đặt ra

- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và vận hành của công ty

Trang 36

Hình 2.1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và vận hành của công ty

(Nguồn: Phòng hành chính – tổng hợp công ty cổ phần xuất nhập khẩu

thủy sản Nam Hà Tĩnh)

Trang 37

- Chức năng nhiệm vụ

+ Hội đồng quản trị công ty bao gồm 11 cổ đông, bầu ra chủ tịch hội đồng quản trị và 2 phó chủ tịch hội đồng quản trị vốn điều động 1500 ngàn tỉ VNĐ Có nhiệm vụ cung cấp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, phê duyệt các dự án, chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh, quyết định nhân sự, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và cơ chế vận hành trong toàn bộ công ty phân công cụ thể chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc phụ trách điều hành chung, cụ thể là ông: Trần Đình Nam 1 phó chủ tịch hội đồng quản trị, kiêm phó giám đốc công ty phụ trách kinh doanh 1 phó chủ tịch phụ trách kiểm tra giám sát hoạt động giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

+ Ban giám đốc công ty gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc, giám đốc phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về công tác điều hành sản xuất kinh doanh đảm bảo sự tồn tại và phát triển công ty 2 phó giám đốc giúp việc cho giám đốc, cụ thể : 1 phó giám đốc phụ trách kinh doanh , 1 phó giám đốc phụ trách tổ chức sản xuất

+ Các đơn vị chức năng được cơ cấu 8 đơn vị do 2 phó giám đốc trực tiếp quản lý

Phó giám đốc phụ trách kinh doanh trực tiếp quản lý 4 phòng :

 Phòng kế toán tài vụ có 2 bộ phận, bộ phận chịu trách nhiệm thu chi ngân sách như quỹ lương, các chế độ bảo hiểm, chế độ thưởng phạt của công ty Bộ phận thứ 2 chịu trách nhiệm hạch toán kinh doanh đầu vào đầu ra sản phẩm hàng hóa, lợi nhuận sản xuất kinh doanh của công ty

 Phòng hành chính tổng hợp gồm 2 bộ phận Thứ nhất là quản lý nhân sự,

bộ phận thứ 2 thực hiện các công việc hành chính như lễ tân, văn thư lưu trữ, dịch

vụ tạp vụ công tác bảo vệ

Trang 38

 Phòng cung ứng vật tư gồm 2 bộ phận, bộ phận thứ nhất đầu tư mua sắm thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng Bộ phận thứ 2 thu mua nguyên liệu như tôm, cá, mực

 Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu gồm 2 bộ phận : bộ phận thứ nhất có nhiệm vụ nghiên cứu phát triển thị trường tiêu thụ, tiêu thụ sản phẩm Bộ phận thứ 2

có trách nhiệm lưu thông phân phối sản phẩm cung cấp các thị trường

Phó giám đốc thứ 2 trực tiếp phụ trách tổ chức sản xuất được cơ cấu 1 phòng

và 3 phân xưởng

 Phòng thông tin và kế hoạch gồm 2 bộ phận : bộ phận thứ nhấtlà xấy dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty, bộ phận thứ 2 phụ trách thông tin truyền thông

 Phân xưởng cơ điện được chia thành 2 bộ phận, bộ phận vận hành điện nước, xử lý chất thải

 Phân xưởng chế biến sản phẩm gồm 3 bộ phận : bộ phận sơ chế sản phẩm, bộ phận tinh chế, bộ phận đóng gói đông lạnh

 Phân xưởng bảo quản gồm 2 bộ phận : bộ phận bảo quản nguyên liệu thu mua và bộ phận bảo quản thành phẩm hàng hóa

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty vận hành theo mô hình trực tuyến, tham mưu, cơ chế vận hành theo chế độ thủ trưởng cụ thể là bộ phận tham mưu là thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc và phụ trách 8 đơn vị chức năng Hiệu lực quản lý tập trung quyền lực và quyền hạn cho chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc công ty, xây dựng phương án chịu trách nhiệm trước 11 cổ đông của hội đồng quản trị công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh hiện nay

2.1.2 Cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất kinh doanh của công ty

- Nhà máy thủy sản của Công ty được đầu tư trên diện tích 3,7 ha tại khu công nghiệp Vũng Áng được chia thành 3 khu vực :

Trang 39

+ Khu vực hành chính có diện tích 900m2 xây dựng tòa nhà 3 tầng diện tích mặt bằng 400m2 Tầng 1 bao gồm hội trường tổ chức hội họp, nơi làm việc của phòng văn thư lưu trữ, phòng hành chính quản trị Tầng 2 gồm các phòng làm việc của ban giám đốc, hội đồng quản trị, phòng nghiên cứu khoa học, chất lượng sản phẩm, phòng truyền thông và kế hoạch Tầng 3 là khu vực làm việc của các phòng

kế toán, tài vụ, nhà cung ứng vật tư, phòng kinh doanh xuất nhập khẩu, phòng tổ chức quản lý nguồn nhân lực, phòng nghiên cứu ứng dụng công nghệ và kỹ thuật

+ Khu vực an sinh xã hội có diện tích 700m2 gồm tòa nhà 2 tầng có diện tích mặt bằng 400m2 Tầng 1 là căng tin công ty có nhiệm vụ phục vụ ăn uống, phục vụ

ca kíp, ăn trưa, ăn bồi dưỡng và nghỉ ngơi của cán bộ công nhân viên công ty Tầng

2 bao gồm phòng y tế, phòng bảo hộ lao động, phòng dịch vụ vệ sinh môi trường, phòng làm việc của tổ bảo vệ công ty, phòng bảo dưỡng cơ sở hạ tầng và công cụ lao động

+ Khu vực sản xuất chế biến nằm trên diện tích 2,1ha Cũng được chia thành

3 khu vực : khu vực 1 là phân xưởng điện cơ, nhà máy đông lạnh; khu vực 2 là phân xưởng sản xuất chế biến thủy sản; khu vực 3 là phân xưởng bảo quản sản phẩm hàng hóa và nhà máy xử lý chất thải Các phân xưởng này đều được quy hoạch xây dựng kiến trúc đảm bảo trên chuỗi an toàn vệ sinh, cụ thể nhà xây cao, thoáng mát,

có hệ thống quạt gió, quạt điện, cửa thoát hiểm, phương tiện chống cháy nổ , hệ thống cấp nước và thoát nước kiên cố, đường đi lại, nền nhà được bê tông hóa, xung quanh các khu vực các phân xưởng , nhà máy trồng cây xanh bóng mát, trạm biến

áp đường dây tải điện kiên cố hiện đại

Toàn bộ cơ sở hạ tầng luôn được quan tâm bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp hoàn thiện hàng năm Công tác bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn là nhiệm vụ hàng đầu của công ty, bởi môi trường lao động thoáng mát đảm bảo sức khỏe cho công nhân cũng trở thành nhân tố khích lệ tinh thần lao động và nâng cao năng suất lao động của công nhân, mang lại hiệu quả và lợi nhuận cho công ty

Trang 40

- Phương tiện kỹ thuật và công nghệ sản xuất, mặt hàng chính của công ty

là sản xuất chế biến thủy sản xuất khẩu thị trường trong và ngoài nước, các sản phẩm luôn phải đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế Đây

là vấn đề sống còn của công ty Ngoài công tác tuyển dụng và đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có trình độ và năng lực ứng dụng và vận hành máy móc kỹ thuật công nghệ tiên tiến, đảm bảo và nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã bao bì đóng gói Vấn đề đầu tư mua sắm máy móc, công nghệ sản xuất chế biến sản phẩm hiện đại mang tính hội nhập nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng snar phẩm là vấn đề quan trọng mang tính cấp thiết của công ty, cụ thể hiện nay ban giám đốc, hội đồng quản trị công ty đã đầu tư mua sắmtrang thiết bị của các nhà máy các phân xưởng bao gồm :

Các trang thiết bị của nhà máy :

+ Tủ đông tiếp xúc sử dụng bơm dịch cưỡng bức (1000 và 750)KG/mẻ + Tủ đông gió 250kg/H

+ Dây chuyền IQF siêu tốc 250kg/H

+ Máy làm lạnh nước chế biến

+ Máy đá váy

+ Thiết bị điều hòa trung tâm

+ Kho tiền đông: 01 kho (36m3/kho)

+ Kho bảo quản sản phẩm -25 độC : gồm 2 kho :

+ Hệ thống máy nén trung tâm

+ Hệ thống các thiết bị phụ trợ :

 Các bơm lưu chuyển dịch ammoniac (NH3)

 Bơm nước làm mát máy nén

 Bơm nước xả tuyết cho tủ đông gió và kho lạnh

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Minh Cương (1996), Các học thuyết quản lý, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1996
3. Đỗ Minh Cương – Phương Kỳ Sơn (1995), Vai trò của con người trong quản lý doanh nghiệp, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của con người trong quản lý doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Minh Cương – Phương Kỳ Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1995
4. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Thị Doan – Đỗ Minh Cương (1997), Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Doan – Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Phạm Văn Đồng (1996), Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Đáng – Vũ Xuân Hưng (1996), Văn hóa nguyên lý quản trị, Nxb Thống Kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên lý quản trị
Tác giả: Nguyễn Văn Đáng – Vũ Xuân Hưng
Nhà XB: Nxb Thống Kê Hà Nội
Năm: 1996
8. Ngô Đình Giao (1997), Môi trường kinh doanh và đặc điểm kinh doanh, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường kinh doanh và đặc điểm kinh doanh
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1997
9. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, Phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục, Phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1996
10. MatSushitaConoXuke (1989), Bản lĩnh trong kinh doanh và cuộc sống, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh trong kinh doanh và cuộc sống
Tác giả: MatSushitaConoXuke
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1989
11. MatSushiConoXuke (1999), Nhân sự chìa khóa của sự thành công, Nxb Giao Thông Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân sự chìa khóa của sự thành công
Tác giả: MatSushiConoXuke
Nhà XB: Nxb Giao Thông Hà Nội
Năm: 1999
12. Dương Thị Liễu (2011), Giáo trình văn hóa kinh doanh, Nxb Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn hóa kinh doanh
Tác giả: Dương Thị Liễu
Nhà XB: Nxb Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
Năm: 2011
14. Phạm Xuân Nam (1996), Văn hóa và phát triển, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1996
15. Phạm Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội
Năm: 1998
16. Phạm Văn Nghiên (2001), Văn hóa và kinh doanh, Nxb Lao Động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và kinh doanh
Tác giả: Phạm Văn Nghiên
Nhà XB: Nxb Lao Động Hà Nội
Năm: 2001
1. Các Mác và Ph Ăng Ghen (1997) toàn tập – T7, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Khác
13. Hồ Chí Minh (1995) toàn tập T3, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Khác
17. Truyền thống và lịch sử huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh (2005) tài liệu lưu hành nội bộ Khác
18. Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc các khóa 8, 9, 10, 11 của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2012), Nxb Chính trị Quốc Gia Khác
19. Văn bản báo cáo tổng kết các năm (2012, 2013, 2014 ) của Phòng Công Thương huyện Kỳ Anh, tài liệu lưu hành nội bộ Khác
20. Văn bản báo cáo tổng kết các năm (2012, 2013, 2014) của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh, tài liệu lưu hành nội bộ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và vận hành của công ty - Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản nam hà tĩnh
Hình 2.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và vận hành của công ty (Trang 36)
Hình 2.2.2.1: Quy trình sản xuất chế biến tôm - Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản nam hà tĩnh
Hình 2.2.2.1 Quy trình sản xuất chế biến tôm (Trang 47)
Hình 2.2.2.2: Quy trình sản xuất và chế biến mực file và cắt khoanh - Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản nam hà tĩnh
Hình 2.2.2.2 Quy trình sản xuất và chế biến mực file và cắt khoanh (Trang 48)
Hình 2.2.2.3: Quy trình sản xuất và chế biến cá đông block - Tìm hiểu văn hóa kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản nam hà tĩnh
Hình 2.2.2.3 Quy trình sản xuất và chế biến cá đông block (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w