1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hóa của người việt công giáo ở miền tây nam bộ (trường hợp bến tre và sóc trăng)

217 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc nghiên cứu ựề tài này sẽ góp một phần tắch cực ựể hoạch ựịnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá của nước ta; ựồng thời phát huy vai trò chủ ựộng tham gi

Trang 1

KHOA VĂN HOÁ HỌC

NGUYỄN XUÂN DINH

ðỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

(TRƯỜNG HỢP BẾN TRE VÀ SÓC TRĂNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

TP Hồ Chí Minh, năm 2011

Trang 2

ðẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HOÁ HỌC

NGUYỄN XUÂN DINH

ðỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

(TRƯỜNG HỢP BẾN TRE VÀ SÓC TRĂNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHAN VĂN DỐP

TP Hồ Chí Minh, năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian theo học chương trình Cao học tại Trường ðại học Khoa học

xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, ñược quý Thầy Cô nhiệt tình cung cấp kiến thức chuyên ngành Văn hoá học, tôi ñã chọn ñề tài ðời sống văn hoá của người Việt Công giáo ở miền Tây Nam Bộ (trường hợp Bến Tre và Sóc Trăng) ñể làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Với tôi, ñây là một ñề tài khá mới lạ, rất ít tư liệu và khoảng cách không gian cũng là một vấn ñề ñáng ngại, nhưng tiến sĩ Phan Văn Dốp

- với tư cách là người hướng dẫn khoa học, ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn và tạo ñiều kiện cho tôi hoàn thành một cách tốt nhất ñề tài nghiên cứu mà tôi ñã chọn

Tôi xin kính gửi ñến quý Thầy Cô khoa Văn hoá học và các Thầy Cô thỉnh giảng lời cám ơn chân thành, ñặc biệt là tiến sĩ Phan Văn Dốp ñã dành thời gian và tâm trí giúp ñỡ tôi có ñủ ñiều kiện hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình trong những năm vừa qua

Do không ñược sinh trưởng ở vùng sông nước, nên những am hiểu của tôi về ñất nước và con người, ñặc biệt là ñời sống của người Việt Công giáo ở miền Tây Nam Bộ còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, tôi cũng ñã dành ra nhiều thời gian, công sức và cả tâm huyết của mình ñể thực hiện ñề tài này Dù vậy, việc thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn là ñiều không thể tránh khỏi, tôi rất mong ñược sự góp

ý tận tình của quý Thầy Cô và những nhà chuyên môn, ñể luận văn này ñược hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 7

1 Lý do chọn ñề tài 7

2 Mục ñích nghiên cứu 11

3 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề 13

- Những công trình nghiên cứu về Công giáo Việt Nam nói chung 13

- Những công trình nghiên cứu về Công giáo Tây Nam Bộ 16

- Những vấn ñề tồn tại trong nghiên cứu Công giáo ở Tây Nam Bộ và hướng nghiên cứu của luận văn 20

4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

- ðối tượng nghiên cứu 21

- Phạm vi nghiên cứu 22

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 22

- Về khoa học 22

- Về thực tiễn 23

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 23

- Phương pháp nghiên cứu 23

- Nguồn tư liệu 25

7 Bố cục của luận văn 25

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ðỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 27

1.1 Các khái niệm 27

1.1.1 Văn hoá 27

1.1.2 Văn hoá với văn minh, văn hiến, văn vật 28

1.1.3 Tiểu văn hoá 29

1.1.4 ðời sống văn hoá 29

1.1.5 Tôn giáo, Ki-tô giáo, Công giáo 30

1.1.6 Chức năng của tôn giáo 32

Trang 5

1.1.7 Nhu cầu tôn giáo 33

1.1.8 Quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá 33

1.2 Các lý thuyết giải thích 34

1.2.1 Lý thuyết loại hình văn hoá 34

1.2.2 Lý thuyết chức năng 34

1.2.3 Lý thuyết cấu trúc 35

1.3 Tổng quan về cộng ñồng Công giáo hai tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng 35

1.3.1 ðiều kiện tự nhiên - xã hội 35

1.3.2 Nguồn gốc dân cư và lịch sử cộng ñồng Công giáo 41

CHƯƠNG 2 ðỜI SỐNG VẬT CHẤT 52

2.1 Ăn uống 52

2.1.1 Ẩm thực Việt Nam nói chung 52

2.1.2 Ẩm thực Tây Nam Bộ 53

2.1.3 Ẩm thực Công giáo 62

2.2 Trang phục 67

2.2.1 Trang phục Việt Nam nói chung 67

2.2.2 Trang phục Tây Nam Bộ 69

2.2.3 Trang phục Công giáo 76

2.3 Nhà ở 80

2.3.1 ðặc ñiểm chung của ngôi nhà người Việt 80

2.3.2 Nhà ở của người Việt Tây Nam Bộ 81

2.3.3 Nhà ở của người Công giáo 86

Tiểu kết chương 2 89

CHƯƠNG 3 ðỜI SỐNG TINH THẦN 91

3.1 Nguyên tắc ñức tin 91

3.1.1 Kinh Thánh, giáo lý, giáo luật 91

3.1.2 Công ñồng Vatican II 93

3.2 Chính sách của Nhà Nước và chủ trương của Giáo hội Việt Nam 95

3.2.1 Chính sách của ðảng, Nhà Nước 95

3.2.2 Chủ trương của Giáo hội Việt Nam 97

Trang 6

3.3 Thể hiện đức tin trong thực tế 99

3.3.1 Thế giới quan 99

3.3.2 Hành đạo cộng đồn, giáo xứ 102

3.3.3 Hành đạo gia đình, cá nhân 109

3.4 Hội nhập của Cơng giáo vào dân tộc 118

3.4.1 Thờ kính tổ tiên 119

3.4.2 Lịng đạo đức bình dân 123

3.4.3 Nghệ thuật 124

3.4.4 ðồn thể xã hội 131

3.4.5 Thực hiện pháp luật, tham gia kháng chiến 132

3.4.6 ðối thoại với các tơn giáo 134

Tiểu kết chương 3 135

CHƯƠNG 4 TỔ CHỨC XÃ HỘI 138

4.1 Tổ chức giáo hội Cơng giáo Việt Nam 138

4.1.1 Hội đồng giám mục 138

4.1.2 Giáo tỉnh, giáo phận 139

4.2 Tổ chức giáo xứ 143

4.2.1 Giáo xứ 143

4.2.2 Hội đồng mục vụ giáo xứ 152

4.2.3 Các đồn thể giáo xứ 159

4.3 Vai trị của giáo xứ 162

4.3.1 Nhà thờ 163

4.3.2 Linh mục chính xứ 165

4.3.3 Các tu sĩ 167

4.3.4 Các hội đồn 169

4.3.5 Những người đồng đạo 169

Tiểu kết chương 4 171

KẾT LUẬN 173

TÀI LIỆU THAM KHẢO 178

PHỤ LỤC 191

Trang 7

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn ựề tài

Cuộc sống hàng ngày quanh ta cho thấy: Mặc dù trong thời ựại có những tiến

bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật, tôn giáo vẫn còn có sức sống, cũng như ảnh hưởng sâu rộng ựến ựời sống xã hội Nhận thức của con người về thế giới càng ngày càng duy lý trong một thời ựại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, những tưởng tôn giáo sẽ bước tới vạch chết của nó Nhưng nghịch lý thay, Ộma lựcỢ của tôn giáo vẫn

cứ bám lấy nhân loại Người ta vẫn còn tin rằng tôn giáo có khả năng ựưa con người tới cõi tâm linh an tĩnh, hướng thượng, nhàn lạcẦ

Mặc cho khoa học ựã ựưa ra ánh sáng nhiều bắ ẩn của vũ trụ, con người vẫn tin vào các sức mạnh siêu nhiên, tin vào một đấng Tối Cao cũng như tin vào thần thánh, thiên ựàng, ựịa ngụcẦ Người ta thờ phượng, dâng cúng lễ vật, cầu xin ựược ban ân phước, cũng như dành nhiều tâm huyết ựể sáng tạo nên các công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật, tô ựiểm cho các cơ sở thờ tự,Ầ Những ngày lễ của tôn giáo ựã trở thành những lễ hội cộng ựồng quan trọng ựược ựông ựảo không những tắn ựồ của tôn giáo ấy, mà cả người ngoài tôn giáo cũng tham gia Tôn giáo

ựã gắn kết những người cùng niềm tin thành một cộng ựồng khá bền vững Nhiều di sản văn hoá của nhân loại là các cơ sở tắn ngưỡng, tôn giáo

Tuy nhiên, tôn giáo cũng nhiều lần là nguyên nhân gây ra những cuộc tranh giành quyền lực, những cuộc ựụng ựộ giữa các nền văn minh [x Hungtington Samuel 2005: 28-30] đã có các cuộc chiến tranh tôn giáo lớn từng diễn ra trong lịch sử nhân loại Thêm vào ựó là trong quá trình phát triển của mình, tôn giáo thường phân chia thành nhiều trường phái, giáo phái,Ầ mà sự phân chia ựó có lúc

ựã dẫn ựến những xung ựột Những cuộc xung ựột ấy ựe doạ nền hoà bình thế giới

và ựể lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển, nhất là khi xảy ra xung ựột tôn giáo ngay trong một quốc gia

Việt Nam là quốc gia ựa dân tộc, ựa văn hoá, mà biểu hiện trong xã hội về mặt văn hoá tinh thần còn là quốc gia ựa tôn giáo đặc trưng ựó góp phần tạo nên nét ựa dạng của văn hoá cư dân, bởi có không ắt những dân tộc có một tôn giáo

Trang 8

riêng như ựạo Hinựu và Bàni ở người Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận, Hồi giáo (Islam) ở người Chăm Nam Bộ, Phật giáo Nam tông ở người Khmer, các tôn giáo ựịa phương của người Việt Nam Bộ (Cao đài, Hoà Hảo, Tứ Ân Hiếu NghĩaẦ) Mỗi tôn giáo ựể lại dấu ấn của mình trong văn hoá không chỉ là việc thực hiện ựức tin tạo ra nếp sinh hoạt mang tắnh ựặc thù mà cả trong tổ chức xã hội (Ộtổ ựìnhỢ trong Phật giáo, Ộgiáo phận - giáo xứỢ trong Công giáo, Ộyama ahỢ trong Hồi giáo,

Ộhọ ựạoỢ trong ựạo Cao đài, ), trong kiến trúc, ựiêu khắc, âm nhạc rất ựặc trưng Những ựiều ựó cho thấy tôn giáo vẫn còn là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộ phận quần chúng nhân dân (x Báo cáo chắnh trị của Ban chấp hành Trung ương khoá 6 tại đại hội ựại biểu toàn quốc lần thứ VII) [dẫn theo đặng Nghiêm Vạn 2003: 343]

Như thế, tôn giáo vẫn ựang là một ựề tài hết sức thời sự trong ựời sống chắnh trị - văn hoá - xã hội hôm nay, cả trên phạm vi thế giới lẫn ở Việt Nam Nhìn từ góc

ựộ văn hoá, mỗi tôn giáo cũng ựã góp phần tạo nên tắnh ựa dạng của nền văn hoá Việt Nam Việc tìm hiểu ựời sống văn hoá của tắn ựồ các tôn giáo nói chung và tắn

ựồ Công giáo nói riêng trong bối cảnh một ựất nước ựa dân tộc, ựa tôn giáo, ựa văn hoá sẽ làm rõ hơn tắnh ựa dạng trong sự thống nhất của nền văn hoá Việt Nam đặc trưng ựa tôn giáo lại thể hiện rất tập trung và tiêu biểu ở vùng ựất Nam Bộ Do vậy, việc nghiên cứu ựề tài này sẽ góp một phần tắch cực ựể hoạch ựịnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá của nước ta; ựồng thời phát huy vai trò chủ ựộng tham gia của người dân, ựặc biệt là người Công giáo, trong các hoạt ựộng xây dựng ựời sống văn hoá của mình tại ựịa phương

Bên cạnh ựó, vì nằm ở ngã tư ựường giao thông quốc tế [x Trần Ngọc Thêm 1996/2006: 59], Việt Nam ựã trở thành ựịa chỉ ựến của nhiều nền văn hoá, nhiều tôn giáo đây chắnh là cơ sở tạo nên lòng bao dung tôn giáo của các cộng ựồng cư dân Việt Nam Cũng chắnh vì thế mà một bộ phận lớn người Khmer ựã gia nhập Công giáo (trường hợp Sóc Trăng) Nhìn vào sử Việt, ta thấy cuộc giao lưu giữa Công giáo và dân tộc - một khắa cạnh quan trọng trong giao lưu giữa văn hoá dân tộc với văn hoá phương Tây - ựã cho ra ựời nhiều sản phẩm văn hoá ựộc ựáo như chữ Quốc

Trang 9

Ngữ, kiến trúc (nhà thờ ), lễ hội (Nô-en ) nhưng chưa ñược hệ thống hoá toàn diện, ñặc biệt là ở khu vực Tây Nam Bộ

Tại Việt Nam, Công giáo ñã ñược giới khoa học quan tâm và ñã có nhiều ñề tài nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc ñộ khác nhau Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam dường như còn chưa cân xứng với những gì mà tôn giáo này ñóng góp cho dân tộc, cách riêng về mặt văn hoá Ở Tây Nam Bộ cũng vậy, chắc chắn những gì ñã nghiên cứu về Công giáo vẫn còn chưa

ñủ so với sự hiện diện năng ñộng của cộng ñồng giáo dân tại ñây Mặt khác, trước những biến ñổi nhanh chóng về kinh tế, văn hoá - xã hội, lãnh vực tôn giáo nói chung, về Công giáo nói riêng, ñang ñặt ra nhiều vấn ñề mới cần ñược tiếp tục nghiên cứu Hơn nữa, kể từ Công ñồng Vaticanô II, giáo hội Công giáo ñã ñặc biệt nhấn mạnh ñến tầm quan trọng của mối liên hệ giữa ñức tin và văn hoá: “Từ khi mạc khải cùng dân Ngài cho tới khi tỏ mình ñầy ñủ trong Chúa Con nhập thể, Thiên Chúa ñã nói theo văn hoá của từng thời ñại Cũng vậy, trải qua các thế kỷ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, Giáo hội ñã sử dụng những tài nguyên của các nền văn hoá khác biệt ñể phổ biến và giải thích cho muôn dân sứ ñiệp của Chúa Ki-

tô trong khi rao giảng” [Công ñồng Vaticanô II 1972: 817] Giáo hội Công giáo ñã nhìn nhận rằng: Văn hoá là không gian sống trong ñó con người ñến với Tin Mừng Cũng như văn hoá là thành quả của cuộc sống và hoạt ñộng của một nhóm người, thì những con người này cũng ñược uốn nắn bởi nền văn hoá họ ñang sống Từ viễn ảnh ñó, ñiều dễ nhận thấy là tại sao Phúc Âm hoá và hội nhập văn hoá liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết… Nước Thiên Chúa ñến với những con người gắn

bó sâu xa với một nền văn hoá, thì việc xây dựng Nước ñó không tránh khỏi vay mượn các yếu tố từ các nền văn hoá nhân loại [x Giáo hội tại Á châu 2000: 53] ðây là những ñiểm ñược nhấn mạnh trong lý do chọn ñề tài của chúng tôi

Một lý do nữa không kém phần quan trọng là người dân Nam Bộ tiếp xúc với thực dân sớm hơn gần một phần tư thế kỷ so với ñồng bào Bắc và Trung Bộ Người Pháp lấy văn minh ðịa Trung Hải và ñạo Thiên Chúa làm chuẩn tại xứ này [x Sơn Nam 1997: 56.64] Do ñó, Công giáo ở Tây Nam Bộ chắc chắn ñã mang tính cách rất riêng của vùng này, tính cách của “những kẻ ñã vượt núi trèo ñèo ñể tiến vào tận

Trang 10

vịnh Tiêm-la với một phong cách phóng khoáng ñể ñón nhận những luồng gió mới” [Phan Khoang 1969: 590] Mặt khác, như là một hệ quả khách quan của lịch sử, nhiều cộng ñồng Công giáo ở Tây Nam Bộ ñược hình thành từ các cuộc bắt ñạo, hay những ñợt di cư sau hiệp ñịnh Genève năm 1954 Một bộ phận ñáng kể các họ ñạo là của di dân do chính sách cấm ñạo thời các chúa Nguyễn và cuộc chiến tranh Nguyễn - Tây Sơn Từ năm 1615 ñến năm 1778, các chúa Nguyễn ra 8 sắc chỉ cấm ñạo:

- Chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên, 1613-1635): Sắc chỉ năm 1625

- Chúa Thượng (Nguyễn Phước Lan, 1635-1648): Sắc chỉ năm 1639 và 1644

- Chúa Hiền (Nguyễn Phước Tần, 1648-1687): Sắc chỉ năm 1663 và 1665

- Chúa Ngãi (Nguyễn Phước Trân, 1687-1691): Sắc chỉ năm 1691

- Quốc Chúa (Nguyễn Phước Chu, 1691-1725): Sắc chỉ năm 1700

- Chúa Võ Vương (Nguyễn Phước Khoát, 1738-1765): Sắc chỉ năm 1750

Cuộc bách hại khốc liệt nhất là vào năm 1665 vì có người vu khống cho rằng: tượng ảnh Thánh Giá là hình ảnh vua Bồ Ðào Nha, do ñó người theo ñạo tức khắc là con dân của ñế quốc Bồ Chúa Hiền Vương nổi giận “trục xuất hết mọi vị thừa sai và sát hại dân lành” [Bùi ðức Sinh 2002 (Tập I): 201-213]… Hậu quả là có rất nhiều nhóm giáo dân phải lìa xa quê hương Tác giả Trần Phổ ñã ñề cập ñến vấn ñề này khi nói về nhiệm vụ thừa sai của “linh mục José Garcia ở miền Thuỷ Chân Lạp” là giúp nhiều nhóm lưu dân có gốc gác miền Trung: Người có ñạo ở tản mác khắp nơi,

ñó là bằng chứng có giá trị và là chỉ nam bảo ñảm dẫn ñến những vùng ñất ở ñồng bằng sông Cửu Long có người Việt ñến ñịnh cư… [x Trần Phổ 1996 (Tập 1): 97-108]

Thêm vào ñó, ta thấy Bến Tre có những xứ ñạo cổ xưa do di dân từ Thuận - Quảng như Giồng Giá, Giồng Tre (Ba Tri) Trong khi ñó, nét nổi bật của Công giáo Sóc Trăng là cuộc giao lưu văn hoá Việt - Khmer, vì ñây là tỉnh có số lượng người Khmer cao nhất ở ñồng bằng sông Cửu Long (367.600 người so với Trà Vinh: 308.800, Kiên Giang: 236.300 và An Giang: 91.000 người1)

1 Trang thông tin ñiện tử tỉnh Sóc Trăng:

http://web.soctrang.gov.vn/TinTuc/TinVanHoaXaHoi/tabid/106/ArticleID/910/View/Detail/Default.aspx

Trang 11

Cuối cùng, bản thân tác giả luận văn là người Công giáo, sống trong cộng ựồng tôn giáo, nhận thức về vai trò Công giáo trong ựời sống xã hội, chúng tôi ựã quan tâm tới mảng ựề tài này trong nhiều năm qua Vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu Ộựời sống văn hoá của người Việt Công giáo ở miền Tây Nam BộỢ làm ựề tài luận văn Cao học chuyên ngành Văn hoá học của mình

2 Mục ựắch nghiên cứu

Công giáo không phải là một ựề tài mới mẽ trong nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về ựối tượng này dưới các góc nhìn như sử học, xã hội học, nhân học, dân tộc họcẦ

Riêng Công giáo ở Tây Nam Bộ có những nét ựặc thù của nó đây là một cộng ựồng những lưu dân trải qua các giai ựoạn khác nhau, trong quá trình di cư và ựịnh cư ựã mang theo mô hình tổ chức ựời sống ựạo từ quê hương gốc của mình Họ tiếp tục xây dựng xứ ựạo ở quê hương mới với nhiều thắch ứng phù hợp Bên cạnh

ựó, cộng ựồng Công giáo Ộbản ựịaỢ (nhờ công tác truyền giáo mà có), trong bối cảnh tự nhiên của vùng Cửu Long, cũng là một tắnh cách tôn giáo ựặc thù cho mục ựắch nghiên cứu Một trong những cộng ựồng Công giáo Ộtại chỗỢ này là họ ựạo cổ xưa Ba Giồng (Châu Thành, Tiền Giang): ỘẦkhông ai biết xóm ựạo ựược thành lập

từ bao giờ, nguồn gốc ra sao, lịch sử thế nàoẦỢ [Nguyễn Văn Quắ (Tập II) 1991: 29]; hay họ ựạo Cái Nhum (Chợ Lách, Bến Tre): ỘẦkhông ai nhớ rõ công việc rao giảng (Tin Mừng) ở ựây lúc nào, do ựó không thể xác ựịnh rõ ràng nguồn gốc họ ựạo ựược thành lập bao giờỢ [Nguyễn Văn Quắ (Tập II) 1991: 103] Tất cả họ làm thành cộng ựồng Công giáo Tây Nam Bộ với những tắnh cách văn hoá thống nhất với Công giáo Việt Nam Tuy nhiên, chắc chắn có một sự khác biệt phong phú giữa các tiểu vùng văn hoá Công giáo Bắc - Trung - Nam Công giáo Nam Bộ lại ựược phân thành hai ựơn vị đông và Tây Chúng tôi chọn Bến Tre và Sóc Trăng với những lý do nghiên cứu như ựã trình bày phắa trên, nhằm cung cấp thêm những nét tắnh cách ựịa phương trong văn hoá vùng miền

Vì vậy, ựể bổ sung cho những cách tiếp cận ựã có, công trình này sẽ nghiên cứu Công giáo dưới góc nhìn Văn hoá học Theo nhận ựịnh của chúng tôi, việc sử

Trang 12

dụng phương pháp luận văn hố học vào nghiên cứu Cơng giáo vẫn cịn rất ít ðây khơng chỉ đơn thuần là nghiên cứu tổ chức giáo hội, sinh hoạt tín đồ, mà chính yếu

là biểu hiện và đĩng gĩp của tơn giáo ấy cho đời sống người dân tại mơi trường họ hiện diện Do đĩ, việc nghiên cứu đề tài này là nhằm gĩp phần làm rõ vai trị của một bộ phận cư dân theo Cơng giáo trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hố và xã hội tại địa phương; cung cấp những thơng tin bổ ích về những đĩng gĩp tích cực của người Cơng giáo trong việc tổ chức và xây dựng đời sống văn hố - xã hội tại cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ Những kết quả thu được cịn gĩp phần vào việc nhận thức những chuẩn mực và giá trị văn hố, đạo đức Cơng giáo,… trong quá tình tồn tại đã hội nhập một cách hài hồ vào nền văn hố dân tộc ðiều này sẽ phát huy những giá trị tích cực của Cơng giáo trong cơng cuộc giáo dục truyền thống văn hố Việt Nam và cũng là những kinh nghiệm về giáo dục truyền thống cho đồng bào cĩ tơn giáo nĩi chung Kết quả của cơng trình, mặt khác, cũng nhằm cung cấp những dữ liệu cần thiết cho các nhà quản lý cĩ thể tham khảo

để cĩ thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định các chương trình văn hố - xã hội

và dân sinh phù hợp với nhu cầu đời sống văn hố của các bộ phận cư dân, đặc biệt

là trong các cộng đồng tơn giáo

Cơng trình này cịn mong muốn gĩp phần tiếp tục khẳng định tơn giáo là một thực tại xã hội và là nhu cầu thực sự của con người Dưới gĩc độ thế giới quan, tơn giáo đã từng bị coi là “thuốc phiện của nhân dân” Khơng thể duy trì lâu dài cái nhìn phiến diện này về tơn giáo chỉ qua một mệnh đề đã bị cắt xén của Các Mác Vì vậy, việc thực hiện luận văn này cũng nhằm khẳng định một lộ trình đã được mở ra: tơn giáo hồn tồn cĩ thể đồng hành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong chiều hướng đĩ, văn hố Cơng giáo sẽ gĩp phần của mình vào việc khơi dậy những suy nghĩ và hành động tích cực của người tín hữu cũng như người ngồi Cơng giáo Khi các giá trị văn hố đạo đức của Cơng giáo được đặt trong khuơn khổ của văn hố dân tộc, Cơng giáo một mặt đã đĩng gĩp vào sự đa dạng của văn hố dân tộc, mặt khác nĩ đã chấp nhận bước vào lộ trình đồn kết dân tộc, tơn giáo Khai thác tốt các giá trị văn hố đạo đức của Cơng giáo sẽ là cách thế tốt nhất để tơn giáo này tiến hành đối thoại với các tơn giáo khác trên một khu vực được xem là cĩ nhiều tơn

Trang 13

giáo nhất trong cả nước [x ðỗ Quang Hưng 2008: 153-158] Việc làm này cũng sẽ góp phần xoá mờ làn ranh giới về sự phân biệt “lương - giáo” và mở ra những tương quan bao dung “ñạo - ñời”

Bên cạnh ñó, kết quả của công trình này còn có tham vọng góp phần vào công tác quản lý tôn giáo cho các ñịa phương có liên quan Bởi vì, hiện nay tại nhiều ñịa phương, trong không ít trường hợp, công tác tôn giáo ñược xem như có nhiệm vụ “chủ yếu là công tác vận ñộng quần chúng” [ðỗ Quang Hưng 2009: 351]

3 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề

Chúng tôi ñã bước ñầu tham khảo một số công trình nghiên cứu, bài viết về Công giáo Tây Nam Bộ ñộc lập hoặc Công giáo Tây Nam Bộ như một phần của tác phẩm ñã ñược công bố, có thể khái lược một số nội dung có liên quan ñến ñề tài ở các mức ñộ và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, ñể vấn ñề có tầm bao quát hơn, chúng tôi sẽ ñiểm qua cả một số thư tịch có ñề cập ñến Công giáo Việt Nam nói chung

- Những công trình nghiên cứu về Công giáo Việt Nam nói chung

Trước tiên, cần nói ñến tài liệu chính thức của Hội ñồng giám mục Việt Nam ñăng trong Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2004 (Nxb Tôn giáo, Hà Nội năm 2004, 959 tr.): “Lược sử giáo hội Công giáo Việt Nam (1533-2003)” từ trang

184 ñến 203 Trong bài tóm lược này, ngoài phần “nhập ñề” và “lời kết”, tác giả linh mục Nguyễn Ngọc Sơn “dựa theo mốc thời gian với những biến cố quan trọng ñánh dấu sự thay ñổi lớn lao của cơ cấu Giáo hội Việt Nam” ñã chia giáo sử Việt ra làm 5 thời kỳ lớn: (1) Thời kỳ khai sinh (1533-1659), (2) Thời kỳ hình thành (1659-1802), (3) Thời kỳ thử thách (1802-1885), (4) Thời kỳ phát triển (1885-1960), (5) Thời kỳ trưởng thành (1960 ñến nay) Vì là tài liệu viết cho một cuốn niên giám, bài

“lược sử” này mang tính khái quát cao, nhưng cũng rất ñầy ñủ

Bộ giáo sử Việt Nam cần ñược nhắc ñến tiếp theo là Giáo hội Công giáo ở Việt Nam của tác giả Bùi ðức Sinh, ñược xuất bản lần mới nhất năm 2002, gồm 3 tập, 1682 trang (Calgary - Canada) Trong bộ sử ñồ sộ này, là một thạc sĩ sử học tại ñại học Montréal - Canada, tác giả ñã khái quát và phân tích toàn bộ tiến trình hình

Trang 14

thành và phát triển của Công giáo Việt Nam từ lúc mới du nhập ựến năm 1975 qua

4 giai ựoạn: (1) Thời kỳ mở ựường và ựặt nền móng từ trước thế kỷ XVI ựến giữa thế kỷ XVII; (2) Thời kỳ xây dựng và tổ chức từ giữa thế kỷ XVII ựến ựầu XIX; (3) Thời kỳ vươn lên trong thử thách ựau thương trong thế kỷ XIX; (4) Thời kiến thiết

và tiến tới trưởng thành nửa ựầu thế kỷ XX; phần Ộnửa sau thế kỷ XXỢ tác giả làm thành một cuốn riêng với tên Phụ chương Giáo hội Công giáo ở Việt Nam từ 1975 ựến 2000

Một tác giả quan trọng nữa là tiến sĩ sử học - linh mục Trương Bá Cần với hai công trình nghiên cứu Công trình có hệ thống nhất do ông chủ biên là Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam gồm 2 tập, tổng cộng 1438 trang (Nxb Tôn giáo,

Hà Nội, năm 2008), khái quát tiến trình giáo hội Công giáo Việt Nam từ khi hình thành ựến năm 1945 Tập I gồm hai thời kỳ (ỘKhai pháỢ và ỘHình thànhỢ) với 20 chương; tập II cũng gồm hai thời kỳ (ỘThử tháchỢ và ỘPhát triểnỢ) với 24 chương Công trình thứ hai cũng do Trương Bá Cần chủ biên là Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm 1945-1995 gồm 512 trang xuất bản tại TP HCM năm 1996, khảo sát chủ yếu Công giáo Việt Nam sau hiệp ựịnh Genève: Hiện tình giáo hội Việt Nam ựược xếp theo 3 giáo tỉnh (Hà Nội, Huế, TP Hồ Chắ Minh), các dòng tu, và các ựại chủng viện

Kế ựến là những công trình nghiên cứu khác do các tác giả trong hoặc ngoài nước, Công giáo hoặc không Công giáo xuất bản: Lịch sử ựạo Thiên Chúa ở Việt Nam do tác giả Hồng Lam biên soạn năm 1944 ựề cập một cách khái quát ựến Công giáo Việt Nam; Việt Nam giáo sử của linh mục Phan Phát Huồn do Cứu Thế tùng thư xuất bản tại Sài Gòn năm 1958 gồm 2 tập: Tập 1 từ năm 1533 (năm giáo sĩ ựầu tiên ựến giảng ựạo tại Việt Nam theo Khâm ựịnh Việt sử) ựến năm 1933 (năm Công giáo Việt Nam có giám mục ựầu tiên: Gio-an B Nguyễn Bá Tòng) với 402 trang, và tập 2 từ năm 1933 ựến năm 1960 (năm thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam) với

592 trang; Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam của linh mục tiến sĩ giáo luật Nguyễn Hồng với 300 trang giáo sử Việt ựến cuối thời kỳ Dòng Tên, xuất bản tại Sài Gòn năm 1959 (năm 2009 ựược tái bản do Nxb Từ ựiển bách khoa, gồm 2 tập); Người chứng thứ nhất của Phạm đình Khiêm xuất bản tại Sài Gòn năm 1959Ầ

Trang 15

Các công trình mới hơn có: Một số vấn ựề lịch sử ựạo Thiên Chúa trong lịch

sử dân tộc gồm 279 trang do Viện khoa học xã hội và Ban tôn giáo TP HCM xuất bản năm 1988; tác giả Patrick J N Tuck với cuốn Thừa sai Công giáo Pháp và các chắnh sách của ựế quốc tại Việt Nam 1857-1914 dày 842 trang do Uỷ ban ựoàn kết Công giáo TP HCM xuất bản năm 1989; Lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam gồm

2 tập của linh mục Nguyễn Văn Trinh xuất bản tại TP HCM năm 1994; tác giả Nguyễn Văn Kiệm với cuốn Sự du nhập của ựạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế

kỷ XVII gồm 400 trang do Hội khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản năm 2001; Công giáo trên quê hương Việt Nam gồm 390 trang của linh mục Nguyễn Thế Thoại xuất bản tại Khánh Hoà năm 2001; Cao Thế Dung với bộ 3 tập Việt Nam Công giáo sử tân biên dày 1983 trang xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2002; luận án tiến sĩ Giáo sĩ thừa sai và chắnh sách thuộc ựịa của Pháp tại Việt Nam của Cao Huy Thuần dày 619 trang do Nxb Tôn giáo năm 2003; tác giả linh mục đỗ Quang Chắnh có Tản mạn lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam phát hành năm 2003 tại TP HCM; linh mục đào Trung Hiệu với bộ Cuộc lữ hành ựức tin xuất bản tại TP HCM năm 2007; Công giáo Việt Nam - Một số vấn ựề nghiên cứu dày 299 trang do Nguyễn Hồng Dương chủ biên và Nxb Tôn giáo ấn hành năm 2008

Khảo sát chuyên về mặt văn hoá - xã hội của Công giáo có các công trình: Nguyễn Hồng Dương với Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam (Nxb KHXH năm 2001, 390 tr.) bàn về nét ựẹp văn hoá Công giáo Việt Nam; cũng Nguyễn Hồng Dương, tác giả nghiên cứu chuyên sâu về thiết chế chắnh trị và hoạt ựộng tôn giáo trong công trình Làng Công giáo Lưu Phương (Ninh Bình), sách xuất bản năm 1997 do Nxb KHXH, 232 trang; Toà giám mục Thái Bình với tài liệu Rao giảng Tin Mừng theo cung cách Việt Nam năm 2000, 476 trang, ựưa ra Ộmột gợi ý

về cách sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng cho những tâm hồn bé mọn, hiền hoà ở miền nông thôn nghèo khổỢ; Hội đồng Giám Mục Việt Nam cũng cho xuất bản tài liệu hội thảo Sống ựạo theo cung cách Việt Nam dày 240 trang do Nxb Tôn giáo năm 2004, bàn về việc hội nhập ựời sống lễ nghi Công giáo trong lòng dân tộc; tác giả Hà Huy Tú trình bày Ộsắc thái văn hoá Công giáo trong tổng thể bản sắc văn hoá dân tộcỢ trong công trình Tìm hiểu nét ựẹp văn hoá Thiên Chúa giáo do Nxb

Trang 16

Văn hoá thông tin ấn hành năm 2002 gồm 370 trang; Luận văn Giao lưu và tiếp biến văn hoá Việt - Pháp tại Sài Gòn - Gia định thông qua Công giáo gồm 250 trang của tác giả đỗ Trung Thành xuất bản năm 2006 (đại học KHXH&NV TP HCM) ựề cập ựến những thành quả văn hoá Công giáo qua cuộc giao lưu văn hoá Việt - Pháp; ấn phẩm Nhà thờ Công giáo ở thành phố Hồ Chắ Minh gồm 298 trang

do Hồ Tường chủ biên xuất bản năm 2007 do NXB Trẻ tại TP HCM; ựặc biệt, thừa sai Alexandre de Rhodes viết cuốn Phép giảng tám ngày bằng chữ Quốc Ngữ in tại Ro-ma, I-ta-li-a, năm 1651 ựược xem là tác phẩm văn xuôi ựầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ2, trình bày ngắn gọn giáo lý Công giáo Ộcho kẻ muốn chịu phép rửa tội

mà vào ựạo thánh đức Chúa TrờiỢ

Tác phẩm ngoại văn có Les origines du clergé Vietnamien xuất bản tại Sài Gòn năm 1959 cho thông tin về những giáo sĩ ựầu tiên ựến Việt nam; linh mục Leopold Cadiere với bộ ba tập Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, trong tập 3 (xuất bản tại Sài Gòn năm 1957) có mục ỘChỉ dẫn cho các thừa sai giảng ựạo tại Việt NamỢ (bản Việt ngữ do dịch giả đỗ Trinh Huệ, Nxb Thuận Hoá năm 2010); Lịch sử vương quốc đàng Ngoài (Histoire du royaume de Tunquin) của Alexandre de Rhodes do Hồng Nhuệ dịch và xuất bản tại TP HCM năm 1994, cho biết về tình hình thế tục cùng sự gia nhập và tiến triển của ựức tin ở xứ đàng Ngoài; tác giả Adrien Launay xuất bản tại Paris năm 1894 bộ Histoire générale de la Société des missions-étrangères gồm 2 tập (T.1: 595 tr.; T.2: 594 tr.) viết về lịch sử hoạt ựộng của ỘHội truyền giáo nước ngoàiỢ, trong ựó có các thừa sai tại Việt Nam

- Những công trình nghiên cứu về Công giáo Tây Nam Bộ

đề cập ựến một giai ựoạn ngắn của Công giáo đàng Trong là cuốn Công giáo đàng Trong thời giám mục Pigneau 1771-1799 xuất bản tại TP HCM năm

1992, 142 trang: Tác giả Trương Bá Cần khảo sát chủ yếu lịch sử Công giáo trong các năm 1771-1799 ở Nam Bộ, về các hoạt ựộng của giám mục Pigneau de Behaine (Bá đa Lộc) và liên hệ giữa vị giám mục này với Nguyễn Phúc Ánh Nhóm tác giả

2

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_ch%E1%BB%AF_Vi%E1%BB%87t_Na

m

Trang 17

Nguyễn Nghị, Khổng Thành Ngọc và Hoàng Minh Thức cho những thông tin về Thiên Chúa giáo ở TP Hồ Chắ Minh qua tác phẩm Thiên Chúa giáo ở thành phố Hồ Chắ Minh, xuất bản năm 2007 dày 227 trang, do Nxb Tổng hợp TP HCM Hai nghiên cứu khác về Công giáo Nam Bộ ựăng trong ỘTuyển tập thần họcỢ do Uỷ ban ựoàn kết Công giáo TP HCM ấn hành là Thiên Chúa giáo tại ựồng bằng Nam Bộ (số 2-1993) và Lược sử 150 năm giáo phận Tây đàng Trong (số 1-1994), tất cả trình bày khái quát về tiến trình lịch sử Công giáo Nam Bộ

Loại tài liệu quan trọng khác là ựịa chắ địa chắ Bến Tre do Thạch Phương và đoàn Tứ chủ biên (Nxb KHXH năm 1991), khảo sát Công giáo ở ựịa phương này

từ lúc bắt ựầu xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVII cho ựến ngày nay Từ trang 554-557, các tác giả ựã cho một cái nhìn tổng quát về tiến trình lịch sử Công giáo Bến Tre: các ý kiến về những nhóm cư dân Công giáo ựầu tiên ựến Giồng Giá hay Giồng Tre (cả hai nơi ựều thuộc huyện Ba Tri), về những họ ựạo ựầu tiên và những

họ ựạo lớn hiện nay của Bến Tre, cũng như các sinh hoạt Công giáo của ựịa phương này địa chắ Sóc Trăng do ỘBan Chủ Nhiệm biên soạn địa chắ Sóc TrăngỢ ấn hành bản thảo lần thứ I tháng 5 năm 2008 gồm 622 trang, tuy không tách riêng mảng ựề tài Công giáo, nhưng xen kẻ trong các chương phần ựã ựề cập ựến vai trò của Công giáo trong ựời sống tỉnh này: Di tắch lịch sử trường Taberd của các sư huynh (frèfes) Công giáo xây dựng ựể dạy học cho cả học sinh lương và giáo (tr 479-480); các khu ựịa hạt ựạo Công giáo có ựủ nhà thờ, chủng viện ựể phục vụ nhu cầu ựời sống tinh thần tắn ựồ (tr 490); dưới thời chắnh quyền Sài Gòn, giáo hội Thiên Chúa

ựã mở nhiều trường tư thục, ựóng góp vào sự nghiệp giáo dục của ựịa phương (tr 497); về y tế thời chắnh quyền Sài Gòn, các nữ tu của dòng Providence ựã ựóng góp cho Sóc Trăng một bệnh viện, mà là bệnh viện duy nhất cho ựến lúc này (tr 519); ựặc biệt, linh mục Trần Quang Nghiêm là một mẫu mực Ộvừa làm tốt việc ựạo vừa tham gia công việc của cách mạngỢ, ông vận ựộng nhiều giáo dân tham gia cách mạng và ựược tặng nhiều huân chương của Nhà Nước (tr 546-547)Ầ

Bộ sưu tập rất có giá trị với tựa ựề Những họ ựạo cổ xưa Tây đàng Trong (Nam Bộ) của tác giả Nguyễn Văn Quý do tổng giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình viết lời giới thiệu, ấn bản lưu hành nội bộ năm 1991 gồm 600 trang, cho thông

Trang 18

tin về nhiều xứ ựạo cổ xưa ở đông và Tây Nam Bộ; trong ựó, ựáng chú ý là những

họ ựạo Ba Giồng (Tiền Giang), Cái Nhum và Cái Mơn (Bến Tre), Bãi Xan (Trà Vinh), Cầu Ngang (Trà Vinh) Tác giả Trần Phúc Long (chủ biên) với cuốn 25 giáo phận Việt Nam hai mươi lăm năm qua gồm 370 trang xuất bản năm 2002 tại USA, trong tập V có ựề cập ựến lịch sử và ựời sống của các giáo phận Tây Nam Bộ Báo Nam Kỳ ựịa phận xuất bản từ năm 1908 cũng cho rất nhiều thông tin về các họ ựạo

ở Tây Nam Bộ Tập tài liệu viết tay Monographie de la chrétienté de Cai-Nhum của Henry Hay (MEP) ựể lại nhiều sử liệu giá trị về quá trình hình thành họ ựạo Cái Nhum (Bến Tre)

Trong công trình Phụ chương Lịch sử giáo hội Việt Nam từ 1975 ựến 2000, tác giả Bùi đức Sinh cho rằng Công giáo ở Tây Nam Bộ có một số ựóng góp nhất ựịnh cho ựời sống cộng ựồng tại ựịa phương: Bến Tre xưa kia, các di dân Công giáo

từ Trị Thiên, Nam Ngãi và Bình Phú mang theo những ngành nghề truyền thống của

họ và lập nên các làng nghề sầm uất từ Cái Mơn, Cái NhumẦ ựến Cầu Ngang, Giồng Rùm (tr 261)Ầ Tác giả ựã cấu trúc công trình của mình theo phương pháp

sử học với cái nhìn lịch ựại đối tượng nghiên cứu là các sự kiện lịch sử Công giáo Việt Nam lồng vào lịch sử ựất nước, chứ không chủ ựắch chỉ ra những ựóng góp của Công giáo cho ựời sống người dân tại ựịa phương, làm cho người ựọc khó tìm thấy

ở ựây tắnh hệ thống của vai trò ựời sống văn hoá người Công giáo ựối với Tây Nam

Bộ

Tác giả Hà Huy Tú (2002) trong cuốn Tìm hiểu nét ựẹp văn hoá Thiên Chúa giáo có nói về nhân vật Bến Tre: Ộcha Trang nêu một tấm gương yêu nước, vận ựộng bà con tham gia Công giáo cứu quốc, giấu cán bộ trên lầu chuông nhà thờỢ (tr 47)Ầ Không gian của tác phẩm khá rộng và vấn ựề ựược khảo sát theo cái nhìn lịch ựại, nên Công giáo ở ựịa bàn Bến Tre chưa ựược ựề cập toàn diện Trong bài Phong trào yêu nước của ựồng bào Công giáo ựồng bằng sông Cửu Long (1945-1975) ựăng trên tạp chắ Nghiên cứu tôn giáo, số 1-2004 tr 47, tác giả Trần Hữu Hợp có ựề cập ựến tấm gương hoạt ựộng yêu nước của thầy Năm Phêrô Nguyễn Văn Tú ở huyện Chợ Lách, Bến Tre như một ựiển hình Ộvì Thiên Chúa - chiến ựấu cho tổ quốcỢ đây là một nghiên cứu chuyên ựề Như tên của bài viết, tác giả ựi sâu vào

Trang 19

mảng ñóng góp của Công giáo cho phong trào yêu nước Còn tại Sóc Trăng, theo tác giả Nguyễn ðức Hiệp (2007) trong bài Sóc Trăng ngày nay, tỉnh Sóc Trăng có cộng ñồng Công giáo ñáng kể, nhà thờ Sóc Trăng có kiến trúc cổ ñiển, ñẹp nhưng trông cũ kỹ

Hầu hết các công trình ñược nói ñến phía trên ñều xoay quanh ñề tài lịch sử truyền giáo, một phần truyền giáo liên quan ñến các chính sách thuộc ñịa của Pháp Mỗi tác giả với một phương pháp tiếp cận riêng ñã góp phần dựng lại những giai ñoạn lịch sử Công giáo Việt Nam trong lòng lịch sử dân tộc, một số tác giả khác thì bàn ñến văn hoá Công giáo…

Sau ñây, chúng tôi ñặc biệt nhấn mạnh ñến hai luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành dân tộc học có liên quan trực tiếp ñến Công giáo Tây Nam Bộ: ñề tài Cộng ñồng người Việt Công giáo ở ñồng bằng sông Cửu Long của tác giả Trần Hữu Hợp năm 2006 và Cấu trúc cộng ñồng của người Việt Công giáo của tác giả Nguyễn ðức Lộc năm 2010 Về công trình của Trần Hữu Hợp, sau khi nêu ra những vấn ñề còn tồn tại trong nghiên cứu người Công giáo ở ñồng bằng sông Cửu Long, tác giả

ñã triển khai luận án của mình với 2 chương: Chương I là “khái quát về quá trình hình thành và phát triển của cộng ñồng người Việt Công giáo” nhìn trên ba bình diện: (1) Giới thiệu chung về ñồng bằng sông Cửu Long, (2) Sự hình thành cộng người Việt Công giáo tại ñồng bằng sông Cửu Long, (3) Tổ chức giáo hội Công giáo vùng ñồng bằng sông Cửu Long; ở chương II tác giả khảo sát “vấn ñề bảo lưu

và hội nhập văn hoá” trên bốn tiêu chí thời gian và bình diện: (1) Công ñồng Vatican II, (2) ðường hướng mục vụ của giáo hội Công giáo Việt Nam, (3) Việc bảo lưu và hội nhập văn hoá của cộng ñồng người Việt Công giáo và (4) Truyền thống yêu nước của người Việt Công giáo ñồng bằng sông Cửu Long Còn tác giả Nguyễn ðức Lộc thì khai triển luận án của mình với hai chương nội dung chính: Chương I nghiên cứu “ñặc ñiểm cấu trúc cộng ñồng vùng cư dân Công giáo di cư

1954 tại Nam Bộ” gồm có (1) Cơ cấu tổ chức gia ñình dòng họ, (2) Cơ cấu tổ chức theo giáo xứ, (3) Cơ cấu tổ chức hành chánh cấp xã trong vùng Công giáo, (4) ðặc ñiểm cấu trúc quyền lực trong cộng ñồng; chương II khảo sát “chiến lược ứng xử của tín ñồ Công giáo trong bối cảnh xã hội ñương ñại” gồm có (1) Chiến lược ứng

Trang 20

xử trong ñời sống xã hội và (2) chiến lược ứng xử trong ñời sống nghi lễ Công trình của Nguyễn ðức Lộc nghiên cứu chủ yếu ở những cộng ñồng Công giáo di cư

và Sóc Trăng dưới góc nhìn văn hoá học Chính tại ñiểm kết luận này mà ñề tài luận văn của chúng tôi bắt ñầu hình thành Từ ñó, chúng tôi ñưa ra những giả thiết nghiên cứu như sau:

ðời sống văn hoá của cộng ñồng người Việt Công giáo Tây Nam Bộ có những ñiểm giống và khác nhau như thế nào so với những khu vực khác? Phải chăng ñời sống văn hoá của người Việt Công giáo ở Bến Tre và Sóc Trăng hoàn toàn giống với cộng ñồng Công giáo trong khu vực Tây Nam Bộ? Nếu có khác thì

sự khác nhau ñó là gì và tại sao? Sự khác nhau ñó có ý nghĩa như thế nào trong tương quan khu vực nói riêng và với Công giáo Việt Nam nói chung? Khảo sát nguyên nhân của tính thống nhất trong ña dạng và ý nghĩa của tính ña dạng của Công giáo ở hai ñịa phương trên cũng là hướng nghiên cứu chính yếu của chúng tôi trong luận văn này

Trang 21

4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu

- ðối tượng nghiên cứu

ðối tượng nghiên cứu của luận văn là “ñời sống văn hoá của người Việt Công giáo ở Tây Nam bộ” hay khu vực ñồng bằng sông Cửu Long qua nghiên cứu trường hợp hai tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng

Con người ñương nhiên là chủ thể sáng tạo ra văn hoá ðể làm việc này, con người không chỉ buộc phải thích ứng mà còn phải chinh phục tự nhiên, kể cả thế giới tự nhiên bên ngoài lẫn cái tự nhiên trong chính bản thân nó [x Mai Văn Hai 2005: 18-19] Mặt khác, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, mà còn là sản phẩm của văn hoá, chịu sự tác ñộng của văn hoá Trong quá trình tách mình ra khỏi thế giới tự nhiên, con người tạo ra cho mình với thế giới ñó những mối quan hệ ứng xử Rồi trong tương quan xã hội giữa con người và nhóm người với nhau cũng hình thành những thế ứng xử khác nhau, có sự ñóng góp của những yếu tố tự nhiên

và lịch sử Tất cả các cách ứng xử ấy hình thành nên lối sống của cá nhân và cộng ñồng Người Việt Công giáo ở Bến Tre và Sóc Trăng cũng ñã tạo lập cho mình một ñời sống văn hoá như thế Trong cái nhìn văn hoá theo cấu trúc ba thành phần: văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, và văn hoá xã hội [x Trần Ngọc Thêm 2005: 47; Chu Xuân Diên 2002: 23], chúng tôi triển khai ñối tượng nghiên cứu này theo ba thành tố: ñời sống vật chất, ñời sống tinh thần và tổ chức xã hội

ðặc biệt, chúng tôi cũng tham khảo ñề xuất của nhà dân tộc học E.S Markarian về thuật ngữ “văn hoá bảo ñảm ñời sống” Trong tác phẩm “Văn hoá bảo ñảm ñời sống và tộc người”3 ông ñã trình bày văn hoá bảo ñảm ñời sống bao gồm

ba dạng thức: ẩm thực, trang phục và nhà ở Văn hoá bảo ñảm ñời sống ñược tạm hiểu như văn hoá vật chất, còn văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội bao gồm những yếu tố thuộc tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật, kinh nghiệm sản xuất, tổ chức xã hội… [x Phan Thị Yến Tuyết 2008: 380] Cũng trong tác phẩm trên, văn hoá vật chất - trong nghĩa rộng - ñược hiểu là tổng hoà tất cả các sản phẩm vật chất

do lao ñộng sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất ñịnh Văn hoá vật

3 E.S Markarian chủ biên, xuất bản ở Êrêvan năm 1989

Trang 22

chất lại được chia thành hai tiểu phân hệ là “văn hố sản xuất ban đầu” và “văn hố bảo đảm đời sống” (Văn hố bảo đảm đời sống bao gồm ba dạng thức: ẩm thực, trang phục và nhà ở) Cịn văn hố tinh thần gồm hai tiểu phân hệ “văn hố định chuẩn xã hội” và “văn hố nhân văn” Giữa văn hố vật chất và văn hố tinh thần luơn cĩ quan hệ liên kết hỗ tương với nhau Sơ đồ phân loại cĩ thể được diễn giải như sau [Phan Thị Yến Tuyết 1993: 311-312]:

và VĂN HỐ XÃ HỘI

Văn hố bảo đảm đời sống

(ẩm thực, trang phục, nhà ở)

Văn hố nhân văn

Dựa theo lý thuyết này, chúng tơi triển khai đề tài nghiên cứu gồm 3 chương: đời sống vật chất, đời sống tinh thần và tổ chức xã hội

- Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về khơng gian là địa bàn hai tỉnh Bến Tre và Sĩc Trăng, nhìn trong tương quan khái quát với tồn khu vực Tây Nam Bộ Phạm vi nghiên cứu về thời gian là tồn bộ tiến trình lịch sử Cơng giáo hai địa phương trên từ lúc Cơng giáo xuất hiện cho đến ngày nay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Về khoa học

Người Việt là tộc người chủ thể của văn hố Việt Nam Người Việt Cơng giáo là một bộ phận trong chủ thể ấy, đời sống của họ chắc chắn gĩp phần tạo nên tính đa dạng của văn hố Việt Bằng gĩc nhìn văn hố học, kết quả của đề tài luận văn này sẽ cung cấp thêm một số vấn đề lý luận về vai trị của tơn giáo như: (1) Làm sáng tỏ thêm vai trị của tơn giáo, trong đĩ cĩ Cơng giáo, trong việc làm tăng tính đa dạng của văn hố Việt Nam; (2) Khẳng định mối liên hệ giữa tính thống nhất và đa dạng trong văn hố (cơ sở của sự đồn kết dân tộc); (3) Cung cấp những

Trang 23

hiểu biết mới mẽ về ựặc ựiểm và quá trình giao lưu văn hoá Công giáo trên vùng ựất mới Tây Nam Bộ

- Về thực tiễn

Nam Bộ là khu vực có rất nhiều tôn giáo [x đỗ Quang Hưng 2008: 153] Riêng về Công giáo, theo số liệu từ ỘTổng ựiều tra dân số và nhà ở năm 1999Ợ thì Công giáo ở Bến Tre chiếm 4,3% dân số toàn tỉnh và Sóc Trăng chiếm 4,2% đoàn kết các tôn giáo và giúp tắn ựồ các tôn giáo tắch cực ựóng góp phần của mình vào sự nghiệp chung xây dựng ựất nước là nhiệm vụ của công tác quản lý tôn giáo Kết quả của luận văn này sẽ cung cấp những luận cứ khoa học về Công giáo cho hai ựịa phương nói trên trong việc hoạch ựịnh chắnh sách tôn giáo Cụ thể, công trình nghiên cứu sẽ cho (1) Một cái nhìn thực tế về những biến ựổi của Công giáo sau Công ựồng Vatican II ở hai tỉnh ựược khảo sát; (2) Cung cấp dữ liệu về những chuyển biến tại hai tỉnh sau khi Hội ựồng giám mục Việt Nam ra Thư Chung năm

1980 với chủ trương Ộựồng hành cùng dân tộcỢ; (3) đánh giá ưu thế của người Công giáo trong quá trình hội nhập Bên cạnh ựó, khám phá ra nét ựẹp hội nhập văn hoá của Công giáo tại ựịa phương cũng sẽ thúc ựẩy mạnh mẽ hơn nữa phương châm sống Ộtốt ựạo ựẹp ựờiỢ của tắn ựồ tôn giáo này

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi sử dụng kết hợp ba phương pháp: lịch sử, so sánh, và liên ngành

+ Phương pháp lịch sử: là hệ thống các nguyên tắc ựược ựặt ra ựể ựem lại hiệu quả trong việc tập họp nguồn tài liệu, ựánh giá chúng một cách có phê phán và ựưa ra một tổng hợp của những kết quả có ựược, cũng như giải thắch kết quả làm sao ựể ựạt ựược chân dung của quá khứ Yêu cầu ựối với phương pháp lịch sử là ựảm bảo tắnh liên tục về thời gian của các sự kiện, làm rõ ựiều kiện và ựặc ựiểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ ựa dạng của chúng với các sự vật xung quanh Không ựược bỏ qua nguyên tắc xem xét và

Trang 24

trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử trong một tiến trình liên tục và ña diện, theo tứ tự trước sau và trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác [x Bùi Thế Cường (chủ biên) 2010: 272tt]

Phương pháp lịch sử có hai tiểu bộ phận: nghiên cứu lịch ñại và nghiên cứu ñồng ñại Nghiên cứu lịch ñại cho phép tìm hiểu quá khứ lần theo các giai ñoạn phát triển trước kia của nó Bởi vì mỗi giai ñoạn phía sau ñều mang trong mình nó những ñặc ñiểm và những yếu tố của giai ñoạn trước, do ñó ñể hiểu quá khứ thì phải tìm mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng Nhờ ñó, sự kiện lịch sử ñược ñánh giá trong mối liên hệ với những kinh nghiệm lịch sử cụ thể Còn nghiên cứu ñồng ñại là xác ñịnh các hiện tượng, quá trình khác nhau xảy ra cùng một thời ñiểm (có liên quan ñến nhau) Cách thức này giúp ta so sánh bao quát ñược toàn vẹn và ñầy ñủ các ñối tượng ñã xảy ra trên cùng một thời gian trong những không gian khác nhau

+ Phương pháp so sánh: là sự so sánh giữa ñối tượng này với ñối tượng khác trong những ñiều kiện, hoàn cảnh xác ñịnh chi phối chúng Phương pháp này cho phép nhìn rõ nét tương ñồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác Phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận ñộng lịch sử ñể tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một ñối tượng, chỉnh thể trong những thời ñiểm và hoàn cảnh khác nhau

+ Phương pháp liên ngành: là phương pháp thế mạnh của văn hoá học ðời sống văn hoá của người Việt Công giáo ñược bổ sung bằng quan ñiểm của một số ngành khoa học xã hội khác, cũng như thành quả nghiên cứu của các khoa học giáp ranh văn hoá học như xã hội học, tôn giáo học, nhân học, dân tộc học… cũng sẽ ñược tận dụng

Phương pháp của văn hoá học là nghiên cứu dựa trên tư liệu do các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác cung cấp Nhà nghiên cứu văn hoá không nhất thiết phải ñi ñiều tra thực ñịa, tổ chức những cuộc quan sát tham dự như nhân loại học hay dân tộc học Trong thực tế, văn hoá học là một khoa học lý thuyết, nó chủ yếu sử dụng các tư liệu có sẵn do các ngành khác cung cấp Không ñòi hỏi tư liệu

Trang 25

thực nghiệm, ñiều tra, ñiền dã, nhưng văn hoá học ñòi hỏi phải tổng hợp và khái quát hoá ở mức cao [x Trần Ngọc Thêm 2005: 34-35.37]

Trong cái nhìn như thế, tác giả luận văn sẽ dùng chủ yếu các tư liệu lịch sử, khảo cứu và một ít tư liệu ñiền dã, phỏng vấn… ñể ñối chiếu, so sánh và trình bày ñời sống văn hoá của cộng ñồng người Việt Công giáo ở Bến Tre và Sóc Trăng, cũng như khảo sát những ñiều kiện tự nhiên và xã hội dẫn ñến những yếu tố văn hoá nào ñược bảo lưu, yếu tố nào phải biến ñổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới trong việc thực hành ñức tin Công giáo

- Nguồn tư liệu

Tư liệu nghiên cứu gồm các tài liệu lịch sử, tài liệu văn học viết và văn học truyền khẩu, tài liệu khảo cổ và tài liệu nghe nhìn của các tác giả trong và ngoài nước ñã viết và công bố về Nam Bộ và ñời sống người Việt Công giáo ở Tây Nam

Bộ Bên cạnh ñó, các tạp chí chuyên ngành, Internet, tranh ảnh cũng ñược tận dụng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn dự kiến gồm bốn chương:

- Chương một trình bày những khái niệm chung, các lý thuyết giải thích và tổng quan về cộng ñồng Công giáo tại hai tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng Thao tác này giúp khái quát ñược ñịa bàn cư trú của ñối tượng nghiên cứu trên các bình diện lịch

sử và tự nhiên, kết hợp với các lý thuyết giúp cho việc giải thích vấn ñề ở các chương sau

- Chương hai nói về ñời sống vật chất của người Việt Công giáo ở Bến Tre

và Sóc Trăng trên các bình diện ăn uống, trang phục và nhà ở

- Chương ba ñề cập ñến ñời sống tinh thần của ñối tượng nghiên cứu trong các lãnh vực liên quan ñến ñời sống ñức tin: nguyên tắc ñức tin, thể hiện ñức tin trong thực tế, tác ñộng của chính sách Nhà nước và chủ trương của Giáo hội, cũng việc hội nhập của Công giáo vào dân tộc

Trang 26

- Chương bốn khảo sát tổ chức xã hội của người Việt Công giáo Bến Tre và Sóc Trăng theo các cấp ñộ: cơ cấu tổ chức của giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung, tổ chức giáo xứ, vai trò của giáo xứ

Phần Phụ lục dự kiến gồm một số sưu tập các bài giáo lý, kinh nguyện, thánh

ca, hình ảnh và các lãnh vực hoạt ñộng khác của Công giáo ñể minh hoạ cho các chương nói trên

Trang 27

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ðỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Văn hoá

Trên thực tế, tất cả các ñịnh nghĩa văn hoá thống nhất với nhau ở một ñiểm - ñó là ñặc ñiểm hoặc phương thức hoạt ñộng sống của con người, chứ không phải của ñộng vật “Văn hoá là khái niệm cơ bản ñể chỉ hình thức tổ chức ñời sống của con người” [Belik A.A 2000: 13] Sau ñây là ba ñịnh nghĩa của ba khuynh hướng tiêu biểu:

- Nhóm ñịnh nghĩa miêu tả: “Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, ñạo ñức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác ñược con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội.” [Tylor E.B 2000: 13] Ưu ñiểm của loại ñịnh nghĩa này

là ñưa ra ñược cái nhìn trực tiếp cảm tính, song nhược ñiểm là dài dòng và có nguy

cơ càng kể càng thiếu, vì khó có thể kể ra hết mọi thuộc tính của sự vật, nhất là với một ñối tượng rộng lớn như văn hoá [x Mai Văn Hai 2005: 15]

- Nhóm ñịnh nghĩa nêu ñặc trưng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt ñộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [Trần Ngọc Thêm 1996/2006: 25] Loại ñịnh nghĩa này có ưu ñiểm là tính khái quát cao, ngắn gọn và luôn phù hợp với ñối tượng thay ñổi, nhưng có hạn chế

là tính chính xác kém [Trần Ngọc Thêm 2005: 18]

- Nhóm ñịnh nghĩa lịch sử và xã hội hoá: Theo B.K Malinovski, “văn hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị” Ưu ñiểm của loại ñịnh nghĩa này là ñề cao tính kế thừa trong văn hoá, nhưng còn giới hạn ở

Trang 28

việc chưa xét ựến tắnh tắch cực của chủ thể trong việc tiếp thu, cải biến [x Mai Văn Hai 2005: 11]

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu ựịnh nghĩa theo khuynh hướng lịch sử và xã hội hoá; bởi trong tương quan với ựời sống văn hoá của người Công giáo, mỗi một cá nhân muốn trở thành thành viên xã hội, trước tiên sẽ ựược giáo dục theo chuẩn mực văn hoá Việt Nam ựể làm một người công dân, rồi sau ựó

là theo chuẩn mực của giáo luật, của ựức tin ựể làm một tắn hữa Công giáo Trong

Ộtiến trình xã hội hoáỢ này, mỗi một cá nhân sẽ phải tuân theo các chuẩn mực của truyền thống và các chuẩn mực của ựức tin

1.1.2 Văn hoá với văn minh, văn hiến, văn vật

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm (1996/2006: 25-27), bình thường người ta sử dụng Ộvăn minhỢ như một từ ựồng nghĩa với Ộvăn hoáỢ, nhưng thực tế chúng không ựồng nhất với nhau Xét về tắnh giá trị thì văn hoá chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần, trong khi văn minh thiên về các giá trị vật chất mà thôi Về tắnh lịch sử: văn hoá luôn có bề dày của quá khứ, còn văn minh chỉ là một lát cắt ựồng ựại chỉ trình

ựộ phát triển Về phạm vi: văn hoá mang tắnh dân tộc, còn văn minh thì có tắnh quốc

tế Về nguồn gốc: văn hoá gắn bó nhiều hơn với phương đông nông nghiệp, trong khi văn minh thì với phương Tây ựô thị Riêng ở Việt Nam, có thêm các khái niệm

Ộvăn hiếnỢ và Ộvăn vậtỢ: ỘVăn hiếnỢ thì thiên về các truyền thống lâu ựời hơn, còn

Ộvăn vậtỢ thì thiên về các giá trị vật chất hơn

Bảng so sánh các khái niệm văn hoá, văn hiến, văn vật, văn minh [Trần Ngọc Thêm 1996/2006: 27]:

Chứa cả giá trị vật

chất lẫn tinh thần

Thiên về giá trị tinh thần

Thiên về giá trị vật chất

Thiên về giá trị vật chất - kỹ thuật

phát triển

Trang 29

Có tắnh dân tộc Có tắnh quốc tế

Gắn bó nhiều với phương đông nông nghiệp Gắn bó nhiều với

phương Tây ựô thị 1.1.3 Tiểu văn hoá

Thuật ngữ này mô tả những nhóm người không những sống chung trong bối cảnh của một nền văn hoá rộng lớn, mà còn sống thực sự trong bối cảnh tiểu văn hoá của mình Xã hội nào cũng có cơ cấu và một mạng lưới các quan hệ riêng, trong

ựó tồn tại nhiều nhóm người ựược phân biệt với nhau theo ranh giới lãnh thổ, tộc người, tôn giáo, giới tắnh, ựộ tuổi, trình ựộ học vấnẦ và mỗi nhóm như thế ựều có tiểu văn hoá riêng của mình [x Mai Văn Hai 2005: 192-193] Hiểu theo nghĩa như thế, những tắn ựồ Công giáo cũng hình thành cho mình một tiểu văn hoá Công giáo trong lòng văn hoá Việt Nam Trong tiểu văn hoá Công giáo ấy lại cũng có thêm một tiểu văn hoá của người Công giáo Tây Nam Bộ đời sống văn hoá của cộng ựồng người Việt Công giáo ở Bến Tre và Sóc Trăng sẽ ựược khảo sát trên cơ sở lý luận này

1.1.4 đời sống văn hoá

Trong giáo trình Lý luận văn hoá học, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng:

ỘVăn hoá bao gồm tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra Chắnh ở cách hiểu rộng này mà văn hoá ựã trở thành ựối tượng của văn hoá họcỢ [Trần Ngọc Thêm 2005: 16-17] để minh hoạ thêm cho lập trường của mình, tác giả dẫn thêm ựịnh nghĩa văn hoá của chủ tịch Hồ Chắ Minh: ỘVăn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người ựã sản sinh ra nhằm thắch ứng những nhu cầu ựời sống và ựòi hỏi của sự sinh tồnỢ [dẫn theo Trần Ngọc Thêm 2005: 16] Như thế, con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá Các sản phẩm văn hoá

ra ựời ngay trong ựời sống thường nhật của con người: từ những sinh hoạt vật chất như ăn, mặc, ở, ựi lại; cho ựến những sinh hoạt tinh thần như phong cách ứng xử, tổ chức xã hội, niềm tin, tôn giáo, lễ hộiẦ

Trang 30

Ngược lại, chính con người cũng là sản phẩm của văn hoá: không thể nói ñến văn hoá mà không có con người, cũng như không thể nói ñến con người mà không thấy kết quả tác ñộng của văn hoá [x Mai Văn Hai 2005: 27] Chính khả năng ứng

xử có tính người ñối với thế giới và ñối với ñồng loại, cũng như khả năng lao ñộng, khả năng tư duy, những tình cảm ñạo ñức và cảm xúc thẩm mỹ… biểu lộ cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể của nó Những ñặc tính ấy ñược hình thành nhờ chỗ con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt ñộng lao ñộng, ñi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội [x Rô-den-tan M 1975: 99]

Lối sống/ ñời sống là một hình thức biểu hiện của văn hoá “Lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn bộ hoạt ñộng sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân, trong những ñiều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất ñịnh và biểu hiện trên các lĩnh vực của ñời sống: trong lao ñộng và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá” [Trần Văn Bính (chủ biên) 2000: 190]

Như thế, tất cả những mối tương quan trong ñời sống con người với tự nhiên

và xã hội sẽ tạo ra ñời sống văn hoá của nó chứ không phải những ñặc tính sinh lý của cơ thể Vì vậy, ñề cập “ñời sống văn hoá của người Việt Công giáo ở miền Tây Nam Bộ”, chúng tôi muốn khảo sát “ñời sống văn hoá” của ñối tượng nghiên cứu theo như những tiền ñề lý luận vừa trình bày, chính yếu trên ba lãnh vực: ñời sống vật chất, ñời sống tinh thần và tổ chức xã hội

1.1.5 Tôn giáo, Ki-tô giáo, Công giáo

- Tôn giáo

Theo nghĩa rộng nhất, “tôn giáo là sự trung tín với một tập hợp các niềm tin hay lời giảng dạy về những ñiều huyền bí về sự sống sâu xa nhất và khó hiểu nhất” [Renard John 2005: 25]

Trong khoa xã hội học và triết học Mác-xít, tôn giáo ñược xem là “sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm ñược bản thân mình hoặc ñã ñể mất bản thân mình một lần nữa.” Nhìn tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, Ph Ăng-

Trang 31

ghen cho “tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong ñầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ

là sự phản ánh trong ñó những lực lượng ở trần thế ñã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.” [dẫn theo ðỗ Minh Hợp (chủ biên) 2009: 33]

Ở ñây, chúng tôi quan tâm ñến ñịnh nghĩa của Y Lambert: “tôn giáo là một

hệ thống những niềm tin, những hành vi và những thể chế, giả ñịnh sự tồn tại của các vật thể và/ hay các lực lượng thực thể Siêu việt, nhưng ñược hoà tan vào những thực tại mang tính kinh nghiệm Sự tồn tại của những phương tiện biểu trưng ñể giao lưu ñó với các sức mạnh Siêu việt ñó (cầu khẩn, dâng cúng, nghi lễ, hiến tế,…) nhằm tạo nên những hình thức của nhận thức, làm chủ nó và khi hoàn tất nó sẽ cho phép vượt qua những giới hạn khách quan trong ñiều kiện của con người” [ðặng Nghiêm Vạn 2003: 74-75] Như vậy, một tôn giáo phải bao gồm một hệ thống niềm tin, ñược hình thành do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo biểu hiện rất khác nhau, ñược qui ñịnh bởi một nội dung mang tính siêu thực (hay siêu nghiệm), nhằm tập họp những thành viên trong một cộng ñồng có tính xã hội, bổ trợ cho nhau một cách vững chắc, làm cho các tín ñồ một tôn giáo tin tưởng và thực hành, quên ñi những ñiều người ngoài coi như phi lý, mà lại cho ñó là siêu lý, ñể trở thành một tín ñồ trung thành, tức là ñặt cả cuộc ñời vào niềm tin tôn giáo mà mình theo Tại ñây, ta thấy yếu tố quyết ñịnh của một tín ñồ ñối với tôn giáo họ theo trước hết là niềm tin tôn giáo ðây là ñịnh nghĩa gần nhất ñối với tổ chức giáo hội Công giáo mà ñề tài luận văn ñang triển khai

- Ki-tô giáo: Tôn giáo do ðức Ki-tô sáng lập, giáo lý dựa vào Kinh Thánh, nhất là Tân Ước Nền tảng ñức tin của người tín hữu Ki-tô là sự chết và sống lại của Chúa Giê-su Ba nhánh lớn của tôn giáo này là Chính thống giáo, Công giáo và Tin lành [Thiollier Marguerite-Marie 2001: 129-130]

- Công giáo: Một trong ba nhánh của ñạo Ki-tô, tự coi là tôn giáo phổ biến (Công giáo) ñược hoàng ñế Cônxtantin I chấp nhận làm quốc giáo của ñế quốc La

Mã (324) Giáo hoàng ñứng ñầu giáo hội La Mã là người duy nhất ñại diện cho

Trang 32

Chúa Ki-tô trên trái ñất, giáo dân chỉ ñược cứu vớt linh hồn thông qua Giáo hội [Từ ñiển bách khoa Việt Nam (Tập 1: 1995): 582]

1.1.6 Chức năng của tôn giáo

Tác giả ðỗ Minh Hợp nói về chức năng tôn giáo như là các phương thức tác ñộng của tôn giáo trong xã hội; còn vai trò của tôn giáo là tổng kết quả, hậu quả của việc tôn giáo hoàn thành các chức năng [x ðỗ Minh Hợp 2005: 333]

Tôn giáo thực hiện một số chức năng như thế giới quan, ñền bù, giao tiếp, ñiều tiết, thống nhất - giải thống nhất, chuyển tải văn hoá, hợp thức hoá - giải hợp thức hoá Nhờ chứa trong mình một loại quan ñiểm xác ñịnh về con người, về xã hội và về tự nhiên mà tôn giáo thực hiện ñược chức năng thế giới quan Tôn giáo thực hiện chức năng ñền bù qua việc bù ñắp sự hạn chế, sự lệ thuộc và sự bất lực của con người về phương diện xây dựng lại ý thức, cũng như cải biến những ñiều kiện sinh tồn khách quan Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện rõ ở hai bình diện chính yếu là giao tiếp giữa tín ñồ với nhau và giữa họ với thế giới thiêng Tôn giáo thực hiện chức năng ñiều tiết qua việc quản lý hoạt ñộng và quan hệ, ý thức, và lối ứng xử của cá nhân, nhóm… nhờ những giá trị truyền thống và thể chế xác ñịnh, ñặc biệt là hệ thống những chuẩn tắc (giáo luật, ñạo ñức tôn giáo) Về chức năng thống nhất - giải thống nhất, tôn giáo một mặt tập họp cá nhân, nhóm, thiết chế và mặt khác là chia rẽ chúng với nhau Chức năng thống nhất ñược thực hiện trong khuôn khổ mà một tín ngưỡng chung thống nhất ñã ñược thừa nhận Còn nếu ý thức tôn giáo và lối ứng xử của cá nhân bộc lộ các xu hướng không phù hợp, thậm chí ñối lập nhau, thì tôn giáo thực hiện chức năng giải thống nhất Vốn hàm chứa trong mình yếu tố văn hoá, tôn giáo có khả năng thực hiện chức năng chuyển tải văn hoá

Nó góp phần phát triển các giai tầng văn hoá xác ñịnh: chữ viết, ngành in sách, nghệ thuật, bảo ñảm gìn giữ và phát triển những giá trị văn hoá tôn giáo, chuyển tải di sản tích luỹ ñược từ thế hệ này sang thế hệ khác Tôn giáo còn có chức năng hợp thức hoá - giải hợp thức hoá, nghĩa là nó có khả năng hợp thức hoá một số trật tự, thiết chế xã hội, một số quan hệ, chuẩn tắc, khuôn mẫu là những thứ cần thiết; còn nếu ngược lại, tôn giáo sẽ khẳng ñịnh tính không hợp pháp của chúng [x ðỗ Minh Hợp

Trang 33

(chủ biên) 2009: 130-133] Áp dụng phần lý luận này vào Công giáo: khi tôn giáo này thực hiện ñược các chức năng trên là nó thể hiện vai trò của mình trong ñời sống xã hội

1.1.7 Nhu cầu tôn giáo

Từ khi biết tổ chức thành xã hội, con người ñã có một nhu cầu tôn giáo Những tôn giáo ñược tạo nên bởi những người có cùng một cảm nhận về một nhu cầu tôn giáo, và ñiều ñó có nghĩa là nhu cầu của quần chúng Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu tôn giáo xuất hiện, nhưng là do những ñiều kiện tự nhiên và xã hội Nhu cầu này vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng ñồng, xuất phát từ mong muốn dựa vào sức mạnh thần bí siêu nhiên ñể hỗ trợ cho bản thân vượt lên trên những khó khăn trong cuộc sinh tồn Theo thống kê hiện nay trên toàn thế giới,

số người có nhu cầu tôn giáo chiếm ñến 5/6 số dân [ðặng Nghiêm Vạn 2003: 152] Như thế, tôn giáo là một sáng tạo ñộc ñáo của con người Có thể nói con người là một hữu thể có tôn giáo tính Paul Poupard ñã nói như thế khi trích dẫn nhận ñịnh của sử gia Toynbee: “cho ñến ngày hôm nay, không một nền văn minh nào mà không tôn giáo”, bởi vì, con người về bản chất là người tôn giáo [Poupard Paul 2003: 5] Con người luôn ñi tìm kiếm các câu trả lời về nguồn gốc của mình,

146-về quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; ñặc biệt là những câu trả lời 146-về mục ñích, ý nghĩa tối hậu của sự tồn tại Chính vì thế ñã sản sinh ra những tư tưởng tôn giáo và triết học Số tôn giáo ñược hình thành từ xưa ñến nay ñược xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hoá và quan ñiểm cá nhân khác nhau

1.1.8 Quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá

Tôn giáo ñược xem là hiện tượng phổ biến của văn hoá, là một trong các lĩnh vực văn hoá tinh thần [ðỗ Minh Hợp 2005: 324] Arnold Joseph Toynbee ñi sâu hơn, ông xét tín ngưỡng - tôn giáo với tư cách là tâm lý văn hoá hoặc tiềm ý thức văn hoá, có khả năng có quan hệ tầng sâu không thể coi thường với hình thái văn minh (văn hoá theo nghĩa rộng) [dẫn theo Trương Chí Cương 2007: 201] Thậm chí,

có tác giả còn khẳng ñịnh: Tôn giáo với tính cách hoàn chỉnh của thuật ngữ là một hiện tượng văn hoá tinh thần Còn xét bản chất vấn ñề tôn giáo thì tôn giáo là một

Trang 34

thành tố ựặc trưng của tất cả mọi nền văn hoá nói chung [Trương Sĩ Hùng 2007: 5

và 238] Chúng tôi chấp nhận tôn giáo là một thành tố của văn hoá, và khảo sát ựời sống văn hoá Công giáo như là một bộ phận của văn hoá Việt Nam nói chung

1.2 Các lý thuyết giải thắch

1.2.1 Lý thuyết loại hình văn hoá

Văn hoá là sản phẩm của con người Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chủng người cổ xưa nhất ựã hình thành chắnh yếu từ hai trung tâm: trung tâm phắa Tây (Phi-Âu) và trung tâm phắa đông (Úc-Á) Từ sự phân biệt ỘTâyỢ và

ỘđôngỢ thuần tuý ựịa lý ấy, trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, hai khái niệm Ộphương TâyỢ và Ộphương đôngỢ theo nhãn quan văn hoá cũng ựược hình thành Chắnh sự khác biệt về ựiều kiện tự nhiên và xã hội ựã làm nên nguồn gốc sâu

xa về những khác biệt văn hoá Phương Tây với khắ hậu lạnh, khô và những ựồng

cỏ hình thành nên nền kinh tế chăn nuôi với lối sống du mục Phương đông với khắ hậu nóng ẩm mưa nhiều tạo nên các vùng ựồng bằng trù phú hình thành nên nền kinh tế trồng trọt với lối sống ựịnh cư Các tiền ựề tự nhiên ấy ựã tạo nên một cách khá rõ ràng hai loại hình văn hoá: Văn hoá kiểu nông nghiệp mang tắnh trọng tĩnh, ựiển hình là các nền văn hoá phương đông; và văn hoá du mục mang tắnh trọng ựộng, ựiển hình là các nền văn hoá phương Tây [x Trần Ngọc Thêm 1996/2006: 33-38]

1.2.2 Lý thuyết chức năng

Chức năng luận của Bronislaw Malinowski: Lý thuyết các nhu cầu là nền tảng trong khái niệm văn hoá của Malinowski Ông nói: ỘTrong bất cứ dạng văn minh nào và bất cứ tập quán nào, các ựối tượng vật chất, tư tưởng và các tắn ngưỡng thực hiện chức năng sinh ựộng nào ựó, xử lý nhiệm vụ nào ựó, ựều là bộ phận cần thiết ở bên trong một chỉnh thể hoạt ựộng.Ợ Tác giả cho rằng bất kỳ nền văn hoá nào trong tiến trình phát triển của nó ựều tạo ra một hệ thống cân bằng ổn ựịnh, trong ựó mỗi bộ phận chỉnh thể ựều thực hiện chức năng của nó Nếu triệt tiêu một yếu tố nào ựó trong văn hoá, thì toàn bộ hệ thống văn hoá - tộc người, có nghĩa là dân tộc,

Trang 35

sinh sống trong hệ thống ấy, sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và huỷ hoại [Belik A.A 2000: 106]

1.2.3 Lý thuyết cấu trúc

Cấu trúc luận của Lévi-Strauss xác ựịnh vị trắ cấu trúc ở tư tưởng con người

và xem sự giao tiếp xã hội như là biểu hiện ngoại tại của các cấu trúc nhận thức như thế Ông quan tâm ựến ựời sống của những hệ thống xã hội, chứ không phải những

cá nhân, và nhu cầu của cá nhân thì không quan trọng bằng nhu cầu ựược giả ựịnh

là của hệ thống Cái cấu trúc do trao ựổi tạo ra thì do cấu trúc của tư tưởng con người quyết ựịnh Lý thuyết cấu trúc xem cấu trúc của xã hội là sản phẩm của ý tưởng thay vì của những ựiều kiện vật chất của tồn tại xã hội Lévi-Strauss khẳng ựịnh rằng chắnh cấu trúc của nhận thức của con người tạo nên cấu trúc trong quan

hệ xã hội, và nội dung của tư tưởng cấu trúc là thuộc tắnh của những truyền thống văn hoá nhất ựịnh, giống như sự cực kỳ ựa dạng của ngôn ngữ [Robert Layton 2007: 117.136-138] Cái cấu trúc mà Lévi-Strauss quan niệm là nguyên lý tổ chức

cơ bản nằm dưới trật tự của một xã hội nhất ựịnh Trong cấu trúc luận, Strauss không tin rằng cách con người sống quyết ựịnh cách họ nghĩ đúng hơn, cách con người nghĩ quyết ựịnh cách họ sống [Phan Thu Hiền 2008: Tập bài giảng]

Chúng tôi sử dụng các khái niệm và lý thuyết trên ựể nghiên cứu văn hoá Công giáo với tư cách là một tiểu văn hoá trong văn hoá Việt Nam, và văn hoá Công giáo Tây Nam Bộ với tư cách là tiểu văn hoá trong văn hoá Công giáo Việt Nam Nguyên tắc triển khai là tắnh thống nhất trong ựa dạng của văn hoá Bởi văn hoá có tắnh ựa dạng và sự thống nhất [x đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai 2007: 172], chúng tôi cũng khảo sát sự kết hợp giữa hai ựặc tắnh này như thế nào trong cộng ựồng Công giáo Tây Nam Bộ; ựồng thời, giải thắch tắnh thống nhất trong ựa dạng, lý giải vai trò và chức năng của Công giáo, cũng như tổ chức xã hội Công giáo trong ựời sống của người tắn hữu

1.3 Tổng quan về cộng ựồng Công giáo hai tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng

1.3.1 điều kiện tự nhiên - xã hội

Trang 36

Vùng ñồng bằng sông Cửu Long (màu xanh dương)

[nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/

T%E1%BA%ADp_tin:C%C3%A1c_v%C3%B9ng_c%E1

%BB%A7a_Vi%E1%BB%87t_Nam.png]

Bến Tre và Sóc Trăng nằm trong vùng văn hoá Tây Nam Bộ, còn gọi là vùng

văn hoá ñồng bằng sông Cửu Long Toàn bộ ñồng bằng này là sản phẩm bồi lắng của con “sông Mẹ” Cửu Long ðây là một lớp phù sa mới ñược bồi ñắp trên một lớp phù sa cổ, dưới cùng là nền ñá cứng Nền ñá này ñược hình thành khoảng 400 triệu năm trước Lớp phù sa mới do sông Mê-kông mang ra gồm nhiều ñơn vị thành tạo: ñê thiên nhiên, ñồng ngập trũng, bưng lầy, ñất giồng, ñất phèn, ñất mặn, ñất than bùn, ñất phù sa Trong số 4 triệu hecta ñất ñồng bằng sông Cửu Long, hiện có hơn 1% ñất giồng, gần 1% ñất than bùn, 17,5% ñất mặn, 46% ñất phèn, 24% ñất phù sa [x Nguyễn Công Bình 1990: 11-13]

Cho ñến thế kỷ XIII, cả vùng Nam Bộ vẫn còn rất hoang vắng Trong chuyến công du sang Chân Lạp năm 1296-1297, Châu ðạt Quan ñã mô tả: “Bắt ñầu vào Chân Bồ (Vũng Tàu) hầu hết cả vùng ñều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi Vào nửa ñường trong cửa sông, người ta mới thấy lần ñầu cánh ñồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng

tụ họp từng bầy Nhiều con ñường dốc ñầy tre chạy dài hàng trăm lý…” [Châu ðạt Quan 2007: 9.73]

Trang 37

Sau ựó, theo Nguyễn đăng Duy [1997: 9-12], Nam Bộ ựược khai phá chủ yếu do những lớp lưu dân người Việt Thế kỷ XVI, người Việt ựã lập những ựơn vị

cư trú ở Cà Mau, Rạch Giá và Hà Tiên Thế kỷ XVII, họ ựã thành lập một số làng ở Long An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa đéc Thế kỷ XVIII, các vùng từ Cần Giờ ựến cửa đại, cửa Tiểu ựã có những ựồng bằng bằng phẳng, ựất ựai màu mỡ Thế kỷ XIX, ựồng bằng sông Cửu Long ựược khai phá với quy mô lớn, cho ra ựời những hệ thống các ựồn ựiền trồng lúa rộng lớn đến thế kỷ XX, coi như toàn bộ Tây Nam Bộ

ựã ựược khai hoang hoàn toàn

Tỉnh Bến Tre và tỉnh Sóc Trăng hiện nay nằm trong vùng văn hoá Tây Nam

Bộ Khu vực này còn ựược gọi là vùng ựồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, hoặc ngắn gọn là miền Tây, có 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, thành phố Cần Thơ, đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long Diện tắch tự nhiên toàn vùng là 39.717,3 km2, chiếm 12% diện tắch cả nước Tây Nam Bộ là vùng ựồng bằng châu thổ do sông Cửu Long (Mê-kông) tạo nên, với ựộ cao trung bình so với mực nước biển chỉ là 3-5m, ựộ dốc trung bình là 1 cm/km đây là một trong những ựồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu của đông Nam Á và thế giới (trong ựó ựất phù sa chiếm 29,7% diện tắch toàn vùng, ựất phèn chiếm 40%, ựất mặn chiếm 16,7%, ựất xám và các loại ựất khác chiếm13,6%), là vùng cây ăn trái nhiệt ựới, vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước Miền Tây Nam Bộ có khắ hậu nhiệt ựới ẩm, nhiệt ựộ trung bình hàng năm là 24-270C; lượng mưa trung bình từ 1.700-2.000 mm/năm Ở ựây có hệ thống kênh rạch dày ựặc, tổng lượng nước trong năm của hệ thống sông Cửu Long là 500 tỉ m3, rất thuận tiện cho giao thông ựường thuỷ và cho nuôi trồng thuỷ sản Nhờ bờ biển dài trên 736 km2 với nhiều ựảo và quần ựảo, Tây Nam Bộ trở thành vùng thuỷ sản lớn nhất nước, có hệ sinh thái rừng ngập mặn ựiển hình nhất nước đây là vùng tận cùng phắa Tây Nam của Việt Nam, tiếp giáp với biển của các nước đông Nam Á (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Indonesia), nằm trong khu vực có nhiều ựường giao thông

Trang 38

Tỉnh Bến Tre [Nguồn: http://www.bentre.gov.vn/index.php?

sông lớn giống như nan quạt

xoè rộng ra ở phắa đông

Diện tắch tự nhiên của tỉnh

có 2.315 km2, dân số là

1.254.589 người với dân tộc

chiếm ựa số là người Kinh,

và 105057Ỗ-106048Ỗ kinh đông Khắ hậu nhiệt ựới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 ựến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô Nhiệt ựộ trung bình năm từ 26-270C Lượng mưa trung bình năm từ 1.250-1.500 mm [Thạch Phương 1991: 63.110]

Tắnh ựến 25-3-2009, ựơn vị hành chắnh của tỉnh có 8 huyện, 1 thành phố: Thành phố Bến Tre: 10 phường và 6 xã

Trang 39

Tỉnh Sóc Trăng [Nguồn: http://www.soctrang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_

9012Ỗ-9056Ỗ vĩ Bắc và 105033Ỗ-106023Ỗ kinh đông đường bờ biển dài 72 km và 3 cửa sông lớn: định An, Trần đề, Mỹ Thanh ựổ ra biển đông Sóc Trăng nằm trong vùng khắ hậu nhiệt ựới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 ựến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 ựến tháng 4 năm sau Nhiệt ựộ trung bình hàng năm là 26,80C, ắt khi bị bão

lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8 ựến tháng 10, ựộ ẩm trung bình là 83%6

5 Nghị ựịnh 08/CP ngày 9 tháng 2 năm 2009 của Chắnh Phủ tách huyện Mỏ Cày cùng một phần của huyện Chợ Lách thành huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam Chúng tôi chưa tìm ựược bản ựồ cập nhật thông tin này

6 Cổng thông tin ựiện tử tỉnh Sóc Trăng:

http://www.soctrang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gLR1dvZ09LYwOL4GAnA08TRwsfvxBDIz

Trang 40

Tính ñến năm 2010, ñơn vị hành chính của tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố với

109 xã, phường, thị trấn, gồm:

ðơn vị Diện tích (ha) Dân số (người)

Mật ñộ dân số (người/km2)

9jM6B8JG55H1NidDu7O3qYmPsYGPgbhRkYGPmZBgcahAYbG3gaE9AdDnItfv0geQMcwNEAIo_T9eYE5E31_Tzyc1P1C3JDIww yPXUBfWUDuA!!/dl3/d3/L3dDb0EvUU5RTGtBISEvWUZSdndBISEvNl84QUVLQ0k5MzA4U1NCMEk0QThMTlQxMk4zNQ!!/

7 Cổng thông tin ñiện tử tỉnh Sóc Trăng:

http://www.soctrang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gLR1dvZ09LYwO L4GAnA08TRwsfvxBDIz8_U6B8JG55H1NidDu7O3qYmPsYGPgbhRkYGPmZBgcahAYbG3gaE9AdDnIt HtvNCcibQuTx2Q-

SN8ABHA30_Tzyc1P1C3JDIwwyPXUBDsbndw!!/dl3/d3/L3dDb0EvUU5RTGtBISEvWUZSdndBISEvNl8 4QUVLQ0k5MzA4U1NCMEk0QThMTlQxMk4zNg!!/

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w