Khuynh hướng phát triển

Một phần của tài liệu Văn hóa kinh doanh ở miền tây nam bộ (Trang 97 - 100)

Chương 3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH CÁCH MIỀN TÂY NAM BỘ THỂ HIỆN QUA KINH DOANH

3.3 Tương lai của văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ

3.3.1 Khuynh hướng phát triển

Theo chúng tôi, xét về tổng thể, văn hóa kinh doanh miền Tây Nam Bộ sẽ phát triển vì nó phù hợp với xu hướng phát triển của văn hóa Việt Nam và xu hướng của văn hóa kinh doanh thế giới nếu có những điều chỉnh phù hợp.

Trước nhất, một số tính cách văn hóa miền Tây Nam Bộ thể hiện qua kinh doanh rất hữu ích cho việc phát triển một kiểu văn hóa kinh doanh phù hợp với yêu cầu mới: hài hòa có khuynh hướng thiên về dương tính; trọng có lý có tình, coi phát triển là chính. “Văn hoá Việt Nam có thể tự điều chỉnh để chuyển từ truyền thống hài hoà thiên về âm tính sang sự hài hoà thiên về dương tính. Việc thiên về dương tính sẽ hướng đất nước sang con đường phát triển; còn tính hài hoà sẽ đảm bảo cho phát triển vững chắc – đó là phát triển trong dung hợp và tích hợp văn hoá phương Đông với phương Tây, văn hoá dân tộc với văn minh thế giới” [Trần Ngọc Thêm 2004: 587-588].

Xét theo xu hướng kinh doanh thế giới hiện nay, một số tính cách văn hóa của người miền Tây Nam Bộ có thể tạo ra, nuôi dưỡng và duy trì nguồn vốn xã hội23 cần thiết cho phát triển kinh doanh nếu biết phát huy định hướng Thắng – Thắng, đảm bảo hài hòa quyền lợi của các đối tượng hữu quan.

23 Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới [Nguyễn Ngọc Bích 2008: Vốn xã hội và phát triển (Phần 1) ].

Trong đó, chữ tín, hay sự tin tưởng là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính đồng thuận và hài hòa quyền lợi.

Hai giải Nobel về kinh tế học (1994, 2005) đã chứng minh trong một thị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” (Trạng thái cân bằng Nash) chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không phải là lừa lẫn nhau theo kiểu ai nhanh thì được. Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh (Barry J. Nalebuff & Adamm. Brandenburger) đã chỉ rõ nếu các bên tham gia kinh doanh đều “mù quáng” chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả đều bị thua thiệt mà thôi.

Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội. Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của người khác. "Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội”. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao”24.

Vốn xã hội sẽ làm giảm chi phí khi thực hiện các công việc phát sinh từ các hành vi trang trọng như hợp đồng, mối tương quan giữa các cấp, hay từ quy định của các doanh nghiệp. Trong các hoạt động kinh doanh, nếu hai bên tin nhau thì có thể cắt giảm một số điều kiện không cần thiết trong hợp đồng hoặc trong các giao dịch kinh doanh giúp giảm thiểu thời gian và tăng hiệu

24 Hình thức liên kết kreitsu của người Nhật đã cho thấy rõ những lợi ích vượt trội này.

suất lợi nhuận của tiền vốn 25 Tương tự, trong các nơi không sử dụng kỹ thuật cao, vốn xã hội sẽ tạo ra một hiệu quả cao hơn khi so sánh nó với các kỹ thuật chính thức hiện dùng để phối hợp công việc26. Ngày nay, trong nhiều tổ chức kinh doanh, việc giảm các tầng quản trị, tăng cường giao quyền cho nhân viên sẽ giúp công việc được thực hiện nhanh chóng hơn, ít tốn kém các nguồn lực và nó hoàn toàn tùy thuộc vào vốn xã hội của lực lượng lao động.

Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu [Nguyễn Ngọc Bích 2008: Vốn xã hội và phát triển].

Trong “khám phá bí mật kinh doanh của người Trung Quốc, Minh-Jer Chen dự báo: “Con đường trung dung là con đường toàn cầu”. Nghĩa là, xu hướng chủ đạo phát triển văn hóa kinh doanh của thế giới là cân bằng giữa lợi nhuận và trách nhiệm; quân bình văn hóa (dung nạp, chấp nhận văn hóa của các thành phần khác) để khắc phục những “vấn nạn” của phát triển nóng về kinh tế, của “não trạng” muốn làm giàu nhanh [2004: 169 - 187].

Định hướng dài hạn hỗ trợ bởi định hướng ngắn hạn và lối hành xử trọng tín giúp người Hoa kinh doanh thành công. “Doanh nhân người Hoa ở miền Nam đã khẳng định vị thế của mình. Ban đầu họ kinh doanh các ngành nghề dịch vụ từ qui mô nhỏ và khi tích luỹ được vốn thì tiến tới kinh doanh với qui mô lớn và chuyển sang sản xuất. Kiểu kinh doanh theo định hướng

25“Chị gom số tiền ít ỏi còn lại đi đồ trang sức giả nhưng được mạ vàng ta và một bộ quần áo đẹp, một giỏ lớn bánh kẹo rồi về quê ở Chợ Gạo. Cung cách “tiêu tiền” và cư xử của chị khiến mọi người tin là chị đang

“ăn nên làm ra” nên xin chị cho góp vốn làm ăn. Chỉ trong một ngày, chị vay được 11 cây vàng và ký giấy trả lãi theo năm [Nguyễn Như Phong 2008].

26 Vốn xã hội giúp giữ mối quan hệ tốt với đối tác để triển khai việc kinh doanh nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. “Tiền nợ, tiền gối đầu chuyến này ăn hàng chuyến khác, tiền cho những người thu mua hàng cho mình mượn trước, tức đầu vụ mình cho họ mượn tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bao trái, khi có hàng thì họ chở ra cân cho mình. Bằng cách này, chúng tôi giúp qua giúp lại và không bao giờ thiếu hàng cung ứng cho thị trường. Tôi còn có quan hệ với thương lái ở Cái Tắc, Phụng Hiệp (Hậu Giang), nên nếu có thiếu loại hàng mà thị trường đang cần, mình chỉ cần a-lô là sẽ có ngay” [Văn Kim Khanh 2010].

dài hạn, trọng chữ “TÍN” đã giúp các thương nhân gốc Hoa thành công [Nguyễn Thanh Lân 2007: 92].

“Soi” các tính cách văn hóa miền Tây Nam Bộ thể hiện qua kinh doanh dưới các lăng kính trên cho thấy những điểm phù hợp và những điểm “chưa phù hợp” cần điều chỉnh.

Một phần của tài liệu Văn hóa kinh doanh ở miền tây nam bộ (Trang 97 - 100)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)