1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa giao tiếp của người việt ở miền tây nam bộ

188 210 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ đã được tiếp cận trực tiếp và gián tiếp trong một số công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí khoa học, mạng truy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Tp HỒ CHÍ MINH, năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-W X - ĐOÀN THỊ THOA

VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

Mã ngành: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN THU HIỀN

Tp HỒ CHÍ MINH, năm 2010

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

7 Bố cục luận văn 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 VĂN HÓA GIAO TIẾP 8

1.1.1 Giao tiếp 8

1.1.2 Văn hóa giao tiếp 22

1.2 ĐỊNH VỊ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 27

1.2.1 Không gian văn hóa 27

1.2.2 Chủ thể văn hóa 31

1.2.3 Thời gian văn hóa 34

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 39

2.1 THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI GIAO TIẾP 39

2.1.1 Cơ sở hình thành thái độ đối với giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ 39

2.1.2 Thái độ cởi mở trong giao tiếp 46

2.2 ĐÚC KẾT KINH NGHIỆM GIAO TIẾP 65

2.2.1 Kinh nghiệm phán xét tính cách, phẩm chất con người qua diện mạo, cử chỉ, hành động 65

2.2.2 Kinh nghiệm ứng xử trong giao tiếp 66

Tiểu kết 69

CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TỔ CHỨC GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 71

3.1 GIAO TIẾP TRONG GIA ĐÌNH 71

3.1.1 Quan hệ ông bà - cha mẹ - con cháu 71

3.1.2 Quan hệ vợ - chồng 79

3.1.3 Quan hệ anh, chị - em; con trai - con gái, dâu rể 86

3.1.4 Quan hệ họ hàng 92

Trang 4

3.2 GIAO TIẾP XÃ HỘI 96

3.2.1 Quan hệ với hàng xóm, láng giềng 96

3.2.2 Quan hệ bạn bè 107

3.2.3 Quan hệ lứa đôi 112

3.2.4 Quan hệ với người Hoa, Khmer, Chăm 121

Tiểu kết 128

CHƯƠNG 4: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 130

4.1 TÍNH THẲNG THẮN, BỘC TRỰC, GIẢN DỊ 130

4.2 TÍNH CỤ THỂ, THỰC TIỄN 143

4.3 TÍNH DÂN CHỦ, PHÓNG KHOÁNG 152

4.4 CHẤT NAM TÍNH 162

Tiểu kết 169

KẾT LUẬN 170

TÀI LIỆU THAM KHẢO 175

Trang 5

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giao tiếp là một nhu cầu quan trọng của con người Ngoài mục đích trao đổi thông tin, giao tiếp thể hiện cho một loạt các nhu cầu cơ bản của con người: nhu cầu sinh tồn, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định bản thân Giao tiếp còn là một hoạt động mà thông qua đó con người xác lập hàng loạt các quan hệ xã hội quanh mình, như một phương thức chung của sự tồn tại và phát triển Trong từng mối quan hệ, mỗi người lại cần đến những cách thức ứng

xử giao tiếp khác nhau sao cho quá trình giao tiếp được thuận lợi và hiệu quả Theo

đó, trong quá trình tồn tại và phát triển, con người đã sáng tạo và tích lũy được một hệ thống các giá trị văn hoá thông qua hoạt động giao tiếp – văn hoá giao tiếp

Miền Tây Nam Bộ là phần đất cuối cùng tổ quốc, nơi mà những lưu dân người Việt, Hoa, Chăm lần lượt gửi gắm những khát vọng về sự an cư, lạc nghiệp, nương nhờ bao ước muốn về sự tự do, bình đẳng Trong từng bước chân xuôi miền cực Nam, những lưu dân người Việt luôn phải đối diện với những cái mới lạ, cái đa dạng và phong phú của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Để có thể tồn tại

và phát triển nơi miền đất này con người buộc phải giao tiếp Chắc chắn rằng, trong quá trình định cư và phát triển, những lưu dân người Việt đã phải lựa chọn và sáng tạo cho mình những phương thức ứng xử mới

Ngoài các lĩnh vực khác, giao tiếp được quan tâm nhiều trong lĩnh vực truyền thông với mục đích là đem lại một hiệu quả tốt nhất cho quá trình thông tin Công tác

giảng dạy báo chí phát thanh truyền hình chắc chắn tìm được nhiều điều bổ ích từ “Văn

hoá giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ”, đó cũng là lý do chọn lựa đề tài

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ đã được tiếp cận trực tiếp và gián tiếp trong một số công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí khoa học, mạng truyền thông …

Thứ nhất, tiếp cận văn hóa giao tiếp của Nam Bộ từ các lĩnh vực

chuyên ngành

Trang 6

Từ góc độ ngôn ngữ học: các tác giả Lê Anh Trà 1984, Thạch Phương, Hồ Lê,

Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992, Trần Thị Ngọc Lang 1995, Huỳnh Công Tín

1996, Nguyễn Thế Truyền 1999, Nguyễn Thế Truyền 2002, Lâm Uyên Ba 2003, Hồ Xuân Tuyên 2004, Nguyễn Văn Nở 2004, Huỳnh Công Tín 2006, 2007, Lý Tùng Hiếu 2008 đã lần lượt tìm hiểu về các đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ (ngữ âm, cấu tạo từ, ngữ pháp, cách sử dụng…) thể hiện cho những đặc trưng tư duy và phong cách diễn đạt, tính cách con người, các tính chất quan hệ trong gia đình và xã hội của

người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng

Từ góc độ xã hội học: một số tác giả đã tìm hiểu tác động của các điều kiện

kinh tế - xã hội, dân cư, các hệ tư tưởng xã hội như Nho giáo, Phật giáo, phương Tây đến đời sống vật chất và tinh thần, tính cách và hoạt động giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung như Phan Quang 1985; Sơn Nam 1992, 2000; Nguyễn Hữu Hiệp 2008

Từ góc độ văn học: từ các dữ liệu văn học, một số nhà nghiên cứu đã tìm

hiểu về các đặc trưng ngôn ngữ và phong cách diễn đạt của người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng như Lê Văn Bột 2003, Hồ Tĩnh Tâm 2009a, Trần Phỏng Diều 2008, Trần Văn Nam 2008…

Từ góc độ tâm lý học: Tìm hiểu sự khác nhau trong đặc trưng tư duy và

phong cách người Nam Bộ thông qua tiếng cười có tác giả Huỳnh Công Tín 2006, Mai Thanh Thắng 2006

Thứ hai, tiếp cận văn hóa giao tiếp của Nam Bộ theo mảng đề tài, khía cạnh vấn đề

Tìm hiểu về chủ thể giao tiếp là người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền

Tây Nam Bộ nói riêng qua đặc điểm xuất thân, tính cách được lần lượt các tác giả quan tâm như Sơn Nam 1964/2006, Lê Anh Trà 1984, Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992, Huỳnh Lứa 2002, Trần Ngọc Thêm 2006

Về bối cảnh giao tiếp: sự tác động của không gian giao tiếp đến hoạt động

giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ cũng được nhiều tác giả đề cập đặc biệt

là Sơn Nam 1992, 1993, 2000, Huỳnh Lứa 2002

Trang 7

Phương tiện giao tiếp: hệ thống từ xưng hô, ý thức và định danh về thời gian

cũng lần lượt được nghiên cứu bởi các tác giả Trần Thị Ngọc Lang 1995, Mai Thanh Thắng 2005, Hồ Xuân Tuyên 2007, …

Tìm hiểu về các khía cạnh của đặc trưng giao tiếp như thái độ, phong cách

ứng xử có các tác giả như Sơn Nam 1964/2006, Lê Anh Trà 1984, Phan Quang

1985, Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diêm, Mạc Đường 1990, Sơn Nam 1992; Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992; Sơn Nam 1993, Nguyễn Văn Nở 2005, Nguyễn Hữu Hiệp 2007, Trần Thanh Vân 2007

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về văn hóa giao tiếp của người Việt nói

chung gợi mở cho đề tài các phương pháp nghiên cứu, khía cạnh tìm hiểu, những

sự so sánh để thấy rõ sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam như:

- Xác định các tính chất, khía cạnh văn hóa trong hoạt động giao tiếp của

người Việt Nam (Nguyễn Kim Thản 1982, Nguyễn Thị Hoàng Yến 2006)

- Tính hệ thống của các biểu hiện văn hóa và quá trình tiếp biến của chúng

(Trần Ngọc Thêm 1996/2004)

- Xem xét các bình diện ứng xử của người Việt, giữa ứng xử truyền thống

và hiện đại bằng cách phân tích hoàn cảnh lịch sử xã hội (Phạm Minh Thảo 1996; Nguyễn Văn Khang 1996, Nguyễn Trọng Báu 2006)

- Xác định các góc độ tiếp cận của văn hóa giao tiếp qua ngôn ngữ, các

phương tiện giao tiếp và qua các loại quan hệ (Hữu Đạt 2000), (Nguyễn Đăng Khánh 2008)

Tóm lại, về mặt nội dung, các công trình đi trước đã nhiều đóng góp đáng kể

cho việc tìm hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ

Văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung đã được tiếp cận khá phong phú và sâu rộng từ góc độ ngôn ngữ Cụ thể là những đặc điểm về ngữ âm, cấu tạo từ, ngữ pháp, hệ thống từ xưng hô và cách thức xưng hô, mức độ biểu đạt của từ ngữ, dấu ấn thế giới quan và nhân sinh quan của con người trong ngôn ngữ… Những công trình, bài viết tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ trên đã tạo nên những tiền đề khoa học và thực tiễn phong phú về ngôn ngữ trong

Trang 8

hoạt động giao tiếp Đây là nhóm tư liệu mang nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn cho người đi sau có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu

Những nhận định, đánh giá về thái độ, tâm lý, tình cảm và phong cách ứng xử của người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ trong giao tiếp cũng được nhiều công trình, bài viết đề cập Nó tạo nên những điểm tựa để so sánh, giúp cho việc nhận thức và đánh giá khách quan hơn Tuy nhiên, hầu hết các công trình chỉ dừng lại trong một vài phân tích nhỏ, và mang tính dàn trải Phần chứng minh các nhận định, đánh giá chưa được xúc tiến làm rõ, và đây sẽ là điểm mà đề tài phấn đấu tiếp nối

Văn hóa giao tiếp của người Việt Miền Tây Nam Bộ có thể tìm hiểu thông qua tính cách con người “Con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”

và tính cách con người là sản phẩm của quá trình tổng hòa đó Những nhận định

và đánh giá về tính cách người Việt Nam Bộ là nhóm nội dung tiếp theo cho phép chúng ta có cái nhìn biện chứng, khách quan về sự tác động của các điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội đến hoạt động giao tiếp và văn hóa giao tiếp của con người

Các đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam sẽ là nền tảng cho

việc tìm hiểu Văn hóa giao tiếp của người Việt Miền Tây Nam Bộ Những điểm

tương đồng và khác biệt trong văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ

và cả nước (Bắc Bộ) giúp chúng ta thấy được bản sắc văn hóa và sự biến thiên của văn hóa Việt Nam

Về mặt phương pháp: Phần lớn các công trình trên đều sử dụng phương

pháp nghiên cứu chuyên ngành (ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học, văn hoá dân gian…), thực hiện các phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp điền dã, kết hợp với các thao tác miêu tả, phân tích, tổng hợp… Những nhận định, đánh giá dựa trên các quan sát thực địa, kinh nghiệm, vốn sống và sự cảm thụ của mỗi nhà nghiên cứu cũng là một phương pháp nghiên cứu được nhiều tác giả sử dụng

Phương pháp điều tra và thống kê cũng là một trong các phương pháp mà các nhà nghiên cứu hay sử dụng để xác định những mặt biểu hiện của văn hóa Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu đang gặt hái được nhiều thành tựu

Trang 9

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là văn hoá giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ, bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần mà người Việt miền Tây Nam Bộ đã sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động giao tiếp

Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của văn hoá giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ

tài “Văn hóa giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ” giới hạn tư liệu khảo sát

trong tục ngữ, ca dao và một số tác phẩm văn học ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Về mặt khoa học, luận văn góp phần sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về văn hoá giao tiếp, văn hoá vùng và văn hoá Việt Nam

Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng giao tiếp của người Việt ở Tây Nam Bộ, sự phong phú và đa dạng trong văn hoá giao tiếp của người Việt trong cả nước Điều này mong góp phần giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa giao tiếp tốt đẹp mà nhân dân miền Nam đã sáng tạo và tích lũy

Từ góc độ cá nhân, những kiến thức và kết quả nhận được từ luận văn sẽ giúp ích rất nhiều trong công tác giảng dạy báo chí phát thanh truyền hình, như trang bị kiến thức và kỹ năng giao tiếp, văn hóa giao tiếp cho phóng viên, phát thanh viên chuyên ngành phát thanh truyền hình Điều này góp phần tích cực cho

Trang 10

công tác quản lý văn hoá, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá trên làn sóng truyền thông Việt Nam

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ là nghiên cứu một tiểu thành tố của Văn hóa Việt Nam nói chung nên luận văn sẽ sử dụng

phương pháp hệ thống - cấu trúc Vì giao tiếp liên đến thành tựu của nhiều ngành

như: tâm lý học, giao tiếp học, ngôn ngữ học, xã hội học, dân tộc học, văn hóa dân

gian … nên để tiếp cận đối tượng luận văn sẽ cần đến phương pháp nghiên cứu

liên ngành

Nghiên cứu văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ, không chỉ nhìn nhận lại những giá trị văn hóa theo chân cha ông ta vào miền cực Nam mở đất, mà còn hướng tới những giá trị văn hóa mới hình thành và phát triển trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và môi trường hội ở miền Tây

Nam Bộ Vì vậy luận văn sẽ sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội, áp dụng cái

nhìn đồng đại và lịch đại để quan sát, nghiên cứu tọa độ chủ thể, thời gian và không gian văn hóa

Văn hóa giao tiếp là một bộ phận của văn hóa tổ chức cộng đồng nên việc

nghiên cứu cần sử dụng phương pháp điều tra- thống kê, các thao tác miêu tả, phân

tích, tổng hợp số liệu Luận văn cần sử dụng phương pháp so sánh văn hóa để làm

sáng tỏ tính dân tộc và tính địa phương trong văn hóa giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ

6.2 Nguồn tài liệu

Bao gồm các công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, kinh tế xã hội, văn học dân gian, địa lý khí hậu … về Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng

Các công trình nghiên cứu, biên khảo, bài viết trên các tạp chí, tư liệu mạng của các tác giả trong và ngoài nước về khoa học giao tiếp, văn hóa giao tiếp của người Việt và văn hóa của người Việt ở Nam Bộ

Trang 11

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm 4 chương

Chương một: “Những vấn đề chung” bao gồm cơ sở lý luận về giao tiếp, văn

hóa giao tiếp và cơ sở thực tiễn dùng để định vị văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ

Chương hai: “Văn hóa nhận thức về giao tiếp của người Việt miền Tây Nam

Bộ” tìm hiểu thái độ đối với giao tiếp và kinh nghiệm trong giao tiếp của người Việt

ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng

Chương ba: “Văn hóa tổ chức giao tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ”

tìm hiểu các nguyên tắc tổ chức và tính chất của các mối quan hệ trong giao tiếp gia đình và xã hội của người Việt ở miền Tây Nam Bộ

Chương bốn: “Văn hóa ứng xử trong giao tiếp của người Việt miền Tây Nam

Bộ” với mục đích làm rõ những đặc trưng có tính địa phương của văn hóa ứng xử

trong giao tiếp người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 VĂN HÓA GIAO TIẾP

Văn hóa giao tiếp được sáng tạo và tích lũy thông qua hoạt động giao tiếp Vậy, tìm hiểu về văn hóa giao tiếp sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu giao tiếp

Socrate và Platon đã xem “đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối

quan hệ giữa con người với con người” Trong Bản thảo kinh tế - Triết học 1884,

Macx (1818 – 1883) đã dùng khái niệm “giao tiếp vật chất” để chỉ mối quan hệ sản

xuất thực tiễn của con người Trên cơ sở này, ông cho thấy trong sản xuất vật chất

và tái sản xuất con người phải có giao tiếp trực tiếp Con người chỉ trở thành con người khi có quan hệ trực tiếp với những người khác Như vậy, theo Macx giao tiếp

là “khí quan xã hội” [Hoàng Anh 2007:161,162]

Giao tiếp được nghiên cứu đầy đủ trong Chủ nghĩa hiện sinh của Iaxpecxo Caclo (1883 – 1969), đại diện cho những người theo chủ nghĩa hiện sinh Đức Về mặt lịch sử, thuyết giao tiếp được hình thành để đối lập lại với khế ước xã hội bắt nguồn từ phong trào khai sáng Những người theo thuyết giao tiếp nhấn mạnh rằng

khế ước xã hội về cơ bản chỉ là “một sự thỏa thuận, một sự hợp đồng” trong đó

những người tham gia bị hạn chế bởi những lời cam kết từ hai phía; họ chỉ tự giác

và hiểu nhau dưới ánh sáng của các lời cam kết này, “Khế ước” - theo họ đó là một

liên hệ dựa trên sự chia tách thực tế của những con người” Còn giao tiếp thì được

xem là “một sự lệ thuộc lẫn nhau được thiết lập một cách tự giác và đối lập lại với

khế ước và biện pháp để xác định sự giao tiếp là tranh luận” [Nguyễn Sinh Huy,

Trần Trọng Thủy 2006:12]

Trang 13

Từ thế kỉ XX, hoạt động giao tiếp của con người ngày càng được các nhà triết học, tâm lý học, xã hội học quan tâm nhiều hơn Trong triết học, các nhà nghiên cứu

xem xét sự tồn tại của con người thông qua giao tiếp, theo đó “tồn tại là đối thoại”

của Mác Tinbutơ (1876 – 1965) Khi nghiên cứu và đề xuất các phản xạ học trong

“Tâm lý học khách quan”(1907), “Phản xạ học tập thể” (1921), nhà triết học người

Nga V M.Bécchurép (1857 – 1927) cho rằng giao tiếp là ảnh hưởng tâm lý qua lại giữa người này với người kia, là điều kiện thực hiện giáo dục truyền đạt kinh nghiệm cho các thế hệ, góp phần quan trọng phát triển nhân cách của con người Đồng thời, với sự phát triển của điều khiển học, lý thuyết thông tin và lý thuyêt hệ thống thì khái niệm giao tiếp không chỉ đơn thuần như một quá trình truyền đạt thông tin từ một điểm phát tới một điểm thu [Hoàng Anh 2007: 162 -165]

Như vậy, theo thời gian, giao tiếp không chỉ trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học như tâm lý học giao tiếp, ngữ dụng học… mà còn

là đối tượng tìm hiểu của nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội học, y học, thông tin học… Cũng như hoạt động văn hóa, sự giao tiếp của con người luôn mang tính chất lựa chọn, kế thừa và phát triển

ƒ Một số nội dung cơ bản của giao tiếp từ những hướng tiếp cận của các khoa

học chuyên ngành

Trong tâm lý học: Hoạt động giao tiếp bao gồm quá trình thiết lập và thực thi

mối quan hệ giữa người với người và trong quá trình đó con người sáng tạo lẫn nhau Bất kỳ một hoạt động giao tiếp nào cũng là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể Mỗi người có động cơ của riêng mình, thông qua các công cụ phương tiện, con người nhận thức về nhau, về thế giới xung quanh, tác động qua lại

và sáng tạo lẫn nhau [www.tamlyhoc.net/forum/index.php?topic=838.0]

1995, trong công trình Khoa học và nghệ thuật giao tiếp, tác giả Trần Tuấn

Lộ đã xem xét bản chất tâm lý - xã hội của học động giao tiếp: “Giao tiếp là một

hoạt động trong đó người này tiếp xúc và đối tác với người kia để có sự truyền thông tâm lý cho nhau hoặc để cùng nhau thực hiện một hoạt động khác sau khi đã

có truyền thông về mặt tâm lý” và “Giao tiếp là sự vận động và biểu hiện của những quan hệ xã hội”

Trang 14

2007, Tác giả Hoàng Anh viết “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên giữa

hai hay nhiều người với nhau, chứa đựng nội dung xã hội – lịch sử nhất định, có chức năng tác động, hỗ trợ nhau: thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm … nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định”

[Hoàng Anh (cb) 2007: 169]

Từ góc độ tâm lý học, các tác giả trên thế giới cũng có một số định nghĩa sau

về giao tiếp Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ từng đưa ra khái niệm như “giao tiếp là

sự liên hệ và đối xử lẫn nhau” (Từ điển tiếng Nga văn học hiện đại tập 8, trang 523

của NXB Matxcơva) “giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc”

(L.X.Vgôtxki) [http://www.tamlyhoc.net/forum/index.php?topic=2691.0]

Từ góc độ tâm lý học, các chức năng của giao tiếp bao gồm: (1) Giao tiếp thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, là điều kiện của sự tồn tại và phát triển của con người như là một nhân cách; (2) Giao tiếp có chức năng trao đổi thông tin, tâm lý, tư tưởng tình cảm.là sự thông qua sự tiếp xúc giữa người; (3) Giao tiếp là một hoạt động thể hiện sự liên kết, phối hợp và điều khiển lẫn nhau

Trong ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng của

con người Trong giao tiếp con người sử dụng cả ngôn ngữ viết và cả phương tiện tiếp cận ngôn ngữ (giọng nói – paralanguage) [Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy 2006: 21]

Giao tiếp như một thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp được phát ra trong những ngữ cảnh và tình huống khác nhau [Diệp Quang Ban 2006: 19]

Giao tiếp được hiểu là một quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp và trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất

định [Diệp Quang Ban 2009:18]

Thông điệp (message) trong ngôn ngữ học được hiểu là tin được mã hóa thành lời nói học lời viết, được truyền đi từ người phát đến người nhận Trong cách hiểu này, giao tiếp được coi như tất cả các kết qủa của hành động xã hội bằng ngôn ngữ, chưa phân biệt các mục đích cụ thể, xuất hiện trong những hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau và trong những tình huống xã hội khác nhau

Trang 15

“Ngữ cảnh” là tất cả những gì ở bên ngoài quá trình thông tin đó (kể cả hoàn cảnh thời gian và không gian) có quan hệ với quá trình đó Ngữ cảnh là nơi cung cấp đề tài, nhân vật, điều kiện cho giao tiếp diễn ra, và qua đó quy định cả cách thức tiến hành cuộc giao tiếp “Tình huống” được hiểu là các khung sự việc chung thường lập đi lập lại có thể hình dung như một kịch bản cho sẵn (bữa cơm gia đình, cuộc khám bệnh,…)

Ngữ dụng học là một chuyên ngành trong ngôn ngữ học, mục tiêu cơ bản cơ bản là làm thế nào đạt được sự hiểu nhau tốt nhất và đạt được mục tiêu giao tiếp

như mong muốn Trong ngôn ngữ học: Giao tiếp bằng lời nói là “cái vốn có trong

thông điệp ngôn ngữ”: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức)

của thông điệp ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những người trao đổi với nhau tự thể hiện mình

Xã hội học: cũng nghiên cứu hiện tượng giao tiếp như ở góc độ là một hiện

tượng mang bản chất xã hội và chức năng xã hội - Giao tiếp là một hành vi xã hội Trong xã hội, các cá nhân có sự tác động qua lại với nhau, mỗi cá nhân qua giao tiếp sẽ học hỏi được những hành vi xã hội thích hợp và hiểu được tác dụng, ý nghĩa của hành vi đó trong điều kiện xã hội mà họ đang sống Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân và cả với cả sự phát triển tiến bộ của xã hội nói chung Chức năng xã hội của hoạt động giao tiếp được xác lập: tổ chức, điều kiển, phối hợp [Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy 2006: 3, 22]

Thông tin học: Trao đổi thông tin (communication) là một mặt không thể

thiếu được của giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, con người gửi và nhận các thông điệp – thông tin với nhau Các thông điệp này được người gửi mã hóa và người

nhận giải mã theo một cách thức nhất định

Trên thế giới, các mô hình thông tin ra đời cho phép xác định đầy đủ tính tính tương tác, trao đổi hai chiều của quá trình thông tin Tùy theo góc độ tìm hiểu

và nghiên cứu, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông

như “Truyền thông xảy ra khi thông tin được truyền từ nơi này đến nơi khác” hay

“Truyền thông là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm

người trong xã hội nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau” [Dương Xuân Sơn, Đinh Hường

2002: 12]

Trang 16

Ở Việt Nam, “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi

trong hành vi và nhận thức” [Dương Xuân Sơn, Đinh Hường 2002:13]

Truyền thông là một quá trình liên tục – có nghĩa nó không phải là một việc làm

nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp mà là một việc diễn ra trong khoảng thời gian lớn Qúa trình này mang tính liên tục vì không thể kết thúc ngay sau

khi ta chuyển tải nội dung mà còn tiếp diễn sau đó Truyền thông dẫn tới sự thay đổi

trong hành vi và nhận thức xác định tính hiệu quả của quá trình truyền thông

Trong lịch sử phát triển của mình, các lý thuyết thông tin đã làm rõ tính chất hai chiều của quá trình truyền thông Tuy nhiên, mặt hạn chế của lý thuyết thông tin

là không khảo sát được tính chất của ngữ cảnh và tình huống trong giao tiếp

Phân biệt giao tiếp với thông tin: Trước hết, các nhà nghiên cứu cho rằng

chính ý nghĩa được chủ định trong thông điệp là cái dùng để phân biệt thông tin: giao

tiếp chứa đựng ý nghĩa được chủ định từ phía người phát như là điều kiện tiên quyết,

thông tin không lấy ý nghĩa làm điều kiện tiên quyết (một quảng cáo đưa ra không bắt buộc người khác phải tiếp nhận và cũng không bắt buộc phải hiểu chủ định của người phát) Kế đến là nguyên tắc cộng tác (Grice) là yếu tố thứ hai được đưa vào đề phân

biệt giao tiếp với thông tin : giao tiếp có sự cùng chung và tương tác, khác với thông

tin không coi hai tính chất này là bắt buộc [Diệp Quang Ban 2009: 25]

Từ cách hiểu đó lý thuyết thông tin phân biệt cái thông điệp truyền tải và cách hiểu thông điệp đó Tin được hiểu lệ thuộc vào trình độ của người nhận tin, sự truyền tải có thể bị “nhiễu” do kênh truyền dẫn và có thể làm giảm độ chính xác của thông tin Trong giao tiếp, đối với thông điệp, người phát phải tính đến khả năng người nhận hiểu thông điệp từ chính người phát, và phải tính đến thái độ của người nhận trong việc giải đoán ý chủ định của người phát

ƒ Định nghĩa về giao tiếp

Từ các góc độ trên, ta có thể khái quát nội dung của khái niệm giao tiếp như sau:

Xét về bản chất, giao tiếp là một nhu cầu cơ bản của con người, là điều kiện

của sự tồn tại và phát triển của con người như là một nhân cách

Xét về đặc trưng, giao tiếp là sự trao đổi thông tin

Trang 17

Xét về bản thể, giao tiếp là các thông điệp được phát ra trong những ngữ cảnh

và tình huống khác nhau

Xét về hoạt động, giao tiếp là một hoạt động liên kết, tổ chức và điều khiển

lẫn nhau của con người

Xét về kết quả, giao tiếp là sự truyền đạt

Xét về phương tiện, giao tiếp thực hiện nhờ phương tiện ngôn ngữ và phi

ngôn ngữ

Vậy : Giao tiếp là một quá trình thông tin nhằm liên kết, tổ chức và điều kiển

lẫn nhau của con người, thông qua các thông điệp phát ra trong những ngữ cảnh và tình huống khác nhau, thể hiện các nhu cầu cơ bản, các điều kiện tồn tại và phát

triển của con người

ƒ Các chức năng của giao tiếp

Thông tin hai chiều: Chức năng này bao quát tất cả các quá trình truyền và

nhận thông tin Với tư cách là một quá trình truyền tín hiệu, chức năng này có cả ở người và động vật Tuy nhiên, con người khác con vật ở chỗ có hệ thống tín hiệu thứ hai, quá trình truyền tin được phát huy đến tối đa tác dụng của nó và kết quả là con người có khả năng truyền đi bất cứ thông tin, tín hiệu gì mình muốn Chức năng này thể hiện ở cả chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp, nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó như nhu cầu truyền tin, nhu cầu tình cảm, nhu cầu tiếp xúc, giải trí… Nhưng cũng chính vì con người có hệ thống tín hiệu thứ hai, có ý thức, có trí tuệ phát triển hơn so với các động vật khác mà hiệu quả của quá trình này có thể được tăng lên hay giảm đi

Tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động: Thông qua giao tiếp, cá nhân

không chỉ có khả năng điều chỉnh hành vi của mình mà còn có thể điều chỉnh hành

vi của người khác Chức năng này chỉ có ở người với sự tham gia của quá trình nhận thức, của ý chí và tình cảm Khi tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhau, các chủ thể giao tiếp đã hoặc đang ý thức được mục đích, nội dung giao tiếp, thậm chí còn

có thể dự đoán được kết quả đạt được sau quá trình giao tiếp Nhằm đạt được mục đích mong muốn, các chủ thể thường linh hoạt tuỳ theo tình huống thời cơ mà lựa chọn, thay đổi cách thức hoặc phương hướng, phương tiện giao tiếp sao cho phù

Trang 18

hợp Chức năng này thể hiện khả năng thích nghi lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp Ngoài ra, nó còn thể hiện cho vai trò tích cực của các chủ thể, tính mềm dẻo, linh hoạt của các phẩm chất tâm lý cá nhân trong giao tiếp

Giáo dục và phát triển nhân cách: Con người không thể sống cô lập, tách khỏi gia đình người thân, bạn bè và cộng đồng người Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp phổ biến, nó có vài trò to lớn đối với việc hình thành và phát triển tâm lý Cùng với hoạt động của mỗi cá nhân, giao tiếp giúp cho con người lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức

xã hội, nắm vững được các kinh nghiệm xã hội lịch sử và hình thành nhân cách

ƒ Cấu trúc của giao tiếp

Thứ nhất, giao tiếp là một hoạt động

Trong tâm lý học, giao tiếp được coi là một hoạt động Hoạt động này diễn ra trong mối quan hệ người - người nhằm hiểu biết lẫn nhau và làm thay đổi mối quan

hệ bằng cách tác động đến tri thức tình cảm và toàn bộ nhân cách con người Đó là

sự tác động trực tiếp người - người diễn ra trong mối quan hệ giữa chủ thể với chủ thể Theo A.A Leonchiev: Giao tiếp có thể là một hoạt động, hoặc có thể là phương thức, điều kiện của hoạt động [Hoàng Anh 2006: 178] Như vậy, giao tiếp có mối quan hệ khăng khít với hoạt động, giao tiếp là một trong các dạng của hoạt động cùng nhau (Kagan, Anđơrêea, Leonchiev) Sự gắn bó này thể hiện ở chỗ giao tiếp diễn ra như một điều kiện, một phương thức để tiến hành hoạt động khác

Xét về mặt cấu trúc tâm lý, giao tiếp có cấu trúc chung với hoạt động, nghĩa

là có động cơ quy định hình thành và diễn biến của nó, được tạo thành bởi các hành động và các thao tác Giao tiếp nào cũng có những đặc điểm cơ bản của một hoạt động: bao giờ cũng có chủ thể, đều nhằm vào đối tượng nào đó, đều tạo ra một sản phẩm nào đó Và thông thường, sản phẩm của giao tiếp thuộc về tinh thần, trong khi sản phẩm của hoạt động thuộc về cả vật chất lẫn tinh thần

Giao tiếp có thể diễn ra theo hai cách sau trong mối liên quan đến hoạt động: (1) Giao tiếp diễn ra như một điều kiện để tiến hành các hoạt động khác; (2) Giao tiếp như một hoạt động độc lập, hay nói đúng hơn như một dạng của hoạt động người, như là hoạt động nhận thức, hoạt động lao động

Trang 19

Hoạt động giao tiếp được thực hiện bởi chủ thể giao tiếp với những mục đích giao tiếp nhất định

Chủ thể giao tiếp là con người cụ thể tham gia vào quá trình giao tiếp Vai trò

của chủ thể giao tiếp luôn thay đổi, khi người này làm chủ thể thì người kia làm đối

tượng và ngược lại Chủ thể giao tiếp có thể là một người hay nhiều người Mỗi một

chủ giao tiếp đều ứng với những đặc điểm sinh lý, tâm lý, xã hội, với trình độ tri thức nhất định Tất cả các đặc điểm trên của chủ thể đều ảnh hưởng đến hiệu quả

của quá trình giao tiếp

Mục đích giao tiếp là điều mà chủ thể giao tiếp hướng đến và mong đạt được trong quá trình giao tiếp Nó nhằm thoả mãn những nhu cầu phong phú và đa dạng của con người Ví dụ như nhu cầu được bảo an (tiếng khóc ở trẻ nhỏ), nhu cầu được gần gũi và chia sẻ thông tin, tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giải trí, nhu cầu khẳng định …

Thứ hai, giao tiếp diễn ra trong một bối cảnh nhất định Bối cảnh của giao

tiếp là những điều kiện, hoàn cảnh trong đó diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm cả

bối cảnh vật lý và bối cảnh tâm lý - xã hội

Bối cảnh vật lý của giao tiếp còn được hiểu là khí hậu ở nơi giao tiếp Nó bao

gồm các yếu tố không gian và thời gian tác động đến quá trình giao tiếp, cụ thể như

nhiệt độ, thời điểm, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc đồ vật xung quanh, kích thước không gian gặp gỡ, địa điểm diễn ra giao tiếp… Đây là những yếu tố nằm bên ngoài các chủ thể giao tiếp

Nhiệt độ có một tác động không nhỏ đến trạng thái tâm lý và sức khỏe của các chủ thể trong giao tiếp Ở một khí trời oi bức khoảng 380c, tâm lý con người ít được thoải mái và tình trạng sức khỏe có thể trở nên xấu đi

Thời điểm giao tiếp cũng có sự chi phối nhất định đến hoạt động giao tiếp,

nó liên quan đến nhịp độ tâm - sinh lý ở con người Ở từng thời điểm giao tiếp, người ta lại phải chú ý đến nội dung giao tiếp nào là phù hợp, chẳng hạn cha mẹ thường ít bao giờ kể tội con cái trước bữa cơm, bởi “Trời đánh còn tránh bữa ăn” Trong từng mối quan hệ, bản thân thời điểm cũng mang một ý nghĩa riêng, phản ánh tính chất nào đó của mối quan hệ giữa các đối tượng, đôi lúc nó tham dự như một nội dung của cuộc giao tiếp Ví dụ, một chàng trai nói với một cô gái “Tối nay,

Trang 20

anh đến nhà em chơi được không?” thì bản thân “tối nay” là một cụm từ chỉ sự riêng tư và khá thân mật

Các sắc độ của ánh sáng có một ảnh hưởng không nhỏ đối với tâm trạng của con người Trong giao tiếp, ánh sáng như một trong những xúc tác làm nên sự thành bại của hoạt động này Người ta thường khá khó khăn khi bày tỏ những điều riêng

tư, thầm kín dưới một ánh sáng trắng, quá sáng Nhưng ánh sáng trắng lại hỗ trợ tích cực cho các sáng kiến, quan điểm, các tranh luận tại phòng hội nghị

Âm thanh đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, một thành tố đáng chú ý trong hoạt động chuyển mã Âm thanh được phân loại làm hai nhóm đối với hoạt động giao tiếp: âm thanh tích cực và âm thanh tiêu cực Âm thanh tích cực là những âm thanh tạo những thuận lợi cho quá trình giao tiếp và ngược lại âm thanh tiêu cực thì cản trở, làm đứt đoạn và có khi phá hỏng cả cuộc giao tiếp Âm thanh quá nhiều trở thành tiếng ồn, gây nhiễu thông tin và tác động xấu đến tâm lý người giao tiếp Ngày nay, con người còn sử dụng âm thanh để tạo nên nhịp độ giao tiếp

Kích thước không gian nơi giao tiếp là phần mở rộng của kích thước sở hữu

cá nhân của các chủ thể Kích thước nơi giao tiếp tác động nhiều đến tâm lý của con người Nó có thể làm cho chủ thể giao tiếp cảm thấy thoải mái, yên bình, ấm cúng

và cũng có thể tạo sự lạc lõng, ngột ngạt, chèn ép, Khi điều tra tội phạm, người ta thường dùng những chiếc phòng nhỏ để tạo tâm lý dồn nén nơi bị cáo Ngược lại, trong những buổi mít tinh, lễ hội người ta thường chọn nơi có tiền sảnh lớn, không gian thoáng đạt, trang trọng…

Thời tiết cũng là một thành tố thường xuyên tham sự vào hoạt động giao tiếp Nó chi phối đến nhiệt độ, hơi ẩm, ánh sáng, … của không gian giao tiếp và đặc biệt đến tâm lý con người Mùa xuân thường gợi cho con người nhiều suy nghĩ và tình cảm tích cực hơn Mùa thu con người dễ suy tư lãng mạn hơn là mùa hè

Địa điểm giao tiếp góp phần tạo nên tình thái của hoạt động giao tiếp Địa

điểm sẽ tạo nên hệ tọa độ không gian cho các chủ thể trong giao tiếp Mỗi loại không gian lại được qui định những ý nghĩa rất riêng, có không gian chung và không gian riêng, không gian chính và không gian phụ …1

1 [http://www.tamlyhoc.net/forum/index.php?topic=2691.0]

Trang 21

Bối cảnh tâm lý - xã hội: Các học thuyết về giao tiếp ở người chú trọng nhiều

đến tầm quan trọng của các yếu tố tâm lý – xã hội của chủ thể giao tiếp

Trước hết, giao tiếp ở người thể hiện hàng loạt các nhu cầu đối với cuộc sống Abraham Maslow (1908-1970) là người đầu tiên hình dung sự phát triển nhu cầu của con người theo các bậc của một chiếc thang, mỗi nhu cầu đó phải được thỏa mãn trong mối quan hệ với môi trường dọc theo chiếc thang phát triển này Theo ông, những nhu cầu này là cơ sở cho sự phát triển lành mạnh Hệ thống phân cấp các nhu cầu cơ bản của con người này rất quan trọng: mỗi một bậc phụ thuộc vào một bậc trước đó, nếu nhu cầu này chưa được đáp ứng đủ thì các nhu cầu khác chưa được thúc đẩy Theo Abraham Maslow, nấc thang nhu cầu thể hiện như sau: nhu cầu sinh lý (nhu cầu được sinh tồn) – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự khẳng định mình (tự thể hiện) [Nguyễn Ngọc Lâm 2007, 34]

Ở điểm này, có nhiều người không tán đồng hoàn toàn với Maslow, từ thực

tế chúng ta vẫn có thể hoán đổi thứ bậc của các nhu cầu Ví dụ: một đứa trẻ đánh giầy thì nhu cầu vật chất là chính, phải làm việc để tự thỏa mãn nhu cầu vật chất của

mình Song vẫn có trường hợp khi được cho thêm tiền, thì cậu bé lại bảo “Tôi đánh

giầy kiếm sống chứ không đi xin”, ở đây ta thấy nhu cầu được tôn trọng cần được

thỏa mãn hơn nhu cầu vật chất Tuy nhiên, chúng ta cần thấy rằng, những nhận định của Maslow về nấc thang nhu cầu ở con người là mang tính chuẩn tắc, nó cho phép

lý giải động lực của những nhu cầu cá nhân một cách phổ quát nhất, chứ không phải

là những nhận định thực chứng

Nhu cầu chính là nguyên nhân hoạt động của con người và chính trong hoạt động của mình con người tham gia vào xã hội như một thành viên Xã hội học đã

chứng minh: “mỗi cá nhân bao giờ cũng ứng với một tọa độ xã hội nhất định” Tọa

độ xã hội là mối quan hệ xã hội của cá nhân đó, nó qui định thuộc tính xã hội, tâm

lý, nhân cách, lối sống, ứng xử xã hội và ứng xử ngôn ngữ của các cá nhân trong nhóm và trong tập đoàn Các thành viên trong một hệ thống xã hội bao giờ cũng ở vào một địa vị nhất định với các quan hệ xã hội nhất định theo các qui tắc thiết chế

và chuẩn mực xã hội của từng hệ thống Tâm lý học xã hội gọi vị trí hay chức trách

mà các quan hệ xã hội ấn định cho một cá nhân là vai xã hội của người đó

Trang 22

Vai xã hội được quyết định bởi địa vị cá nhân trong mối quan hệ với các thành viên khác Các vị trí ấy làm nên “giá trị xã hội” của mỗi cá nhân trong nhóm Mỗi vai được xác định từ một “cặp vai” Mối quan hệ xã hội của cá nhân quyết định tính đa dạng và phong phú hay nghèo nàn, đơn điệu của số cặp vai Trong quan hệ

vai, mỗi thành viên của nhóm được ấn định cho một bộ hành vi cá nhân (ổn định,

lập đi lập lại, phù hợp với chuẩn mực ứng xử xã hội, như ngôn ngữ của nhà giáo,

“giọng lãnh đạo” của thủ trưởng Mỗi bộ vai có một biến thể ngôn ngữ đặc trưng cho vai – chuyển mã (chuyển cương vị - chuyển sang một biến thể ngôn ngữ cá nhân khác) nhằm tạo ra các phát ngôn thỏa đáng về mặt xã hội Vai xã hội bao gồm vai thường xuyên và vai lâm thời Vai xã hội chi phối thái độ giao tiếp: ngang vai – bình đẳng, hơn vai - lấn lướt, kém vai - nhún nhường [Như Ý 1990: 1-5]

Như vậy, ta có thể thấy rằng các cơ sở tâm lý – xã hội của chủ thể trong quá trình giao tiếp luôn gắn bó mật thiết với nhau Tác giả Nguyễn Huy Cẩn trong bài Về phương hướng nghiên cứu giao tiếp trong tâm lý – ngôn ngữ học có viết “Mặc dù hoạt động ngôn ngữ bao gồm các thành tố tâm lý nhưng lại được thực hiện bằng qui luật xã hội chứ không không phải bằng qui luật của tâm lý” [Hoàng Anh 2006: 270]

Quá trình giao tiếp luôn có người nói và người nghe cụ thể gắn với một tình huống cụ thể, bên cạnh những thuộc tính tâm lý xã hội của nó, đã tạo ra trục kết hợp

thứ 3 trong ngôn ngữ - trục giá trị xã hội của ký hiệu ngôn ngữ (trục 1: thời gian; trục

2: không gian) Lý thuyết trên cho ngôn ngữ học- xã hội có thể nói đến những “cái sai

có căn cứ xã hội” Hàm ngôn và hiển ngôn đều có thể hiểu được thông qua tổng thể các nhân tố có mặt trong tình hướng giao tiếp, cả nhân tố bằng lời và nhân tố phi lời

Thứ ba, hành vi giao tiếp bao gồm nội dung giao tiếp, hình thức giao tiếp và phương tiện giao tiếp

Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp với người khác Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền đạt Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh được đúng nội dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết quả cao nhất Ở bất

kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để lại trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận thức Nội dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động Thông qua giao tiếp để người ta trao đổi vốn

Trang 23

kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ Sau mỗi lần giao tiếp mọi thành viên đều nhận thức thêm được những điều mới mẻ Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính…của các chủ thể giao tiếp Ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể

Hình thức giao tiếp bao gồm giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp Giao tiếp trực tiếp là giao tiếp mặt đối mặt (face to face) cho phép nhận biết về đối tượng giao tiếp cụ thể hơn, quá trình tương tác hiệu quả hơn Giao tiếp gián tiếp là giao tiếp dưới hình thức điện thoại, thư từ, hình thức giao tiếp này hạn chế thông tin về đối tượng hơn, quá trình tương tác cũng ít hiệu quả hơn là giao tiếp trực tiếp

Phương tiện giao tiếp gồm giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ

Giao tiếp ngôn từ: Cùng với lao động, ngôn ngữ là một trong những yếu tố

quyết định quá trình phát triển của loài người và sự phát triển của mỗi cá nhân Nhờ ngôn ngữ con người có thể trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và tạo lập các mối quan hệ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và tư duy Chức năng cơ bản này được thực hiện nhờ tính hệ thống và tính tín hiệu của ngôn ngữ Tuy nhiên không phải mọi yếu tố, mọi đơn vị của ngôn ngữ đếu tham gia như nhau vào quá trình giao tiếp.Trực tiếp tham gia vào quá trình mang thông tin và truyền đạt thông tin là các đơn vị định danh như từ, cụm từ, các đơn vị thông báo như câu, văn bản Ngược lại, các đơn vị như âm vị, hình vị lại chỉ gián tiếp tham gia vào quá trình giao tiếp, vì chúng chỉ là chất liệu tạo nên các đơn vị nêu trên mà thôi [Mai Ngọc Chừ 2006: 12]

Tính tín hiệu của ngôn ngữ gồm hai mặt: cái biểu hiện (hình thức) và cái được biểu hiện (nội dung và ý nghĩa) Nội dung ý nghĩa của tín hiệu chính là ngữ nghĩa của chúng Trong ngôn ngữ, đơn vị tín hiệu tiêu biểu nhất là từ

Lời nói là sản phẩm tạo ra trong quá trình giao tiếp Bởi lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ nên nó phải tuân thủ theo các quy luật chung của ngôn ngữ, nhằm thống nhất được cách hiểu chung trong cộng đồng Lời nói vừa là sản phẩm vừa là phương tiện để giao tiếp Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động Tùy vào tác động và

Trang 24

biểu hiện, ngôn ngữ trong giao tiếp chia làm hai loại: ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ bên ngoài Tuy nhiên, đề tài giới hạn sự khảo sát ở ngôn ngữ bên ngoài

Ngôn ngữ bên ngoài là dạng ngôn ngữ được thể hiện tường minh ra ngoài bằng âm thanh, chữ viết Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp nhận bằng thính giác, bao gồm ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói, biểu hiện bằng chữ viết và được thu nhận bằng thị giác Ngôn ngữ viết có đặc điểm riêng là yêu cầu chặt chẽ về mặt ngữ pháp, chuẩn về chính tả và cũng chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại

Giao tiếp phi ngôn từ: “là những biểu diễn thông qua cơ thể, như cử động, tư thế, hoặc một số đồ vật gắn liền với thân thể như áo, mũ, hoặc thông qua việc tạo ra những khoảng cách gần xa giữa người này và người khác”(Bác sĩ Nguyễn Khắc

Viện) [Nguyễn Văn Lê 2006: 25]

Hay, “Giao tiếp phi ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp

không thuộc mã ngôn từ (verbal code), có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh (channels) ngôn thanh (vocal) và phi ngôn thanh (non – vocal) Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ ngữ lưu và các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc về ngôn ngữ cơ thể như cử chỉ, dáng điệu, diện hiện …, thuộc ngôn ngữ vật chất như áo quần trang sức…, và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp [Nguyễn Quang 2006: 61]

Các tính chất của giao tiếp phi ngôn từ: (1) không dùng lời nói, mà dùng các phương tiện ngôn ngữ phong phú, đa dạng (2) Sự giao tiếp ở trẻ em khi chưa biết nói là sự giao tiếp phi ngôn ngữ hay tiền ngôn ngữ; (3) Giao tiếp phi ngôn ngữ là một tập tính học động vật

Các nhà nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn từ đều thống nhất cao ở các chức

năng của phương tiện giao tiếp phi ngôn từ như sau: (1) Bổ sung, làm rõ nghĩa và

sắc thái cho ngôn từ; (2) Phụ họa và thay thế cho ngôn từ [Phạm Văn Thấu

1997:13 ], [Phi Tuyết Hinh 1996: 36]; (3) thể hiện mâu thuẫn với các hành vi ngôn từ; (4) điều tiết chuỗi giao tiếp ngôn từ [Nguyễn Quang 2006: 65]

Trang 25

Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm giao tiếp cận ngôn từ (Paralanguage) và giao tiếp ngoại ngôn từ (Extralanguage) [Nguyễn Quang 2006: 87-99]

Giao tiếp cận ngôn từ là tổng thể các hiện tố ngôn thanh phi ngôn từ trong

giao tiếp Nó được sử dụng chủ yếu để diễn tả cái thế nào thì đúng hơn là cái gì của

giao tiếp Cận ngôn ngữ có thể phân loại như sau:

(1) Các đặc tính ngôn thanh: Cao độ là độ cao thấp của giọng nói; Cường độ

là độ to nhỏ của âm thanh được phát ra; Tốc độ là độ nhanh hay chậm của ngữ lưu; Phẩm chất ngôn thanh là giọng điệu, thanh cốt và chất giọng của giọng nói Nó liên quan chặt chẽ đến các loại thanh lưu

(2) Các yếu tố xen ngôn thanh: Các yếu tố xen ngôn thanh là những âm thanh can thiệp vào chuỗi lời nói Chúng có thể được gọi là các yếu tố ngắt lời nói (speech stallers) Chúng thường được nhìn nhận như là kết quả của một trạng thái tình cảm, một thói quen nói năng mang tính cá nhân, một hàm ý chỉ “xin đợi một chút” Ý nghĩa biểu hiện của các yếu tố xen ngôn thanh có thể là sự thiếu tự tin, sự thiếu tin tưởng, sự không đồng ý, sự không chắc chắn, sự miễn cưỡng, sự tế nhị, sự cân nhắc, sự khiêm nhường …

(3) Các loại thanh lưu: lượn – dầy, lượn mỏng, nhỏ - to, to – nhỏ, bẹt – dày, bẹt - mỏng, sắc – dày, sắc mỏng, liên thanh, giáng thanh, Im lặng (silence) hay các quãng lặng (pauses) Ứng với mỗi loại thanh lưu là những dự đoán về phẩm chất tính cách của chủ thể

(4) Im lặng (silence) hay các quãng lặng (pauses) được phân làm hai loại “im lặng theo qui ước” (conventional silence) và “im lặng có ý nghĩa” (Significant silence) “Im lặng theo qui ước” (“im lặng trong nghi lễ”, “im lặng theo thông lệ xã hội”), “Im lặng có ý nghĩa” – “một trục trặc về mức độ quan hệ” Chức năng của sự

im lặng: (1) kết nối hoặc chia tách các đối tượng giao tiếp, tạo cảm xúc, tình cảm, thái độ, (2) để lộ hoặc che dấu một điều gì đó; (3) phán xét; (4) kích hoạt; (5) giữ thể diện (face – saving); (6) sự tôn trọng

Giao tiếp ngoại ngôn từ (Extralanguage): Ngôn ngữ thân thể (body language)

gồm các yếu tố cơ bản: hiện diện, nhãn giao, cử chỉ điệu bộ, bố cục cơ thể - tư thế,

sự đụng chạm…; Ngôn ngữ vật thể (object language): trang phục, phụ kiện, trang

Trang 26

sức, trang điểm, mùi (thiên tạo, nhân tạo); Ngôn ngữ môi trường (environmental language): địa điểm, khoảng cách, thời gian, ánh sáng, màu sắc, nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng, mùi vị

1.1.2 Văn hóa giao tiếp

Văn hóa giao tiếp được xây dựng trên nền tảng những gì thuộc về văn hóa Vậy tìm hiểu về văn hóa giao tiếp sẽ bắt đầu từ tìm hiểu về văn hóa

Giữa thế kỷ XIX các khoa Nhân học, Dân tộc học phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, khoa Văn hóa học ra đời Người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa là

E.B.Taylor trong Prinítive Culture – “Văn hóa nguyên thủy”: “Văn hóa là một tổng

thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã hội”

Năm 1989, Federico Mayor, tổng giám đốc UNESCO cho biết: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” Cách hiểu này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa, họp năm 1970 tại Venise (Tạp chí Người đưa tin UNESSCO, 11/1989, trg 5)

Ở Việt Nam, trong “Việt Nam văn hóa sử cương” khái niệm về văn hóa lần

đầu tiên được định nghĩa do nhiều sử học Đào Duy Anh: “Người ta thường cho

rằng văn hóa chỉ là những học thuật, tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế,

Trang 27

về chính trị, về xã hội cùng hết thảy những phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua

là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [Đào Duy Anh1938/2004:11]

Theo cách nhìn hệ thống loại hình, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa : “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[Trần Ngọc Thêm 1996/2004: 25]

Theo định nghĩa trên, văn hóa có các đặc trưng và chức năng sau:

(1)- Văn hóa trước hết phải có tính HỆ THỐNG (mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những qui luật hình thành và phát triển của nó Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là

một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức

xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã

hội mọi phương diện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

(2)- Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính GIÁ TRỊ Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, thành có giá trị” Tính giá trị cần để phân biệt với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Ta có các giá trị văn hóa theo mục đích (vật chất/ tinh thần), theo ý nghĩa (giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ (chân, thiện, mỹ)

Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng

và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu thế cực đoạn, phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị, văn hóa thực hiện được chức năng điều

chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng

hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

Trang 28

(3)_ Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính NHÂN SINH Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo ra, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối

liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp

(4)- Văn hóa có tính LỊCH SỬ Nó cho phép phân biệt văn hóa như một sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như một sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp dư luận…Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ

giáo dục Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá

trị đã ổn định (truyền thống) mà còn bằng những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ đó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng người)

ƒ Văn hóa giao tiếp:

Hiện nay, khái niệm về văn hóa giao tiếp đã được một số tác giả đề xuất trong một số công trình nghiên cứu như sau:

Tác giả Trần Tuấn Lộ đã quan niệm “Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một

dân tộc là toàn bộ những nguyên tắc, những chuẩn mực và những qui định chỉ đạo hoạt động giao tiếp giữa người với người trong xã hội đó, thuộc dân tộc đó, để sự giao tiếp đó được đánh giá là có giá trị đạo đức, có giá trị thẩm mỹ, hợp lý, phù hợp với quan niệm của xã hội đó và dân tộc đó về văn hóa và văn minh, về truyền thống và bản sắc của dân tộc mình và phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh

tế, văn hóa của dân tộc đó Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một xã hội, một dân tộc được thể hiện thành tập quán, phong tục, truyền thống của xã hội đó” [Trần

Tuấn Lộ 1995: 90-91]

Trang 29

Trong công trình “Văn hóa giao tiếp” tác giả Phạm Vũ Dũng đã định nghĩa

“văn hóa giao tiếp chính là những định chuẩn giao tiếp được tinh chuyển, được tạo

thành nền nếp, được hoàn thiện và nâng cao cả về cách thức, nếp ứng xử ngôn ngữ lời nói và cử chỉ hành vi, cả về phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội” Và “văn hóa giao tiếp chính là giá trị tinh tuyển của giao tiếp văn hóa”

[Phạm Vũ Dũng 1996: 19-20, 21]

2000, “Văn hóa giao tiếp là một khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao

tiếp mang tính đặc thù cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng người thuộc các nhóm nghề nghiệp hoặc xã hội khác nhau” [Hữu Đạt

2000: 39]

Văn hóa giao tiếp là sản phẩm của ý thức, tri thức thông qua học tập, giáo dục từ gia đình, cộng đồng và nhất là tại các trường học Tất nhiên, muốn đạt chuẩn nào đó về văn minh, thì còn phải cộng thêm yếu tố công nghệ khoa học hiện đại (tại thời điểm) được ứng dụng rộng khắp, phục vụ đời sống của con người trên đất nước ấy …2

Các khái niệm trên đa phần xem xét văn hóa giao tiếp từ giá trị văn hóa tinh thần Tuy nhiên, dù ở hình thức này hay hình thức khác, con người vẫn đang thường xuyên sử dụng các giá trị văn hóa vật chất trong giao tiếp Trong thành ngữ “quen

sợ dạ, lạ sợ áo quần”, thì áo quần ở đây tham gia vào hoạt động giao tiếp như một tiêu chí giá trị để xác định phẩm chất và địa vị xã hội của chủ thể Như vậy, văn hóa giao tiếp không chỉ bao hàm các giá trị văn hóa tinh thần mà còn bao hàm các giá trị văn hóa vật chất

Mặt khác, chúng ta có thể thấy các định nghĩa trên đều sử dụng loại định nghĩa miêu tả, nghĩa là liệt kê các thành tố của văn hóa Với loại định nghĩa trên sẽ khó lòng thể hiện được cạn cùng các biểu hiện của văn hóa giao tiếp Để định nghĩa văn hóa giao tiếp, chúng tôi chọn loại định nghĩa xem văn hóa như một hệ giá trị, theo cách nhìn hệ thống-loại hình, (một loại định nghĩa để làm việc)

2 15km-na-thi-t-chun-vn-hoa-giaotipngph/Page1.html+%22v%C4%83n +h%C3%B3a

[http://74.25.153.132/search?q=cache:dVbVVELF6x8J:danchimviet.com/articles/1205/1/Vít-Nam-con-+giao+ti%E1%BA%BFp+l%C3%A0%22&cd=4&hl=vi&ct=clnk&gl=vn]

Trang 30

Vậy, Văn hóa giao tiếp là một hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động giao tiếp, trong

sự tương tác với môi trường xã hội của mình

Văn hóa giao tiếp là một tiểu thành tố của văn hóa nên nó cũng thể hiện đầy

đủ các đặc trưng và chức năng của văn hóa

Văn hóa giao tiếp có tính hệ thống Bản thân con người là tổng hòa các mối

quan hệ xã hội Giao tiếp của con người thiết lập nên các mối quan hệ xã hội và ngược lại các mối quan hệ xã hội cho phối trở lại họat động giao tiếp Trong mỗi một nền văn hóa, mối quan hệ giữa con người với con người lại được qui định bởi các đặc trưng văn hóa của nền văn hóa đó Ví dụ, đặc trưng văn hóa trọng tình kiến người Việt trong giao tiếp thường “xưng khiêm, hô tôn” Các thành tố trong một hệ thống văn hóa quan hệ và qui định nhau một cách chặt chẽ tạo nên tính hệ thống của văn hóa Tính hệ thống tạo cho văn hóa giao tiếp có chức năng tổ chức xã hội Lối xưng hô thân tộc của người Việt Nam thể hiện rất rõ chức năng tổ chức văn hóa trong đời sống xã hội

Văn hóa giao tiếp có tính giá trị Tất cả những biểu thị của những hành vi vô

văn hóa trong giao tiếp đều bị con người từ chối, gạt bỏ Nhờ tính giá trị mà văn hóa giao tiếp có chức năng điều chỉnh

Văn hóa giao tiếp có tính nhân sinh Tính nhân sinh của văn hóa giao tiếp thể

hiện ở chỗ giao tiếp là một sản phẩm của con người Khác với động vật, sự giao tiếp của con người thể hiện ở trình độ cao hơn, bằng các phương tiện phi ngôn ngữ và ngôn ngữ Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa giao tiếp như một hiện tượng của xã hội với các giá trị tự nhiên Nhờ tính nhân sinh, văn hóa giao tiếp thực hiện được chức năng giao tiếp

Văn hóa giao tiếp có tính lịch sử Bản thân các định chuẩn, khuôn mẫu trong

giao tiếp không thể hình thành trong một thời gian ngắn mà phải là một quá trình Nhờ tính lịch sử văn hóa giao tiếp đã thực hiện được việc chuyển giao những giá trị văn hóa từ truyền thống đến hiện đại Như vậy, tương tự như văn hóa, văn hóa giao tiếp thực hiện được chức năng giáo dục

Trang 31

1.2 ĐỊNH VỊ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

1.2.1 Không gian văn hóa

Xét về hoàn cảnh địa lý khí hậu, miền Tây Nam Bộ hay còn gọi là Đồng

bằng sông Cửu Long, là phần lãnh thổ nằm tận cực Nam đất nước Việt Nam, có diện tích lên đến 39.739 km2 bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Phía Đông Bắc giáp với miền Đông Nam

Bộ, phía Bắc giáp nước Campuchia, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam và Nam giáp biển Đông Đây là vùng nằm gọn trong những vĩ tuyến Bắc rất thấp từ

8035’ đến 110, có khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, nóng ẩm quanh năm, không có mùa lạnh và rất ít bão Nhiệt độ và độ ẩm đều thuộc hàng cao Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 270c Số giờ nắng thuộc vào loại nhiều nhất trong cả nước, trên dưới 2.000 giờ/ năm [Nguyễn Công Bình 1990:14] Lượng mưa hàng năm là 2.335giờ/năm, với 184 ngày mưa Hệ thống sông ngòi chằng chịt và tiếp giáp với biển ở 3 mặt đã tạo cho Tây Nam Bộ một khí hậu ôn hòa, không quá nóng bức So với Đông Nam Bộ thì Tây Nam Bộ vẫn là vùng mát mẻ hơn

Chế độ gió mùa nơi đây khá rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây Nam, là mùa mưa, tập trung tới 80% - 90% lượng mưa cả năm; từ tháng

11 đến tháng 4 là thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô khan, cạn kiệt Hết mùa khô rồi đến mùa mưa Chính hai mùa khí hậu này đã tạo nên một nhịp điệu chủ đạo, điều khiển các quá trình sinh sống của con người và phát triển của tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long cũng ở xứ nhiệt đới gió mùa, nhưng không biết tới sự thay đổi nóng lạnh qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; cũng không chịu cảnh mưa dầm gió bấc như ở Đồng bằng sông Hồng [Nguyễn Công Bình 1990:14]

Xét về địa hình, cảnh quan và môi sinh thì miền Tây Nam Bộ là nơi hội tụ

nhiều yếu tố thuận lợi, vừa đồng nhất vừa đa dạng so với thiên nhiên các vùng miền

ở Việt Nam Khác với miền Đông Nam Bộ, là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ,

có độ cao trung bình từ 100 - 200 m và là nơi tập trung đồi núi của toàn vùng Nam Bộ; thì miền Tây Nam Bộ là vùng đất phù sa mới, có địa hình bằng phẳng vào loại hiếm thấy ở Việt Nam, độ cao trung bình chưa đầy 2m, và cao không quá 5m so với mực nước biển Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao

Trang 32

nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m) [Lý Tùng Hiếu 2008: www.vanhoahoc.edu.vn] Tuy cùng nằm trong vùng Nam Bộ, nhưng với sự khác biệt về địa hình cũng có khả năng tạo nên một vài nét khác biệt

về đặc điểm sinh sống và quan hệ con người ở hai miền Đông và Tây Nam Bộ

Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long3

3

http://www.google.com.vn/imglanding?q=h%E1%BB%87+th%E1%BB%91ng+s%C3%B4ng+ng%C3%B2i +%C4%91%E1%BB%93ng+b%E1%BA%B1ng+s%C3%B4ng+c%E1%BB%ADu+long&um=1&hl=vi&bi w=1259&bih=615&tbs=isch:1&tbnid=u4frQhv8CUhDcM:&imgrefurl=http://violet.vn/nhuthao5661/entry/sh ow/entry_id/3384133&imgurl=http://www.canthopromotion.vn/images/mekong2.jpg&ei=IRFFTZDkHYSXc Z6JzeIN&zoom=1&w=334&h=374&iact=hc&oei=IRFFTZDkHYSXcZ6JzeIN&esq=1&page=1&tbnh=160

&tbnw=143&start=0&ndsp=15&ved=1t:429,r:1,s:0

Trang 33

Môi trường sông nước là một đặc trưng cho thiên nhiên Việt Nam, thì Nam Bộ

được xem là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng [Lý Tùng Hiếu 2008:

www.vanhoahoc.edu.vn] Tuy nhiên, ở Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình

Phước, Tây Ninh), “ngoại trừ hai đặc điểm nổi bật về thổ nhưỡng là đất đỏ ba-dan và

đất xám – phù sa cổ, thì về cảnh quan-sinh thái, chưa có gì đặc biệt lắm so với các vùng khác trong nước Sông ngòi, núi rừng, cây trái, cách làm ăn sinh hoạt, tuy có mang một số nét riêng, nhưng về cơ bản, vẫn gần hao hao giống một số vùng bán sơn địa ở Nam Trung Bộ” [Thạch Phương 1992: 235] Trong khi đó, miền Tây Nam Bộ là

nơi thể hiện rõ hơn và vượt trội hơn tính chất “sông nước rất đặc trưng” này Ở đây có một hệ thống sông ngòi rất chằng chịt, với khoảng 2500 km sông rạch tự nhiên và

2500 km sông rạch đào “Nhưng sự khác biệt không phải chỉ về lượng, mà là cả một

sự khác biệt về chất do kết quả tổng hợp của nhiều hệ thống gió mùa và nhiều hệ thống truyền triều tác động từ những hướng luôn luôn thay đổi nhau²” [Nguyễn Công

Bình 1990:14-15] Hệ thống sông nước Tây Nam Bộ bủa vây các miệt, bao bọc các

cù lao và len lỏi đi khắp vùng Nó không chỉ có vai trò quan trọng đối với lao động sản xuất mà còn chi phối toàn bộ sự sống và nhịp độ sinh hoạt của con người

Sự kết hợp của địa hình bằng phẳng và môi trường sông nước chằng chịt đã tạo nên một hệ chiều kích không gian rộng mở cho Tây Nam Bộ, khả năng tạo nên vùng biệt lập do phân tầng địa hình là kém hơn so với Đông Nam Bộ và kém nhất

so với cả nước Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Tây Nam Bộ là vùng có môi

trường sông nước điển hình nhất cả nước, kéo theo một cấu trúc không gian “mở”, tập trung và điển hình nhất ở Việt Nam

Hệ thống sông ngòi Tây Nam Bộ được thể hiện tập trung qua sự sung mãn và trù phú của Sông Cửu Long, dòng sông mẹ của các con sông, là đoạn cuối của Sông Mekong trên lãnh thổ Việt Nam trước khi đổ ra biển Đông Sông Mekong là con sông lớn thứ 12 trên thế giới (4.800km) và lớn nhất Đông Nam Á, tổng diện tích lưu vực tới 795.000km2 Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng thuộc Trung Quốc (cao so với mực nước biển 5000 m), sông Mekong chảy qua 6 nước, từ Trung Quốc qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi đổ vào miền Tây Nam Bộ của Việt Nam qua hai nhánh để ra biển [www.vnmc.gov.vn/Admin/MKÍtro_ENG.asp] Nhánh phía Bắc là Sông Tiền, nhánh phía Nam là sông Hậu Càng xuôi về Nam, hai nhánh sông này càng rộng lớn

Trang 34

Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Cửu Long, chảy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Sa Đéc đến Vĩnh Long, khi còn cách biển chừng 100km, chia ra hai nhánh thành sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên Sông Mỹ Tho phân thành 6 nhánh đổ

ra biển Đông theo 6 cửu là: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Balai, Cửa Hàm Luông, Cửa

Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, đến Cần Thơ chia thành nhiều nhánh rồi lại hội nhập ngay lại, cuối cùng đổ ra biển Đông qua Cửa Ba Thắc, Cửa Định An, Cửa Tranh Đề [Nguyễn Công Bình 1990: 12]

Toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm bồi lắng phù sa của con sông “Mẹ” Hằng năm, nơi đây nhận khoảng 90.000 triệu mét khối nước mưa và 550.000 triệu mét khối nước sông Mekong đổ về, tổng khối lượng phù sa lên đến

1000 triệu tấn/ năm, gấp 7- 8 lần khối lượng phù sa Sông Hồng Một phần phù sa

theo lũ tràn bờ đi vào nội đồng, phần lớn đi ra cửa sông, bồi tụ vùng ven biển “Qua

hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành và vẫn còn đang tiếp tục hình thành Biết bao cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra” [Nguyễn Công

Bình 1990: 14,18]

Hệ thống sông ngòi ở Đồng bằng sông Cửu Long là kết quả tổng hợp của nhiều hệ thống gió mùa và nhiều hệ thống truyền triều tác động từ những hướng luôn thay đổi Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng

10, đây cũng là mùa nước lũ của sông Cửu Long Tổng lưu lượng nước là 475 tỉ mét khối nước/năm, mực nước mùa lũ có thể cao hơn mực nước mùa cạn là 4m, diện tích ngập lũ có thể lên tới trên 1 triệu hecta Khi con sông ở thời kỳ lũ, vùng đồng bằng cửa sông không thể thoát kịp lượng nước khổng lồ của nó, nước lũ chảy ngược vào hồ Tonlé Sap Khi nước lũ rút đi, nước từ hồ lại tiếp tục chảy ra biển Hiệu ứng này làm giảm đáng kể sự nguy hiểm của những đợt lũ lụt nguy hại ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi lũ lụt khiến cho những cánh đồng lúa hàng năm bị chìm ngập sâu từ một đến hai mét nước

Môi trường sông nước Tây Nam Bộ đã tạo nên một đời sống giao thông đường thủy, như một hình thức giao thông chủ đạo trong toàn vùng của con người

Từ những ngày khẩn hoang, người Việt ở miền Tây Nam Bộ đã phải gắn bó chặt chẽ nhịp sống của mình theo các tính chất thủy văn của hệ thống sông ngòi nơi đây Sự vận động của hệ thống truyền triều có thể tạo nên nhiều thuận lợi lẫn khó khăn cho sự

Trang 35

đi lại của con người Đó cũng là một trong những điểm khác biệt của môi trường giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ so với miền Đông Nam Bộ và Bắc Bộ

Điều kiện tự nhiên ở Tây Nam Bộ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài sinh vật Toàn bộ 900 loài thực vật phát hiện ở đồng bằng này đều nằm trong giới hạn thực vật nhiệt đới; nguồn lợi sinh vật chủ yếu là sinh vật ưa nước; hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển là nét tiêu biểu của thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa [Nguyễn Công Bình 1990: 20] Nhờ vào hệ thống sông Mê Kông, Đồng bằng sông Cửu Long đa dạng sinh học hơn hẳn Đồng bằng sông Hồng Hệ thống rừng chàm hiện nay có khoảng 100 nghìn ha Rừng ngập mặn còn khoảng 150 nghìn ha tập trung chủ yếu ở Cà Mau và Bạc Liêu Đặc biệt là hệ thống sinh thái cửa sông ven biển với phong phú tôm, cá nước ngọt, nước lợ… Nơi đây còn có hệ sinh thái thủy sinh rất phong phú ở khu vực nội địa vùng biển Tây Nam chiếm 13,5% trữ lượng cá của cả nước Bên cạnh đó là hàng chục sân chim, nhiều nhất là tỉnh Cà Mau [http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93n…]

Thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa Tây Nam Bộ không chỉ có mặt thuận lợi cho

cây trồng và đời sống con người mà nó còn “tồn tại và phát triển trong trạng thái

tương phản: giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, gió mùa Tây Nam và mùa gió chướng, lũ và hạn, nước ngọt rất thừa mà lại rất thiếu, đất phù sa ngọt với đất phèn, đất mặn… Mỗi sự nhận biết và sử dụng cái thuận lợi của thiên nhiên đó lại đồng thời đòi hỏi phải tìm ra cho được cái khó khăn cũng do nó gây nên để thích nghi và khắc phục” [Nguyễn Công Bình 1990: 21] Môi trường thiên nhiên Tây Nam Bộ luôn khơi

dậy và đòi hỏi con người sự tìm tòi, khám phá và thích nghi Đó chính là tiền đề sinh động của quan hệ con người, cho nếp sống tương trợ, trọng tình, trọng nghĩa; cho nhu cầu sẻ chia tri thức, kinh nghiệm, tình cảm của người Việt, cũng như của người Việt với các tộc người khác ở Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung

1.2.2 Chủ thể văn hóa

Những người Việt lần hồi có mặt tại Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam

Bộ nói riêng, là những người Việt ở Bắc Bộ và phần nhiều từ vùng đất Ngũ Quảng [Sơn Nam 1967/2007: 28-29], từng được nhận diện đặc điểm nguồn gốc xuất thân trong một số công trình nghiên cứu với những nét đặc trưng sau

Trang 36

Thứ nhất, thành phần chủ yếu nhất và đông đảo nhất là những người nông dân và thợ thủ công nghèo, vì quá đói kém, cơ cực do thiên tai và chiến tranh nội chiến kéo dài, vì không chịu nổi sự bóc lột, áp bức hà hiếp của quan lại, địa chủ và chế độ phong kiến Việt Nam đang vào giai đoạn suy tàn, mục ruỗng…Họ buộc lòng phải rời bỏ làng mạc, quê hương mà lưu thân vào Nam Bộ mong tìm kiếm sự sống

So với người Việt còn bám trụ ở lại phần đất đàng cựu thì người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng là thành phần chứa nhiều chất dương tính trong tính cách Họ không ngại sự thay đổi và bất trắc Ý chí thay đổi cuộc sống, thân phận đã tạo nên sức mạnh, lòng quả cảm cho họ có thể rời bỏ quê cha đất tổ, lên đường vào Nam lập nghiệp [Huỳnh Lứa 1987: 41, 43], [Sơn Nam 2007: 28] [Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàm 2005: 220]

Nếu như tính chất nghèo khổ, cùng cực, phải lang bạt để mưu sinh là đặc điểm chung của lưu dân người Việt ở Nam Bộ thì nó thật sự được nhấn mạnh ở chủ thể người Việt ở Tây Nam Bộ hơn là Đông Nam Bộ Chúng ta có thể thấy rằng, những lưu dân người Việt có mặt ở miền Đông sớm hơn miền Tây, nếu như có đủ điều kiện và cơ hội bám trụ, ổn định ở đất miền Đông, những lưu dân đã không đi

xuống miền Tây, “Dân miền Đông nói chung bám lấy Biên Hòa và cảng Sài Gòn,

gần như ít ai dời chổ xuống phía Hậu Giang” [Sơn Nam 2000: 6] Chỉ có những

con người, vì quá nghèo, đã quá cùng cực, họ chỉ có thể trông cậy sự đổi đời vào đôi tay và nghị lực bản thân, vào cơ hội kiếm sống ít sự cạnh tranh bởi miền Tây Nam Bộ là nơi đất đai còn nhiều, thiên nhiên ưu đãi, dân cư thưa thớt

Thứ hai, ngoài số nông dân nghèo thất sở, xiêu tán, trong lớp về người Việt đến đây còn phải kể đến thành phần là những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc được giải ngũ [Huỳnh Lứa 1987: 42] Bên cạnh

đó, còn phải kể đến những tay giang hồ hảo hán, thích sống riêng biệt, tự do, phóng khoáng, không chịu chấp nhận sự hà khắc, thối nát của triều đình phong kiến, hoặc trốn tránh tù tội cũng tìm đường chạy vào Nam Bộ [Sơn Nam 1967/2007: 30,35]

Nếu như tính chất phản kháng, ưa mạo hiểm, tự do, xuất thân phức tạp, “tứ chiến” là những đặc điểm nổi bật của lưu dân người Việt ở Nam Bộ, thì các tính chất này cũng tập trung và rõ rệt hơn ở người Việt miền Tây Nam Bộ hơn miền Đông Nam

Bộ Khẩn hoang ở Đồng bằng sông Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về chính

Trang 37

trị, quân sự, kinh tế, văn hóa “Vua chúa qui định chính sách điền địa, thuế khóa, quân

dịch và thưởng phạt Tùy theo nhu cầu mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn, lập ấp và cầy cấy ở nơi mất an ninh” Những đợt đưa quân chinh phạt hay can

thiệp về mặt quân sự đối với người Cao Miên của các tướng lĩnh triều Nguyễn đều để lại dấu ấn về mặt dân cư ở Tây Nam Bộ Trong việc lập làng - phân chia điền địa, các chúa Nguyễn cũng chú ý đến các vị trí vùng biên Việc mộ dân lập đồn điền và lập ấp giữa thế kỷ 19 (1856) của triều đình nhà Nguyễn, là các hình thức chiến lược lớn nhằm hai mục đích chính “giữ giặc” và “yên dân”, tập trung ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiên,

và một phần ở Vĩnh Tế, Tịnh Biên và Ba Xuyên Thành phần người Việt đến đây được

ghi nhận là “Dân ở khắp lục tỉnh Nam kỳ cùng các tỉnh từ các tỉnh từ Bình thuận trở ra

phía Bắc theo nguyên tắc tình nguyện” [Sơn Nam 1997: 24, 35, 99, 135] Theo đó, sự

chuyển cư tại chỗ ở Nam Bộ và sự di dân tiếp theo của người Việt vùng ngoài đến Tây Nam Bộ, dù ở hình thức tự nguyện hay cưỡng ép, đều cho thấy sự qui tụ của một tầng lớp chủ thể gai góc, dám đương đầu với những gian nguy, bất trắc… Đây thật sự là một diện mạo được nhấn mạnh ở người Việt miền Tây Nam Bộ hơn so với miền Đông

Thứ ba, đây là thành phần tiểu số gồm những thầy lang, thầy đồ nghèo, và những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn [Huỳnh Lứa 1987: 42] cũng tìm vào Nam Bộ Tuy nhiên sự có mặt của thành phần chủ thể thứ ba này ở miền Tây Nam Bộ có những khả năng đậm nhạt Phần lớn những thầy lang, thầy đồ nghèo có khả năng trụ lại ở miền Đông Nam Bộ nhiều hơn bởi nơi đó dân cư đông đúc hơn, ổn định hơn Tây Nam Bộ Sức khỏe của các thầy đồ không thích hợp lắm với công việc khẩn hoang Trong khi đó, những người có vật lực lại có khả năng đến miền Tây Nam Bộ nhiều hơn, bởi nơi đây đất đai còn rất nhiều, cơ hội làm giàu dễ dàng hơn

Trong tiến trình hình thành và phát triển của mình, chủ thể người Việt ở miền Tây Nam Bộ cũng thể hiện một diện mạo phân hóa giàu nghèo rõ nét nhất ở Nam

Bộ, điền chủ giàu có nhất miền Nam cũng thuộc miền Tây Nam Bộ, với câu chuyện đốt tiền nấu chè của “Công tử Bạc Liêu”

Sinh sống và phát triển cùng chủ thể người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung còn có các cộng đồng tộc người khác như người Khmer, người Hoa, người Chăm Những chủ thể này cũng vì nghèo khổ, bị đàn

Trang 38

áp, bức bách phải lang bạt mưu sinh [Nguyễn Công Bình 1990: 223-224], tính chất

tứ xứ như một đặc trưng của chủ thể văn hóa ở Nam Bộ Từ đặc điểm cùng là người

tứ xứ, cùng cảnh ngộ, có một mục đích chung là mưu cầu cuộc sống ổn định và phát triển nơi miền đất mới Đây chính là tiền đề cho sự đoàn kết, tương trợ của các cộng đồng dân cư , là điều kiện nảy sinh và phát triển cho hoạt động giao tiếp và giao lưu văn hóa của người Việt với các cộng đồng Khmer, Hoa, Chăm ở miền Tây Nam Bộ nói riêng, Nam Bộ nói chung

1.2.3 Thời gian văn hóa

Khám phá khảo cổ học cách ngày nay 4000 năm đến 2.500 năm cho biết con người đã có mặt trên vùng đất Nam Bộ trên một địa bàn rộng lớn, mật độ cư trú khác nhau, chủ yếu ở Đông Nam Bộ Tại vùng châu thổ sông Cửu Long, cho đến nay khảo cổ học chưa tìm thấy những di tích cư trú đích thực của lớp dân cư đầu tiên ấy Chỉ đến những thế kỷ đầu công nguyên mới có những bằng chứng vật chất

về sự cư trú của con người ở vùng tứ giác Long Xuyên, U Minh Thượng ngày nay, trước hết là vùng Óc Eo – Ba Thê

Từ sau khi vương quốc Phù Nam sụp đổ, cho đến thế kỷ thứ XVI, vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành đất Thủy Chân Lạp, người Khmer là cư dân chủ yếu ở miền Tây và một phần miền Đông Nam Bộ lan tới lưu vực sông Bến Nghé (nay là sông Sài Gòn) Tuy nhiên, lớp dân cư thứ hai này rất ít ỏi về số lượng và phần lớn sống rải rác trên vùng đất giồng, tạo thành các khu vực cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác ở các nơi khác [Thạch Phương 1992: 27] Trước thế

kỷ XVII, người Khmer giữ vai trò là chủ thể chủ đạo trên miền đất này

Sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt tại Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng có thể chia làm 3 giai đoạn

Thứ nhất, giai đoạn khẩn hoang từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX

Nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta

II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đàng Trong và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống Khoảng cuối thế kỷ XVI, đã có những người Việt đầu tiên vượt biển tới khai phá vùng đất này [Lý Tùng Hiếu 2008: www.vanhoahoc.edu.vn]

Trang 39

Bước sang thế kỷ XVII, tiến trình di cư của lưu dân người Việt từ đàng ngoài vào Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng diễn ra liên tục cùng với mức độ

ngày càng khốc liệt của cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn [Huỳnh Lứa 1987: 43]

Đến nửa cuối thế kỷ XVII, ngoài người Khmer và người Việt có mặt ở Nam

Bộ, những người Hoa từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam … khoảng 3.000 người đến vùng đất Nam Bộ (1679) Chia làm hai nhóm, nhóm do Trần Thượng Xuyên cầm đầu đến vùng Biên Hòa thuộc miền Đông Nam

Bộ ngày nay; một nhóm nữa do Dương Ngạn Địch làm thủ lĩnh đến Mỹ Tho thuộc miền Tây Nam Bộ đến 1680, miền Tây Nam Bộ có sự gia tăng của người Hoa, một nhóm khoảng 200 người, do Mạc Cửu thống lĩnh đến Hà Tiên (Mang Khảm) Hầu hết người Hoa sống tập trung ở những vùng miền thuận lợi cho việc thương mãi, vốn là sở trường của họ như Hà Tiên, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Biên hòa… và các thị tứ, thị trấn nơi giáp nước, vàm, vùng cửa sông ở Đồng bằng sông Cửu Long [Nguyễn Công Bình 1990: 39], [Huỳnh Lứa 1987: 44]

Khi cuộc Nam Bắc phân tranh chấm dứt (1698), để củng cố bộ máy cai trị, các chúa Nguyễn đã khởi động chiến lược phát triển xứ đàng trong với mục đích mở rộng địa bàn thống trị, gia tăng được thuế đinh, thuế điền, điều tiết và giải quyết được tình hình đói kém, nổi loạn có thể xảy ra Đợt di dân khẩn hoang lớn đầu tiên được chính thức xúc tiến vào cuối thế kỉ XVII, khi Nguyễn Hữu Kính vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào xây dựng chính quyền trên đất Biên Hòa - Gia Định [Huỳnh Lứa 1987: 43]

Trong các thế kỷ XVII, XVIII, lưu dân người Việt cũng lần lượt định cư và tiến hành khai khẩn ở hai bờ sông Vàm Cỏ Tây, bờ Bắc sông Tiền và các cù lao nơi cửa sông Tiền Ở ven Đồng Tháp Mười, ven khu tứ giác Long Xuyên rải rác cũng

có nhiều giồng phì nhiêu, ít bị ngập lụt, cũng đã được những lưu dân đặt chân tới và trụ lại, khai khẩn một vài vùng “đất phước”, nổi tiếng nhất là Tân Châu và vùng Cao Lãnh) Ở khu vực ven biển phía Tây Nam (vùng Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau)

từ những thập niên cuối thế kỷ XVII trở đi, lưu dân người Việt, sau đó là người Hoa cũng đã đến sinh tụ, khẩn đất, gieo trồng cùng với cư dân tại chỗ - người Khơme [Huỳnh Lứa 1987: 52-53]

Trang 40

Phía mũi Cà Mau, tuy đất thấp và đang trong quá trình bồi tụ vẫn có nhiều giồng ở ven bờ các sông Cái Lớn, Cái Bé, Gành Hào, Ông Đốc mà con người có thể

cư trú làm ăn Vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ mặc dù là vùng úng thủy bao la, nhưng bên trong vẫn có những gò cao ráo, nhỏ hẹp, tạm đủ cho vài mươi gia đình làm ăn sinh sống Vì vậy, từ cuối thế kỷ XVII trở đi, nơi đây vẫn có những lưu dân người Việt, người Hoa đến ở và lập kế sinh nhai

Trong nửa đầu thế kỷ XVIII những lưu dân hầu như có mặt trên khắp các cù lao như cù lao Tân Huề, cù lao Giêng, cù lao Ông Chưởng, cù lao Mây, cù lao Năm Thôn (trên sông Tiền), cù lao Cát, cù lao Dung… (trên sông Hậu) Vùng bờ nam sông Tiền, một bộ phận lưu dân người Việt, trong đó phần lớn là tín đồ đạo Thiên Chúa ở miền ngoài lánh nạn cấm đạo đến sinh sống và khai khẩn ở khu Cái Mơn và Cái Nhum Họ cũng đến sinh sống và khai khẩn trên vùng đất giồng như Sóc Sải,

Ba Vát, Bang Tra, Thom, Mỏ Cày (Bến Tre) Ở khu vực Trà Vinh, Sóc Trăng, Ba Thắc, cũng có một ít lưu dân người Việt đến cư trú, lẫn lộn với người Khơme là thành phần cư dân chiếm đa số ở đây [Huỳnh Lứa 1987: 54]

Tóm lại, cho đến cuối thế kỷ XVIII, lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt

đã đặt chân tới nhiều nơi trên đồng đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên

rõ ràng là các điểm định cư và khai khẩn chưa được phân bố đều khắp do điều kiện thiên nhiên ở các vùng có sự khác nhau Trong các thế kỷ XVII, XVIII lưu dân người Việt có mặt đông đảo ở các vùng Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé, Mỹ Tho, Bến Tre, nhất là những vùng gần sông Vàm Cỏ, sông Tiền là những vùng có nhiều thuận lợi đối với việc làm lúa nước Ở vùng bên hữu ngạn sông Tiền qua đến sông Hậu, lưu dân người Việt cũng đã có mặt, nhưng do môi trường thiên nhiên ít thuận lợi, đồng đất trũng thấp nên số người đến và khai khẩn chưa nhiều Họ chỉ sống rải rác trên một số nơi như Châu Đốc, Sa Đéc, Tân Châu Phía bên kia sông Hậu, việc khai khẩn chỉ phát triển lẻ tẻ ở một vài nơi ven biển như Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên …

Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, có thêm người Chăm định cư ở núi Bà Đen (còn gọi là Bà Đinh), Châu Đốc, An Giang Họ cư trú thành làng (pley) Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man Năm

1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh Về sau, người Chăm ở

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w