Chương 3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH CÁCH MIỀN TÂY NAM BỘ THỂ HIỆN QUA KINH DOANH
3.3 Tương lai của văn hóa kinh doanh ở miền Tây Nam Bộ
3.3.2 Điều chỉnh các giá trị
Các ngành nghề kinh doanh chính ở miền Tây Nam Bộ mang đậm tính sông nước (nghề cá, nghề ghe xuồng, nông, hải sản…). Mỗi năm, đồng bằng sông Cửu Long sản xuất trên 20,7 triệu tấn lúa, chiếm 53,4% sản lượng lúa và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước; diện tích cây ăn quả khoảng 290.000ha với sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn/năm, trong đó có nhiều sản phẩm nổi tiếng như bưởi, xoài, vú sữa, măng cụt, sầu riêng...
Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản khoảng 3 triệu tấn/năm, (chiếm 58% cả nước). Kim ngạch xuất khẩu thủy sản khoảng 2,5 tỷ USD (chiếm 60% cả nước). Tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu xuất ở dạng thô; nhiều sản phẩm làm ra giá thành còn cao, sức cạnh tranh thấp. Chế biến thủy sản là ngành công nghiệp mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao nhưng sản phẩm chế biến chỉ là cá tra philê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh. Ngành này chưa thu hút được các nhà đầu tư do chiến lược quy hoạch thiếu tính đồng bộ và tính liên kết, thiếu hụt nguồn nhân lực cao, năng lực cạnh tranh thấp.
Sản lượng thủy hải sản, lương thực nhiều, nhưng cần có những mô hình mới để tạo ra các cụm sản xuất hàng hóa số lượng lớn giá rẻ. Hiện tại, ngành này chưa tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho các sản phẩm, chưa tạo ra hiệu suất cao hơn cho chuỗi giá trị liên quan đến các hoạt động về canh tác
[Thông tấn xã Việt Nam 2010: Đồng bằng sông Cửu Long: Mũi nhọn đã có, chỉ thiếu "bước đi" thích hợp].
Theo chúng tôi, nhìn ở góc độ văn hóa học, những “khiếm khuyết” ở trên phần lớn là do các doanh nhân miền Tây Nam Bộ thiếu tính chuyên nghiệp.27 Tính chuyên nghiệp là giúp các chủ thể kinh doanh tổ chức hoạt động và phát triển lĩnh vực kinh doanh của mình một cách chuyên nghiệp, bài bản đúng theo các chuẩn mực kinh doanh. Tính chuyên nghiệp còn thể hiện trong cách thức và phong thái làm việc, giao tiếp. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tiến hành giao dịch, làm ăn với đối tác, khách hàng.
Đó còn là điều kiện cần, trong khi đó tính thiết thực và đổi mới là điều kiện đủ để doanh nhân hoạt động có hiệu quả. Tính thiết thực giúp doanh nhân tận dụng các cơ hội thị trường để triển khai kinh doanh. Tinh thần đổi mới (cách tân) thúc đẩy doanh nhân khám phá và sử dụng công nghệ sản xuất sản phẩm mới, tìm kiếm thị trường, nguồn cung cấp và áp dụng hình thái tổ chức mới. Theo Peter Drucker, đây là một hoạt động duy lý được tổ chức một cách có hệ thống [dẫn theo Trần Hữu Quang 2007: 29-30].
Các giá trị cần điều chỉnh
Theo chúng tôi, doanh nhân miền Tây Nam Bộ gần đạt các tiêu chí năng động, cách tân, thiết thực, đổi mới … nhưng cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Riêng tính chuyên nghiệp thì cần phải xem xét một các thấu đáo.
Xét về phong cách, với tính thiết thực doanh nhân miền Tây Nam Bộ có lối quan niệm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nên họ không quan trọng hình thức.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngày càng phải quy chuẩn và trang trọng,
27“Doanh nhân là con người thực hiện hoạt động kinh doanh một cách chuyên nghiệp. Doanh nghiệp là tổ chức do doanh nhân lập ra để thực hiện hoạt động kinh doanh một cách chuyên nghiệp và hiệu quả” [Trần Ngọc Thêm 2007].
đặc biệt là khi mối quan hệ kinh doanh mở rộng ra với các đối tác nước ngoài, cần phải biết xây dựng “nhân hiệu” cho mình. Bởi, bán hàng là “bán hình ảnh của mình” (sell yourself).
Muốn đối tác không có thái độ “khai hóa” thì mình cũng phải tạo “bề ngoài hình ảnh doanh nhân” của mình, tránh để đối tác tưởng mình là nhân viên qua cách ăn mặc “bình dị”. “Đừng nhìn chúng tôi bằng cặp mắt của người đi khai hóa”. Không phải ngẫu nhiên mà ông giám đốc công ty E, một doanh nghiệp tiếng tăm ở miền Tây đã phải kêu lên như thế với đối tác đến từ thành phố Hồ Chí Minh. Thực tế, có không ít nhân viên của một số công ty ở thành phố Hồ Chí Minh hay mang vẻ mặt trịch thượng khi giao tiếp với người kinh doanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; đôi khi chính sếp của họ cũng thế” [Hải Sơn 2001].
Do không trọng hình thức, nhiều doanh nhân miền Tây Nam Bộ không chuyên nghiệp trong việc giao tiếp, thuyết phục khách hàng. Họ có thể mạnh dạn trong làm ăn nhưng ‘nhút nhát trong giao tiếp”. “Người miền Tây khi ừ một tiếng tức là xong, nhưng khi nhập đề thì thích cách lung khởi hơn. Họ hay bối rối và bị sốc khi bị đặt vấn đề trực diện. Chính vì sự "nhút nhát" này, công việc bên bàn nhậu khiến họ tự tin hơn, dễ ăn nói hơn [Lê Duy 2010].
Tuy năng động, nhanh nhẹn nhưng các doanh nhân miền Tây Nam Bộ vẫn thiếu thông tin (một biểu hiện của tính không chuyên nghiệp). “Dân kinh doanh Sài Gòn nắm được mối lái nước ngoài nên có lợi thế hơn chúng tôi - một số chủ doanh nghiệp Vĩnh Long bộc bạch. Họ có nhiều chiêu thức để tranh mua tranh bán, thậm chí chèn ép giá đối với các doanh nghiệp địa phương. Chúng tôi lo lắng nhưng do thiếu thông tin và chưa có mạng lưới nên vẫn buộc phải bán hàng cho họ”…Những câu nói cửa miệng đại loại như
“quen lớn”, “quan hệ rộng”, “thông tin đặc biệt”... vẫn được sử dụng rất phổ
biến trong giới làm ăn thời nay…Phải chăng, để hình thành lớp doanh nhân mới ở miền Tây, cần giúp họ lột xác hơn nữa? [Trương Quang Thông 2008].
Thói quen xề xòa, không trọng hình thức trong các giao dịch hợp đồng cũng dễ dẫn đến nguy cơ tranh chấp. Quan trọng hơn, có thể trong mắt đối tác, doanh nhân miền Tây Nam Bộ làm ăn không chuyên nghiệp: “Với bản tính phóng khoáng, dân miền Tây không thích bị ràng buộc. Thoả thuận điều gì xong mà đưa ngay bản ghi nhớ bắt ký tên có khi làm họ nổi giận, hủy ngang luôn. Có nhiều công ty hàng mấy năm nay, thực hiện các chương trình chỉ thông báo miệng, vậy mà vẫn êm ru, chương trình nào cũng thành công.
Nhưng khi chọn họ làm đại lý thì phải có những cam kết, ràng buộc chứ không có sao được” [Lê Duy 2010].
Bao dung, trọng nghĩa nhưng cũng phải thiết thực và chuyên nghiệp.
Giúp đối tác nhưng cũng nên bắt họ ký giao kèo cho những giao dịch lần sau chứ không thể cứ nằm chờ lòng tốt của đối tác. Sự tôn trọng và cam kết làm ăn lâu dài đôi lúc phải được “thiết chế hóa” một cách chuyên nghiệp. Kinh doanh phải “được cho người và được cho ta” chứ không phải cho đi một chiều: “Có ông giám đốc liên tục gọi điện mời mua hàng, thậm chí khi nghe tôi trả lời không được sốt sắng lắm thì đã chở cả xe tải sản phẩm cồng kềnh từ Tp.HCM xuống tận miền Tây trực tiếp chào hàng, nếu tôi không đồng ý thì ông chở về. Tất nhiên tôi không thể phụ lòng nhiệt tình đó, hơn nữa hàng cũng khá thích hợp với thị hiếu người địa phương. Nhưng hàng bán hết, gọi cho ông để đặt tiếp thì chỉ nhận những lời hứa nhát gừng. Sau này mới biết ông đã tìm được nơi tiêu thụ ổn định ở Tp.HCM nên không cần mối hàng xa như lúc mới bắt đầu sản xuất nữa. “Người miền Tây vốn phóng khoáng, ngoài tính sòng phẳng còn xem trọng chuyện nghĩa tình. Muốn hợp tác với
họ mà thiếu sự tôn trọng và lòng thủy chung thì mục đích khó đạt hoặc không bền” [Hải Sơn 2001: “Xuống" miền Tây].
Cần thực tiễn và chuyên nghiệp hơn nữa để tránh kiểu làm việc theo cảm tính cực đoan “thấy ghét” là “nghỉ chơi” khiến chính mình là người bị thiệt trước tiên: “Nhà sản xuất nọ có cách chào hàng và thuyết phục rất hay, hợp đồng được ký liền ngay buổi gặp mặt, nhưng khi chuẩn bị ra về ông ta mượn điện thoại bàn của tôi để gọi cho hai, ba cửa hàng khác trong địa bàn để hẹn làm việc. Có lẽ ông ta nghĩ, gọi nội hạt thì sử dụng điện thoại di động của mình chi cho phí. Thế là tôi cũng hủy ngay hợp đồng đặt hàng ký chưa ráo mực. Không thể có điều hứa hẹn gì tốt đẹp với một đối tác tiết kiệm cho mình bằng cách đẩy chi phí cho người khác gánh” [Hải Sơn 2001].
Nếu thực tiễn và chuyên nghiệp hơn sẽ thấy rằng hợp đồng trên ít nhất cũng mang lại lợi ích tài chính để “lấy ngắn nuôi dài”. Quan trọng hơn, chỉ vì không “ưa” đôi tác nên doanh nhân này bỏ mất một cơ hội tận dụng vốn xã hội lớn để phát triển kinh doanh. Nếu đối tác có “giở quẻ” sau này thì căn cứ vào hợp đồng mà xử (một cách chuyên nghiệp). Đừng tập trung tuyệt đối vào định hướng quan hệ mà đôi lúc phải tập trung vào thương vụ mới có thể tận dụng được cơ hội thị trường. Cơ hội làm ăn không phải lúc nào cũng có. Vì vậy, phải biết kết hợp hài hòa giữa định hướng dài hạn và ngắn hạn.
Tính thiết thực, năng động và linh hoạt khi được vận dụng một cách thiếu chuyên nghiệp thì dễ “thay đổi theo con nước”, khó liên kết lâu dài để phát triển (tâm lý tự chủ: mỗi người một ghe, một bè để tự mình bơi). Tuy doanh nhân miền Tây Nam Bộ có lối nghĩ lớn, làm ăn lớn nhưng chưa thể liên kết thành các hiệp hội, tập đoàn lớn mạnh bởi phần lớn họ chưa có cái nhìn dài hạn và chỉ phát triển một số ngành nghề (thường là truyền thống) đến một mức độ nhất định, chưa thể đi xa và lớn mạnh hơn nữa.
Tính tạm bợ khi kết hợp với tính linh hoạt dễ dẫn đến cái nhìn ngắn hạn trong kinh doanh (thay đổi ngành nghề nhanh, liên tục nhằm ứng phó với hoàn cảnh thay vì có tầm nhìn xa và định hướng dài hạn và kiên trì theo đuổi mục tiêu). Sản xuất, kinh doanh chạy theo phong trào sinh ra tâm lý “ăn cả ngả về không” thay vì bọc lót, yểm trợ (mất mùa thứ này còn thứ khác đỡ).
Với việc giá khoai lang tăng cao kỷ lục, nhiều hộ nông dân ở vùng lũ Vĩnh Long, Đồng Tháp đã mạnh dạn sang Cần Thơ thuê đất trồng khoai. Nếu trước đây người dân trồng khoai lang ở huyện Bình Tân luân canh “lúa - khoai hoặc khoai - lúa”, thì nay có nhiều diện tích canh tác đã chuyển hẳn sang chuyên canh khoai lang. Nếu thị trường Trung Quốc không ăn hàng nữa chắc chắc sẽ “dội chợ”, rớt giá thê thảm [Trung Chánh 2011: Nông dân miền Tây đổ xô trồng khoai lang].
Tính tạm bợ khi kết hợp với tính linh hoạt dễ dẫn đến việc hàng dỏm, hàng giả để “đáp ứng nhanh” yêu cầu của thị trường: “Tại các chợ ở Long Xuyên, xuất hiện mặt hàng cá linh non tươi sống bày bán tràn lan với giá "cắt cổ", từ 120.000-150.000 đồng/kg. Đây là "cú lừa" ngoạn mục đối với người tiêu dùng, bởi mới đầu mùa lũ không thể có loài cá này. Do cá Rôhu có đặc điểm, hình dạng rất giống cá linh nên một số chủ bán cá tại các chợ đã thu gom chúng từ các trại sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trong và ngoài tỉnh với giá khoảng 70.000 đồng/kg về bán lại cho người tiêu dùng để kiếm lời [Minh Tuấn 2011: Cá linh giả xuất hiện ở miền Tây].
Tâm lý tạm bợ kết hợp với tính sông nước, phóng khoáng tạo ra tính cá thể (tự chủ, tự cường, không muốn bị ràng buộc trong kinh doanh) theo lối
“hòa nhập chứ không hòa tan”. Các buổi chợ nổi thì ghe xuồng, mọi người quần tụ nhanh nhưng cũng tan ra và “trôi dạt” nhanh.
Đây cũng là biểu hiện của cái nhìn ngắn hạn, không tính đường dài để xây dựng các hiệp hội để đảm bảo phát triển bền vững. Ví dụ, việc không đồng thuận trong trồng bưởi chuyên canh đạt tiêu chuẩn Global Gap (tiêu chuẩn toàn cầu về chất lượng, an toàn và truy nguyên được nguồn gốc) cho thấy sự liên kết yếu kém và quy hoạch. Chứng nhận Global Gap cho sản phẩm bưởi Năm Roi là tấm “hộ chiếu” vào các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ. Nhưng nhiều người đã quyết định từ bỏ nó để trồng bưởi bình thường. Một nhà vườn có diện tích lớn ở Vĩnh Long cho biết: “Tôi muốn buông Global Gap vì chẳng có lợi gì cả, bán bưởi cho hợp tác xã thì giá rẻ quá, còn bán cho thương lái chỉ bán sô (không phân loại bưởi)”. Cần quy hoạch vùng chuyên canh rộng lớn, hỗ trợ kĩ thuật từ các nhà khoa học và có đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp về vốn để đảm bảo đầu ra ổn định [Chí Quốc 2010: Khi người trồng bưởi bỏ Global Gap].
Trong lĩnh vực du lịch cũng còn giẫm chân lên nhau. Các địa phương lại
“rập khuôn” một kiểu, không tạo ra “lợi thế so sánh” riêng biệt. Cung cấp cùng một sản phẩm nhưng theo hiện tượng đèn nhà ai nấy sáng nên không tạo ra thế mạnh thương hiệu do quy mô còn nhỏ của từng vùng [Nguyễn Chính Tâm 2009].
Văn hóa nhận thức cảm tính của doanh nhân miền Tây Nam Bộ còn mang tính cảm tính cao. Khi lý giải cho thành công của mình trong kinh doanh hoặc không muốn công nhận thắng lợi của người khác thì câu nói cửa miệng phổ biến của người Việt miền Tây Nam Bộ là “Hay không bằng hên”,
“Nhờ Bà (Chúa xứ) độ”, “Chó táp nhằm ruồi” đó mà! Làm kinh doanh theo theo phong trào, may ăn rủi chịu28 nhưng đến lúc nào đó phải cạnh tranh thì
28Tâm lý tạm bợ, thụ động ỉ lại “nằm chờ sung rụng” theo chu kỳ của con nước thay vì chủ động tìm hướng thay đổi hoặc làm cho tốt hơn. “Vợ chồng Tư Cồ chỉ tốn có một ngày rưỡi (từ ngày gieo mạ đến lúc thu
cũng chơi phá luật cho thấy nhận thức chuyên sâu về quản trị kinh doanh của doanh nhân miền Tây Nam Bộ là còn yếu. “Khi hàng trăm, hàng ngàn cơ sở sản xuất, ương giống cá tra mọc lên khắp đồng bằng thì cuộc khủng hoảng thừa về cá giống mà còn đối với cá thành phẩm. Giá bán giảm liên tục trong khi chi phí, giá thành ngày càng đội lên khiến người nuôi lỗ lã nặng nề.
Nông dân treo ao, bán ao, bán cả xe hơi để trang trải nợ nần”. Đặc biệt, khi rào cản thương mại từ Mỹ được giăng ra, nhiều doanh nghiệp lao đao và tìm mọi cách đẩy hàng của mình đi để sống bằng bất cứ giá nào, kể cả tự hạ giá bán để cạnh tranh (tự giết chết mình). “Có 10 công ty tại đồng bằng sông Cửu Long đang xuất qua Mỹ nhưng cũng đã đấu đá với nhau”. Từ đó, dẫn đến các hệ lụy như: gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh [Quang Vinh - Phương Nguyên 2010: (Kỳ cuối)].
Cũng vì không chú tâm chuyên sâu, hoặc không nhìn nhận và đánh giá một cách chuyên nghiệp các gía trị vô hình nên doanh nhân miền Tây Nam Bộ dễ bị mất bí quyết kinh doanh, thương hiệu...Nhiều doanh nhân miền Tây Nam Bộ quan niệm việc tiếp thị, xây dựng thương hiệu là đơn giản (theo phong trào, tự phát). “Một bài học cách nay 10 năm mà ông Giáo Thơ và dân làng nem vẫn nhớ hoài. Ai cũng nghĩ làm nem dễ mang lại cho người ta sự giàu có, thế là phong trào làm nem phát triển rầm rộ theo kiểu “nhà nhà làm nem”…Ngày nay có rất nhiều người đã lợi dụng thương hiệu nem Lai Vung để sản xuất nem giả, chất lượng kém bán tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng uy tín làng nem” [Duy Nhân 2010: Giữ hồn đặc sản miền Tây].
hoạch phát cỏ một buổi, gieo giống một buổi rồi bỏ đó, bốn tháng sau đến thu hoạch, tốn thêm một buổi nữa) để làm lúa loại lúa Xom Mà Ca trên Ruộng Lò Bom” [Sơn Nam 2010: Ruộng Lò Bom].
Người miền Tây Nam Bộ xây dựng thương hiệu theo phong trào, tự phát: “Một bài học cách nay 10 năm mà ông Giáo Thơ và dân làng nem vẫn nhớ hoài. Ai cũng nghĩ làm nem dễ mang lại cho người ta sự giàu có, thế là phong trào làm nem phát triển rầm rộ theo kiểu “nhà nhà làm nem”…Ngày nay có rất nhiều người đã lợi dụng thương hiệu nem Lai Vung để sản xuất nem giả, chất lượng kém bán tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng uy tín làng nem” [Duy Nhân 2010: Giữ hồn đặc sản miền Tây].