Miền Tây Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa

Một phần của tài liệu Văn hóa kinh doanh ở miền tây nam bộ (Trang 38 - 42)

Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.4. Vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ

1.4.4. Miền Tây Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa

Miền Tây Nam Bộ là địa bàn cư trú của nhiều tộc người. Trong đó, người Việt chiếm đa số (92%) và là chủ thể văn hóa ở miền Tây Nam Bộ;

(người Khmer chiếm 7%; người Hoa chiếm 0,76%; người Chăm 0.07%...).

Người Việt

11 Kênh Thoại Hà (1817), kênh Vĩnh Tế (1820-1824), kênh Vĩnh An (1843-1844)

Quá trình Nam tiến của người Việt chính thức bắt đầu khi Nguyễn Hoàng xin Trịnh Kiểm trấn thủ vùng đất từ Quảng Bình trở vào. Theo nhiều nhà nghiên cứu, người Việt bắt đầu đến khai khẩn vùng đồng bằng Sông Cửu Long vào nửa cuối thế kỷ XVII. Ở giai đoạn này, phần đông lưu dân là nông dân và thợ thủ công nghèo ở các tỉnh phía Bắc vì không chịu nổi những tai họa do chiến tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn cũng như sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến buộc phải rời bỏ quê hương để tìm đất sống. Quá trình di dân vào Nam Bộ diễn ra liên tục khi chiến tranh ngày càng khốc liệt và mâu thuẫn giữa địa chủ và giai cấp nông dân trở nên gay gắt.

Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, triều Nguyễn xác lập quyền cai trị ở vùng đất Nam Bộ và chủ trương chiêu mộ lưu dân vào Nam khai hoang. Một số ít những kẻ giàu có chiêu mộ người nghèo đi tìm đất khai phá làm ăn. Với vốn liếng và kiến thức hơn hẳn những những cư dân nghèo, họ đẩy mạnh khẩn hoang và canh tác, lớn mạnh thành một tầng lớp đại điền chủ.

Ngoài ra, lực lượng di cư vào thời kỳ này còn có những tội đồ bị phát vãng và binh lính của triều đình được cử vào khai phá và bảo vệ lãnh thổ.

Binh lính của triều đình khi già yếu, bệnh tật không còn sức chiến đấu cũng được khuyến khích ở lại đây lập nghiệp.

Cư dân đến khai phá miền Tây Nam Bộ phần đông là những người đã chọn từ bỏ nếp sống cũ quen thuộc để mưu sinh trên một vùng đất mới. “Ông cha ta thời Nguyễn Hữu Cảnh (1698) đã đến vùng Đồng Nai - Cửu Long mở nước với động cơ chính là tìm công ăn việc làm, cơ bản là tìm đất canh tác vì miền Trung đất chật, người đông” [Sơn Nam 2008:23]. Huỳnh Lứa [2008] đã nhận xét: “Họ là những người cứng rắn, mạnh mẽ, có tài tháo vát và bản lĩnh để trụ lại trên một vùng đất nhiều cơ hội cũng như đầy rẫy nguy cơ. Họ là dân ‘tứ chiếng’ từ những tỉnh, phủ, xã khác nhau, chủ yếu từ những vùng nổi

tiếng hay cãi, cứng đầu, mang trong mình nhiều chất phản kháng, nổi dậy, ít chất thần phục quyền uy phong kiến, càng ít sự ràng buộc của lễ giáo dạo đức Khổng Mạnh, có tư tưởng ‘dọc ngang nào biết trên đầu có ai’”.

Người Việt miền Tây Nam Bộ có tính năng động nhiều nhất trong một nền văn hóa Việt Nam vốn “trọng tĩnh”. Tính năng động của cư dân miền Tây Nam Bộ được nuôi dưỡng bởi những yếu tố không gian và thời gian.

Vùng Tây Nam Bộ là vùng đất mở, nơi tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau thông qua hoạt động ngoại thương.

Tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện qua năm đặc trưng chính: tính sông nước, tính bao dung, tính năng động, tính trọng nghĩa và tính thiết thực. Hệ thống năm đặc trưng này là cần và đủ để xác định tính cách văn hoá người Việt miền Tây Nam Bộ. Chúng đủ điển hình để chi phối mọi biểu hiện tính cách văn hoá khác. Năm đặc trưng này và hệ quả của chúng được thể hiện trong bảng dưới đây [Trần Ngọc Thêm 2008]:

ĐẶC TRƯNG HỆ QUẢ

Tính sông nước

1. Giao thông đường thuỷ rất phát triển

2. Thuỷ sản và động thực vật sông nước là thức ăn chủ lực 3. Phương ngữ Nam Bộ rất giàu các từ ngữ chỉ các sự vật,

khái niệm liên quan đến nước

4. Sông nước trở thành cơ sở, hình ảnh để diễn đạt tính cách con người

Tính bao dung

1. Các tộc người ở xen lẫn nhau mà vẫn thừa nhận và tôn trọng phong tục tập quán của nhau

2. Các tôn giáo khác nhau vẫn tôn trọng nhau và cùng tồn tại với mật độ cao nhất nước

3. Dung nạp được những tính cách trái ngược nhau với biên độ khá rộng

Tính năng động

1. Khả năng dễ tiếp nhận cái mới 2. Tính sáng tạo

3. Sự phát triển của thương nghiệp 4. Khả năng dám làm ăn lớn

1. Tính hào hiệp, sống hết mình, sẵn sàng đùm bọc, sẻ chia

Tính trọng nghĩa

2. Tính hiếu khách

3. Tính thẳng thắn, bộc trực

Tính thiết thực

1. Khuynh hướng đơn giản hóa trong biểu trưng ước lệ nghệ thuật

2. Tinh thần trọng võ, trọng làm ăn buôn bán hơn văn chương

3. Trọng hài hước nhẹ nhàng hơn triết lý sâu xa 4. Tính vừa phải

5. Tâm lý tạm bợ

Bảng 4: Hệ thống đặc trưng tính cách người Việt Nam Bộ

Người Hoa

Giai đoạn đầu, người Hoa ở miền Tây Nam Bộ phần đông là quan quân nhà Minh không chịu phục tùng triều đình Mãn Thanh đến Việt Nam xin tị nạn. Năm 1676 là mốc thời gian đánh dấu sự xuất hiện của người Hoa ở khu vực này khi chúa Nguyễn cho phép Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch dẫn 3.000 người phản Thanh phục Minh đến sinh sống ở Biên Hòa và Mỹ Tho. Số lượng người Hoa tăng nhanh dưới thời Pháp thuộc. Năm 1889, số người Hoa nhập cư vào Nam Bộ là 57,000 người, phân bố ở các tỉnh Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Mỹ Tho và ở vùng phụ cận Sa Đéc, Châu Đốc [dẫn theo Ngô Văn Lệ - Nguyễn Duy Bính 2005: 16].

Từ thế kỷ 18, số lượng người Hoa nhập cư vào Nam Bộ ngày càng tăng do những nguyên nhân như thiên tai, mất mùa, chiến tranh ở Trung Quốc.

“Đại đa số người Hoa đã đến Đàng Trong bằng đường biển, điều đó có nghĩa là đa số trong họ là những cư dân ở các vùng duyên hải phía nam Trung Quốc. Như vậy họ sẽ là những người có hiểu biết về biển, giỏi về giao thương trên biển, về kỹ thuật đóng thuyền, kỹ thuật thuỷ chiến, có kinh

nghiệm trong việc giao lưu tiếp xúc, giao nhận, kiểm kê hàng hoá ở các cảng biển…” [Huỳnh Ngọc Đáng 2011]

Doanh nhân người Hoa ở miền Nam đã khẳng định vị thế của mình. Ban đầu họ kinh doanh các ngành nghề dịch vụ từ qui mô nhỏ và khi tích luỹ được vốn thì tiến tới kinh doanh với qui mô lớn và chuyển sang sản xuất rồi kinh doanh xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng, bất động sản. Kiểu kinh doanh theo định hướng dài hạn, trọng chữ “TÍN” đã giúp họ thành công.

Theo Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính [2005: 28] thì hoạt động kinh tế năng động của người Hoa đã góp phần vào sự phát triển và hưng thịnh của Sài Gòn – Chợ Lớn vào đầu thế kỉ 20.

Theo chúng tôi, người Hoa ở miền Tây Nam Bộ với truyền thống kinh doanh lâu đời có ít nhiều cũng đã ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh của người Việt miền Tây Nam Bộ.

Một phần của tài liệu Văn hóa kinh doanh ở miền tây nam bộ (Trang 38 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)