Mặt khác, chúng tôi cũng muốn thông qua sự nghiên cứu của mình về tập tục thờ cúng cô hồn để nhằm xác định đây là một hiện tượng văn hóa dân gian mà nếu nhìn với góc độ khoa học văn hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
VŨ MINH TUẤN
TẬP TỤC THỜ CÚNG CÔ HỒN CỦA NGƯỜI
VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Sau thời gian theo học chương trình Cao học tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, được quý thầy cô nhiệt tình cung cấp
kiến thức chuyên ngành Văn hóa học, tôi đã chọn đề tài Tập tục thờ cúng cô hồn
của người việt ở miền Tây Nam Bộ để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Với tôi, đây
là một đề tài mới, rất ít tư liệu; nhưng Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phan An - với tư cách người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu mà mình đã chọn
Tôi xin kính gửi lời cám ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa Văn hóa học và các Thầy Cô thỉnh giảng, đặc biệt là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phan An đã dành thời gian hướng dẫn, góp ý cho luận văn để tôi có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình Đồng thời, tôi cũng chân thành cám ơn đến gia đình và các anh chị, bạn bè
đã ủng hộ, giúp đỡ, tạo thuận lợi trong học tập, nghiên cứu những năm vừa qua
Có thể nói, tôi cũng đã bỏ ra không ít thời gian, công sức vận dụng những điều đã học của mình để thực hiện đề tài này Tuy nhiên, việc thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn là điều không thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân tình của quý thầy cô, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ 1
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Lịch sử vấn đề 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
5.1 Ý nghĩa khoa học: 9
5.2 Ý nghĩa thực tiễn: 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
7 Bố cục đề tài 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Các khái niệm liên quan 12
1.1.2 Văn hóa tâm linh, một góc nhìn 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1.Điều kiện tự nhiên - xã hội của người Việt ở miền Tây Nam bộ 20 1.2.2 Truyền thống văn hóa của người Việt Tây Nam bộ 29
CHƯƠNG 2 NGHI THỨC THỜ CÚNG CÔ HỒN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ 35
2.1 Thờ cúng cô hồn là hiện tượng phổ biến trong văn hóa người Việt nói chung và người Việt Tây Nam bộ nói riêng 35
Trang 42.2 Các loại hình cô hồn trong quan niệm của người Việt Tây Nam bộ 40
2.3 Nghi thức thờ cúng cô hồn 46
2.3.1 Phân chia theo không gian 46
2.3.2 Phân chia theo thời gian 63
2.3.3 Cúng cô hồn trong kết hợp với các nghi thức thờ cúng khác 66
2.4 Người Việt Tây Nam Bộ ứng xử với cô hồn 71
CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA TỤC THỜ CÚNG CÔ HỒN NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 77
3.1 Đặc trưng văn hóa qua tục thờ cúng cô hồn của người Việt Tây Nam bộ 77
3.1.1 Tính thống nhất và dị biệt 77
3.2 Tính nhân văn 86
3.3 Mang màu sắc Phật giáo 92
3.2 Vai trò của tục thờ cúng cô hồn trong văn hóa người Việt Tây Nam Bộ 93
3.2.1 Nhu cầu tâm linh 93
3 2.2 Gắn kết cộng đồng 97
3.2.3 Điều chỉnh hành vi đạo đức 98
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
TÀI LIỆU INTERNET 110
PHẦN PHỤ LỤC 111
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thờ cúng cô hồn là một hiện tượng tín ngưỡng dân gian phổ biến trong cộng đồng người Việt Cô hồn là hồn của những người chết cô độc, cô đơn Cô hồn khiến con người vừa sợ lại vừa thương cảm nên người ta thờ cúng cô hồn để cầu mong sự bình an cho người sống và cô hồn được siêu thoát để đầu thai sang kiếp khác Đây
là một tập tục thể hiện đậm nét tính nhân văn trong văn hóa Việt Nam, được người Việt gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tập tục này vẫn đang tồn tại rộng rãi trong cuộc sống đương đại, tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian bản địa, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tập tục thờ cúng cô hồn của người Việt ở nước ta nói chung, ở Tây Nam Bộ nói riêng Bên cạnh đó, khu vực miền Tây Nam bộ với quá trình khai phá, hình thành địa bàn định cư của người Việt vẫn còn mới mẻ so với lịch sử xuyên suốt của người Việt phía Bắc, vì thế vẫn cần có những nghiên cứu để làm rõ các tín ngưỡng dân gian được hình thành trong suốt hơn ba thế kỷ qua và vẫn phát triển mạnh mẽ trong
xã hội hiện đại vốn chứa đựng quá nhiều bất trắc
Mặt khác, chúng tôi cũng muốn thông qua sự nghiên cứu của mình về tập tục thờ cúng cô hồn để nhằm xác định đây là một hiện tượng văn hóa dân gian mà nếu nhìn với góc độ khoa học văn hóa sẽ thấy những đóng góp nhất định của nó trong việc bình ổn tinh thần của con người, củng cố niềm tin của con người vào cuộc sống trong bối cảnh hiện nay Và thờ cúng cô hồn được xem như là một nhu cầu tín ngưỡng tâm linh phổ biến trong cộng đồng người Việt ở Tây Nam Bộ
Đồng thời, chúng tôi cũng muốn thông qua công trình nghiên cứu này, góp phần mang đến cái nhìn thấu đáo, tường minh hơn về hiện tượng thờ cúng cô hồn; tránh ngộ nhận đây là một hiện tượng mê tín dị đoan mà không thấy được những giá trị mang tính lịch sử - văn hóa của nó
Trang 6Vì những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Tập tục thờ cúng cô hồn
của người việt ở miền Tây Nam Bộ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành
Văn hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tục thờ cúng cô hồn để hiểu rõ nguồn gốc và cơ chế hình thành tín ngưỡng này trong môi truờng văn hóa Việt, đặc biệt là cơ sở xã hội của hiện tượng này
Qua nghiên cứu hiện tượng thờ cúng cô hồn, có thể nhận diện được những chức năng, định vị được bản sắc, đặc trưng văn hóa của người Việt tại miền Tây Nam Bộ
Nghiên cứu hướng đến sự lý giải để mang đến một cái nhìn hệ thống và khoa học cho hiện tượng thờ cúng cô hồn, từ đó có những quan niệm và phương hướng đúng đắn trong việc quản lý văn hóa nhất là cách tổ chức và quản lý lễ hội văn hóa dân gian của người Việt đối với khu vực miền Tây Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung
3 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, thờ cúng cô hồn chỉ được nhắc đến một cách sơ lược, điểm qua trong các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng, tập tục thờ cúng của một số nhà nghiên cứu về văn hóa, chưa có sự khảo sát, nghiên cứu như một đối tượng độc lập
Đa phần là những ghi chép mang tính chất mô tả, chưa có những phân tích mang tính hệ thống chỉ ra cơ sở xã hội cũng như chức năng của tập tục này trong đời sống của người Việt miền Tây Nam Bộ Từ các thế kỷ trước, các nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu cũng có đề cập đến hiện tượng cúng cô hồn qua
các tác phẩm như: Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế tướng sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn
Văn Thành… Tuy nhiên, đây chỉ là những bài viết theo thể loại văn tế tiêu biểu
Ngoài Văn thế thập loại chúng sinh để cập đến cô hồn theo một nghĩa bao quát
nhất, còn lại là nhằm ghi nhớ, tri ân những hy sinh cao cả của các chiến sĩ vì nước quên thân và “có tác dụng đánh giặc không kém dùng gươm súng” [Trần Bạch
Trang 7Đằng 2004: 11] và đã “đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất”1được xem như là một dạng của cúng cô hồn nhưng chưa phải là những bài nghiên cứu hay phân tích sâu rộng về giá trị văn hóa của tín ngưỡng dân gian này
Trong một số sách vở, kinh kệ của Phật giáo cũng nói đến thờ cúng cô hồn
và được thực hiên qua các nghi thức lễ cầu siêu – cầu an, lễ Vu Lan, lễ xá tội vong nhân, v.v… Những ghi chép này cũng chưa đi sâu và bản chất, nội dung ghi chép đó cũng chỉ phản ánh sự tiếp nhận và giao thoa văn hóa giữa tín ngưỡng bản địa với Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam từ đó đưa đến những cải biến tôn giáo cho phù hợp với tư duy của người Việt Nam Bộ từ các thế kỷ trước
Trong công trình Tiền Giang, những di tích nổi tiếng (2001) của Lê Ái Siêm
có ghi nhận ngư dân vùng biển Vàm Láng – Gò Công Đông cũng có tục cúng thí vào ngày Lễ nghinh Ông hàng năm Ngoài Lê Ái Siêm, còn có Lý Việt Dũng với
bài viết Tục thí giàn ở miền Tây Nam Bộ 2, đây là một tục lệ trước đây rất thịnh hành trong đời sống của người Việt miền Tây Nam Bộ
Công trình Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ (2004) đã khẳng định người
Việt ở Tây Nam Bộ có “nội dung cúng thí và cầu an là nội dung tín ngưỡng phối hợp thứ hai được đan xen vào nghi lễ cúng việc lề3” [Nguyễn Hữu Hiếu 2004:70]
Và theo ông, cúng thí là hình thức cúng cô hồn
Trong Phong tục thờ cúng (2005) của tác giả Toan Ánh có ghi: “Đối với
người Việt Nam cổ, chết chưa phải là hết, thể xác tuy chết đi nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn hằng “lui tới” gia đình Thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt” [Toan Ánh 2005:11] Chúng tôi cho rằng đây chính là một trong những cơ sở để phong tục
1
http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_t%E1%BA%BF_th%E1%BA%ADp_lo%E1%B A%A1i_ch%C3%BAng_sinh
2 Theo http://www.quangduc.com/VuLan/214tucthigian.html
3
Cúng việc lề, cúng vật lề hay cúng lề là các tên gọi chung để chỉ một dạng tín ngưỡng độc đáo mang đậm sắc thái bản địa, hầu như chỉ phổ biến ở nông thôn Nam Bộ [Nguyễn Hữu Hiếu 2004:56].
Trang 8thờ cúng tổ tiên của người Việt phổ biến Họ tin rằng linh hồn người thân, tổ tiên vẫn tiếp tục tồn tại để phù hộ, giúp đỡ con cháu Và với đặc trưng linh hoạt trong ứng xử xã hội, người Việt không chỉ thờ cúng tổ tiên của dòng họ mình mà cũng thờ cúng cả vong linh của người khác đặc biệt là những người chết oan, từ đó xuất phát tập tục cúng cô hồn và hiện nay vẫn còn phổ biến rộng khắp ở Tây Nam Bộ
Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (2005) cũng có nhắc tới khái niệm
cô hồn và cúng cô hồn như là một trong những biểu hiện của tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ mà theo ông có những cái cần nên bài trừ, hạn chế vì những yếu
tố mang tính tiêu cực của nó
Trong bài viết Tâm thức của cư dân Nam Bộ qua lễ hội trai đàn cầu siêu –
cầu an (2005) của Phan Thị Yến Tuyết, cũng từng khẳng định rằng khắp nơi tại Nam
Bộ, trong nhiều thời kỳ khác nhau rất phổ biến lễ Trai đàn cầu siêu – cầu an (có khi còn kết hợp với tín ngưỡng khác) - một hình thức gián tiếp của cúng cô hồn với ước muốn cầu siêu, giải oan cho vong linh tử sĩ, đồng bào, cô hồn thập loại chúng sinh; vì người
ta tin rằng có cúng tế thì vong linh những người đã chết oan mới không đói khát, vất vưởng, lang thang mà quấy phá người sống ở dương trần
Trong công trình của Nguyễn Xuân Hương với nhan đề Tín ngưỡng cư dân
ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng (2009) cũng đề cập đến khái niệm cô hồn và một số
khái niệm có liên quan gần gũi Trong công trình này, Nguyễn Xuân Hương cũng trình bày khá chi tiết một số nghi thức cúng cô hồn của cư dân ven biển vùng Quảng Nam – Đà Nẵng với ước nguyện cầu mong sự bình an cho ngư dân trong vùng và được coi như là một trong những tục lệ không thể thiếu của ngư dân vùng này Trong các luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của những
người đi trước, Nguyễn Tuấn Anh với công trình Ca dao, tục ngữ người Việt miền
Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học (2009) có đề cập đến tục cúng cô hồn của
người Việt nơi đây như là một hình thức cầu an Nguyễn Đình Đức với Lễ cúng
chẩn tế của Phật giáo ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa (2010) đã nêu bật những
giá trị mang tính nhân văn, tính dân tộc, tính địa phương của cộng đồng người Việt
Trang 9qua nghi thức cúng chẩn tế để cứu các vong linh: Khi người đã chết được thanh thoát an nhàn, thì người còn sống cũng sẽ được vui vẻ, bình an
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa như Trịnh Hoài Đức với công trình
Gia Định thành thông chí (3 tập thượng - trung - hạ) do Tu trai Nguyễn Tạo biên
soan; Quốc sử quán triều Nguyễn với Đại Nam nhất thống chí (3 tập thượng - trung
- hạ); Huỳnh Lứa (chủ biên) công trình Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ; Trần Văn Giàu (chủ biên) Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (4 tập); Nhiều tác giả trong Nam Bộ Đất và Người,.v.v… đã trình bày những vấn đề liên quan đến môi
trường tự nhiên, lịch sử khẩn hoang, đời sống xã hội,… có liên hệ đến phong tục, lề thói, phong cách sống của cư dân Việt trên vùng đất mới
Cũng qua khảo sát thực tế cho thấy, tại miền Tây Nam Bộ có một ngôi miễu thờ cúng cô hồn có quy mô lớn nhất đó là Miếu âm nhơn (còn gọi là Miếu âm hồn) được xây dựng sau khi đào xong kinh Vĩnh Tế nhằm thờ cúng những người đã tham gia đào kinh mà bỏ mạng Miếu âm hồn này là một minh chứng cho biết tục thờ cúng cô hồn đã xuất hiện trong cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ từ rất lâu đời và vẫn còn tồn tại theo thời gian dù trải qua biết bao biến cố lịch sử - xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu là tập tục thờ cúng cô hồn của người Việt tại miền
Tây Nam Bộ về phương diện đối tượng thờ cúng, nghi lễ cúng, lễ vật cúng
4.2 Phạm vi nghiên cứu bao gồm tất cả các hình thức thờ cúng cô hồn hiện
đang tồn tại, phổ biến trong sinh hoạt của cư dân và một vài tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt có nghi thức thờ cúng cô hồn trên phạm vi Tây Nam Bộ
Về mặt thời gian, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm tìm hiểu tập thục thờ cúng cô hồn của người Việt ở miền Tây Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVII đến nay vì đó cũng là khoảng thời gian tiêu biểu diễn ra quá trình khai phá và hình thành vùng đất Nam
Bộ trong đó có miền Tây Nam Bộ
Trang 105 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học:
Hiện tượng thờ cúng cô hồn là một tín ngưỡng tổn tại lâu đời trong dân gian,
có thể xem đây là một hiện tượng văn hóa tâm linh có cơ sở xã hội Hiện tượng này
có chức năng xã hội và có những ảnh hưởng nhất định trong đời sống cộng đồng và
cá nhân của người Việt miền Tây Nam Bộ Do vậy, nghiên cứu sâu tập tục thờ cúng
cô hồn nhằm hiểu rõ bản chất và góp phần nhận thức về văn hóa tâm linh của người Việt ở Tây Nam Bộ nói riêng và người Việt ở Nam Bộ nói chung bởi đây là một tục
lệ thể hiện giá trị văn hóa và tính nhân văn của người Việt Tây Nam Bộ đối với người đã khuất
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Qua nghiên cứu tục thờ cúng cô hồn của người Việt miền Tây Nam Bộ, có thể hiểu thêm về đặc điểm văn hóa tín ngưỡng của người Việt tại vùng này Từ đó, góp phần nhìn nhận đời sống văn hóa tinh thần một cách tích cực, nâng cao nhận thức, quan niệm của con người về thế giới siêu nhiên, phân biệt với mê tín dị đoan thiếu cơ sở văn hóa và lịch sử, đồng thời phát huy và đề cao giá trị nhân văn của người Việt nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Chúng tôi đã áp dụng cách tiếp cận của lý thuyết chức năng để nghiên cứu đối tượng và nhằm hướng đến mục đích trên, chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp hệ thống - cấu trúc để phân loại Đặc biệt, định hướng tiếp cận liên ngành cũng được chúng tôi chú trọng trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu
đề tài này
Cụ thể, phương pháp lịch sử cho thấy rõ sự thống nhất trong đa dạng của hiện tượng văn hóa qua quá trình vận động của chủ thể văn hóa; phương pháp dân
Trang 11tộc học (nhân học văn hóa) để quan sát, khảo sát tìm ra những đặc điểm và vai trò của tục thờ cúng cô hồn của người Việt ở Tây Nam Bộ
Trên cơ sở tham khảo những tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan, luận văn còn là sự kế thừa nguồn tư liệu của những tác giả đi trước, các tài liệu lý luận thành văn và những công trình biên soạn, ghi chép liên quan đến văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán của người Việt nói chung, người Việt Tây Nam Bộ nói riêng Đặc biệt, trong công trình này, chúng tôi sử dụng những tư liệu, hình ảnh thu thập được qua các chuyến đi khảo sát điền dã về thực tế tín ngưỡng cúng cô hồn của người Việt ở Tây Nam Bộ
7 Bố cục đề tài
Bố cục của luận văn tương ứng với các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu được chọn Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn: Chương này tìm hiểu một số
khái niệm liên quan đến cô hồn và thờ cúng cô hồn; giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên– lịch sử – xã hội của người Việt ở miền Tây Nam Bộ Nội dung của chương một khẳng định góc độ tiếp cận của đề tài xuất phát từ văn hóa tâm linh và nội dung của chương được xem là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để triển khai các chương còn lại
Chương 2 Đặc điểm và nghi thức thờ cúng cô hồn của người Việt ở miền Tây Nam Bộ: Chương hai trình bày quan niệm và ứng xử của người Việt ở miền
Tây Nam Bộ với các loại cô hồn Từ đó, những nghi thức, quy mô thờ cúng cô hồn hình thành và phổ biến rộng khắp trong dân gian và có sự kết hợp với các nghi thức thờ cúng khác
- Chương 3 Đặc điểm văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ qua tục thờ cúng cô hồn Nội dung chương ba trình bày những đặc điểm văn hóa mang sắc
thái vùng miền nổi trội của người Việt ở Tây Nam Bộ qua tập tục thờ cúng cô hồn – một loại hình tín ngưỡng dân gian mang đậm tính nhân văn Những đóng góp nhất
Trang 12định của tập tục này trong việc bình ổn tâm hồn, thỏa mãn một phần nhu cầu tâm linh của người Việt suốt nhiều thế kỷ qua trên vùng đất mới
Trang 13
4
Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%BAng_c%C3%B4_h%E1%BB%93n
Trang 14
Trong đạo Phật cũng quan niệm con người được tổng hòa từ năm yếu tố được
gọi là ngũ uẩn gồm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức Trong đó sắc là yếu tố hữu hình tạo nên phần xác Còn lại thọ, tưởng, hành và thức chính là vô hình tương ứng với
các yếu tố cảm giác, tri giác, lý trí và nhận thức Và nếu gộp bốn yếu tố vô hình này
lại thì đó chính là linh hồn Với Đạo giáo thì cho rằng con người ngoài phần xác còn
có ba hồn bảy phách (vía), đàn bà thì chín phách Khi chết thì xác và phách không
còn nữa chỉ còn có hồn Tuy sự lý giải giữa hai hệ thống này có chút khác nhau về
“xác và “hồn” nhưng đều tương đồng ở quan niệm: khi người chết sẽ có sự tách lìa giữa phần hồn và phần xác
Quan niệm trên biểu hiện qua phong tục gọi hồn mà người Việt thường thực hiện là: “khi một người vừa mất thi người nhà sẽ lấy áo của người mất vừa thay ra leo lên mái nhà mà phất để gọi ba hồn bảy vía (hoặc chín vía) với hy vọng phần hồn
sẽ nhập trở lại xác để người chết được sống lại Sau khi tiến hành gọi hồn ba lần mà người chết vẫn không sống lại thì người ta mới tiến hành các bước tiếp theo của phong tục tang lễ Đây được xem là cách để xác định người chết đã chết thật sự” [Nguyễn Văn Huyên 1996:715]
Ở đây cả quan niệm dân gian và trong đạo Phật, đạo Lão đều cho rằng khi một người chết đi thì phần xác sẽ tan biến theo thời gian, trở về cát bụi còn phần hồn sẽ tiếp tục tồn tại để rồi sau đó đầu thai sang kiếp khác hay còn gọi là siêu thoát Vậy “cô hồn” là gì?
Nếu theo ý nghĩa chiết tự thì cô hồn được hiểu là linh hồn cô đơn Tuy nhiên với ý nghĩa cô đọng ấy chưa thể đưa đến việc giải thích cúng cô hồn là gì một cách thấu đáo
Trong Từ điển Tiếng Việt có ghi: cô hồn là “hồn người chết không có họ hàng thân thích thờ cúng” [Hoàng Phê 2005: 202] Định nghĩa này vẫn chưa thật sự bao quát, chỉ nêu được một khía cạnh trong quan niệm cô hồn
Từ quan niệm về linh hồn, người xưa tin rằng đối với những cái chết bất thường nằm ngoài qui luật “sinh, lão, bệnh, tử” như trường hợp chết bất đắc kỳ tử, chết oan, chết thảm, chết mất xác, chết vì tai nạn, chết trôi… hay những người chết
Trang 15mà không có người thân thờ cúng… thì linh hồn của những người bất hạnh ấy sẽ không được siêu thoát, đầu thai mà cứ vất vưởng, lang thang khắp nơi Đó là những linh hồn không nơi nương tựa, cô đơn, lạnh lẽo… Những linh hồn ấy chính là cô hồn Một dạng chết đặc biệt cũng được liệt vào cô hồn là những sĩ tử chết trận hay đồng bào chết vì thiên tai, dịch bệnh hàng loạt vào một thời điểm nào đó tại một vùng/một nơi xác định nào đó Dù có những trường hợp được người thân thờ cúng thì vẫn bị xem là cái chết nằm ngoài qui luật tự nhiên Đây cũng là cô hồn
Cần phân biệt khái niệm cô hồn nói trên với một cách gọi “cô hồn” ở Bắc Bộ
để chỉ những người hành nghề gọi hồn, đó là một danh từ chỉ nghề nghiệp so với
khái niệm cô hồn, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là một danh từ dùng để chỉ một thành phần của xã hội khuất mặt, khuất mày5 Một nhà nghiên cứu xác nhận
về từ "cô hồn" ở Bắc bộ: “cô hồn là người lấy nghề gọi hồn cho người ta mà kiếm ăn” [Phan Kế Bính 2005:387] Trong cộng đồng người Việt ở Bắc Bộ có tục khi trong nhà bất hạnh có người chết, người nhà tin tưởng mời người hành nghề gọi hồn
mà thường gọi là “cô hồn” đến để gọi hồn người chết Làm như thế để thể hiện mình đã hết lòng với người đã khuất Người ta mời "cô hồn" này về để lên đồng, từ
đó người thân đã chết sẽ nhập vào cô hồn này mà nói chuyện với người trong gia đình Phan Kế Bính đã từng mô tả những người hành nghề đặc biệt này trong một công trình của mình: “Cô hồn nào nói hay, mỗi đám cũng kiếm được một vài đồng bạc; mà tiếng hay đồn đi, hết nhà này đón rước lại đến nhà khác, kiếm tiền cũng tốt lắm” [Phan Kế Bính 2005:388] Như vậy, từ cô hồn ở đây được hiểu là một nghề kiếm sống, khác với ý nghĩa cô hồn là đối tượng của luận văn này
Nguyễn Xuân Hương cũng có đề cập đến khái niệm cô hồn Đối với ngư dân
ở Quảng Nam - Đà Nẵng, người ta gọi cô hồn là “âm linh, cô bác” Những đối tượng này bao gồm:
5 Khuất mặt, khuất mày: từ phương ngữ dùng để chỉ người đã chết
Trang 16- Vong linh của mười loại người chết vì những nguyên do khác nhau được đề cập trong bản “Văn tế cô hồn” của các làng biển Đó là những nạn nhân bị dịch bệnh, chiến tranh, bão lũ…
- Vong linh của dân sở tại, cũng là những vong hồn từ những cái chết “bất đắc kỳ tử” của những người có danh tính, nguồn gốc ở làng nhưng do bị chết ở nơi khác và bị thất lạc mồ mả…
- Vong linh của những ngư dân chết trên biển trong quá trình mưu sinh…
- Chiến sĩ trận vong, là các sĩ tử trong những cuộc chiến tranh, không phân biệt bên ta hay địch…
- Và một đối tượng khác được gọi là “Khách”, chỉ vong hồn của những người dân bản địa (người Chăm) trước khi người Việt đến định cư ở đây [Nguyễn Xuân Hương 2009: 129]
Còn quan niệm Phật giáo thì có từ chúng sinh Đây là cách gọi cô hồn của
nhà Phật: cúng chúng sinh, am chúng sinh…
Dân gian còn có từ âm binh dùng để chỉ người chết Đặc biệt, người Việt Tây
Nam Bộ còn dùng cụm từ “cô hồn các đảng” để ám chỉ, mắng chửi một nhóm người sống (có khi là những đứa trẻ con quậy phá, nghịch ngợm thái quá) đã có hành vi phá phách làng xóm, làm phiền lòng dân chúng trong khu vực/trong vùng tụ cư
Từ những ý về cô hồn đã nêu trên, trong luận văn này chúng tôi định nghĩa khái niệm cô hồn như sau:
“Cô hồn là linh hồn cô độc của kẻ xấu số không được siêu thoát đang lang thang, vất vưởng, không nơi nương tựa”
Thờ cúng cô hồn
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào cho tục lệ thờ cúng cô hồn bởi liên quan đến tập tục này chưa có nhiều công trình nghiên cứu hiện tượng này như một đối tượng độc lập
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2006 thì:
Trang 17- Thờ: là bày tỏ lòng tôn kính đối với thần thánh, những vật linh thiêng
- Cúng: là hành động dâng lễ vật lên những đối tượng tôn kính, linh thiêng Vậy, nếu theo cách hiểu trên thì thờ cúng cô hồn là hình thức dâng lễ vật để bày tỏ lòng tôn kính (kinh sợ thì đúng hơn - VMT) đối với những linh hồn cô độc của kẻ xấu số không được siêu thoát, lang thang, vất vưởng, đói khát…
Trong dân gian còn có một cách hiểu khác, “cúng cô hồn có thể là một hành
vi mang tính nhân đạo, để “cứu giúp” những linh hồn khốn khổ Nhưng đồng thời, cúng cô hồn cũng có thể là một hình thức “hối lộ” để khỏi bị các oan hồn quấy phá, hoặc để được họ “hỗ trợ”6
Sự khái quát ấy ấy vẫn chưa thể hiện đầy đủ tính chất của tập tục này bởi vì trong thực tế, thái độ của dân gian đối với cô hồn trong việc thờ cúng không phải chỉ
có lòng tôn kính Nếu đúng theo tính chất “thờ” như trong thờ tổ tiên thì nơi thờ tự phải là chỗ trang trọng nhất trong nhà hay trong đình chùa… Nhưng thực tế miễu cô hồn thì nằm ở những chỗ không mang tính chất như vậy
Người ta thường làm miễu cô hồn ở ngã ba ngã tư đường, ngã ba ngã tư sông hay dọc theo bờ sông, dọc theo đường lộ hoặc bất cứ nơi nào nơi người bị tai nạn, hay
bị những lý do khác mà chết… Nhưng tất cả các miễu thờ này đều nằm ngoài ngôi nhà, điện thờ của chùa… Người ta thường xây dựng ngay tại các vị trí kể trên vì các
lý do Thứ nhất, thực tế trong sinh hoạt thường ngày thì tại ngã ba, ngã tư đường bộ
hoặc đường sông, nơi tiếp giáp các các con đường, sông rạch thường là nơi tụ họp đông người qua lại Người sống ai cũng có thể đến thì khi chết cũng thế Vậy thì lập miễu ở đây để cô hồn nào cũng có thể tìm đến hưởng thực và có ngôi nhà chung trú
ngụ không phải lang thang, vất vưởng phá quấy người sống Thứ hai, cũng chính tại
các ngã ba ngã tư đường bộ, đường sông do tụ tập đông người nên hay xảy ra tai nạn thương tâm và theo quan niệm của người Việt Tây Nam Bộ, cần phải lập miễu thờ cô hồn tại những nơi này để người chết yên thân không rủ rê, dẫn dắt người sống chết
thay mình hoặc cùng chết với mình cho có bạn Thứ ba, tại các ngã ba, ngã tư đường
6
Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%BAng_c%C3%B4_h%E1%BB%93n
Trang 18bộ, đường sông cũng là nơi người sống khi đến đó thường phải dừng lại và phân vân không biết chọn hướng nào, vậy thì người chết cũng có những phân vân như thế và tránh trường hợp do phân vân mà tạt ghé vào một ngôi nhà bất kỳ gần đó để hỏi han thì lập miễu thờ cô hồn để cô hồn vào đó nghỉ ngơi và tìm lối đi tiếp mà không ghé vào nhà của người sống, bởi người Việt rất sợ cô hồn vào nhà mình vì cô hồn luôn mang điềm gỡ đến cho họ
Qua sự quan sát của chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn, ở tập tục cúng cô hồn thì thái độ tôn kính không phải là yếu tố chủ đạo, mà nổi bật hơn cả
chính thái độ cảm thông, sẻ chia Bởi người xưa quan niệm “Sự tử như sự sinh, sự
vong như sự tồn” Linh hồn cũng có những tâm tư, tình cảm và nhu cầu vật chất như
người sống; do đó trong việc ứng xử với người chết không khác gì với người sống Bởi cô hồn là những linh hồn lạc loài, lang thang nên cũng chịu cảnh đói khát, lạnh lẽo nên người ta cúng để chia sẻ với những bất hạnh đó cùng với sự cầu mong cho
họ được mau siêu thoát
Nói về ý nghĩa của việc chia sẻ này, Phan Kế Bính viết: “Tục ta tin quỷ thần cho nên sự gì cũng cho người chết có linh hồn, có tri giác như người sống Mà ở dưới âm phủ, cũng có kẻ khổ người sướng như trên dương gian Người có con cái giữ hương hỏa thì hồn phách có chỗ bằng y, người bất hạnh tuyệt tự thì không có ai
cúng cấp chắc là phải phiền não ở dưới âm phủ” [Phan Kế Bính 2005: 151]
Thái độ kính trọng đối với cô hồn là có tuy nhiên cũng chỉ là một khía cạnh trong tổng thể quan niệm về cô hồn: “bên cạnh thái độ chia sẻ, cảm thông còn thì người ta biết ơn, kính trọng khi cô hồn giúp đỡ người sống thoát khỏi những hiểm họa, trận lụt lớn hay báo mộng để biết trước những tai nạn… Hoặc là thái độ ghê sợ khi cô hồn hung dữ, trở thành ma cướp phá, phá phách bắt người, hại người” [Nguyễn Văn Huyên 1996: 716] Nói chung, với tất cả các cung bậc của cảm xúc, người ta đều dành cho cô hồn những kiểu cách ứng xử khác nhau thậm chí đến đối lập hoàn toàn: người sống vừa sợ mà không dám nhắc tới hai chữ cô hồn và gần như
là tránh né, vừa thương cảm muốn chia sẻ, lại vừa kính mà muốn được chở che, được ban phước
Trang 19Như vậy, theo người viết, yếu tố “thờ” trong thuật ngữ “thờ cúng cô hồn” chưa xác đáng, có chăng chỉ là đề cập đến những địa điểm, vị trí để người ta dâng lễ vật đến cô hồn ở miễu, ở am cô hồn mà thôi Hoặc trường hợp đặc biệt là đối với các đài liệt sĩ, cũng là đối tượng cô hồn nhưng người ta có bàn thờ để tỏ lòng tôn kính, biết ơn vì đây là đối tượng cô hồn đặc biệt có công trạng đối với cộng đồng, đất nước
Mặt khác, qua khảo sát hiện tượng cúng cô hồn, người viết nhận thấy những tập tục cúng chẩn tế, cúng mông sơn thí thực, cúng âm linh, cô bác… đều có tên gọi không đi kèm với yếu tố thờ
Trong Tâm linh Việt Nam, tác giả Nguyễn Duy Hinh cũng từng nhận định:
“Người ta có thái độ với những yếu tố thiên theo hướng: Kính, Sợ, Kính mà sợ, Sợ
mà kính Từ đó đưa ra những cách ứng xử như thờ và không thờ, thờ và cúng hay không thờ mà cúng Đối tượng cô hồn thuộc cách ứng xử không thờ mà cúng” [Nguyễn Duy Hinh 2008:52]
Do đó, có thể thấy rằng trong dân gian cô hồn là đối tượng chỉ có cúng mà
không thờ Và thuật ngữ “thờ cúng cô hồn” theo chúng tôi chỉ là cách nói quen
thuận miệng, thay vì là “cúng cô hồn”
Như vậy, thuật ngữ “thờ cúng cô hồn” trong luận văn này được hiểu gọn
hơn là “Cúng cô hồn” Từ đó, có thể định nghĩa như sau: “Cúng cô hồn là tập tục
liên quan đến các nghi thức dâng lễ vật cúng tế hướng đến các linh hồn cô độc, lang thang không nơi nương tựa nhằm cầu mong cho những vong linh đó được siêu thoát và không quấy phá con người”
Cúng cô hồn là một tập tục mang đậm màu sắc của một tín ngưỡng trong dân
gian, tín ngưỡng sùng bái con người trong văn hoá truyền thống của người Việt; thể
hiện mối quan hệ, ứng xử cũng như những tình cảm của người sống dành cho người xấu số
Trang 201.1.2 Văn hóa tâm linh, một góc nhìn
Trong luận văn này, những nghiên cứu của chúng tôi hướng đến góc độ văn hóa tâm linh Thiết nghĩ qua góc độ này, những vai trò và đặc điểm của của tập tục thờ cúng cô hồn của người Việt Tây Nam bộ sẽ bộc một cách hệ thống và hợp lý
Trong định nghĩa về văn hóa của UNESCO có đoạn: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền của con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng” [Dẫn theo Nguyễn Hữu Hiếu 2004:8]
Thực tế cho thấy, văn hóa tâm linh vẫn tồn tại một cách mạnh mẽ len lỏi và bám chặt trong mọi mặt đời sống con người Trong bối cảnh hiện nay, con người đang đối diện với nhiều nguy cơ, bất trắc có thể tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sống còn của bản thân một cách chủ quan lẫn khách quan Điều này càng thúc đẩy con người cần phải tìm cho mình một niềm tin vào thế lực nào đó để được chở che, dĩ nhiên phải là thế lực vô hình, vì chỉ thế lực này mới có uy lực vô biên để có thể cứu rỗi con người cả về linh hồn lẫn thể xác Vì thế, đời sống tâm linh của con người trong xã hội hiện sinh càng trông chờ vào huyền năng của thế giới vô hình, mong chờ vào sự che chở, bảo bọc của thế giới bên kia
Xác nhận sự hiện diện của đời sống tâm linh trong xã hội loài người được Malreaux ghi nhận: “Thế kỷ XXI là thế kỷ của tâm linh hoặc sẽ chẳng là gì cả” [Dẫn theo Ngô Đức Thịnh 2010: 618] Sự thừa nhận này được đặt ra trong bối cảnh
con người vẫn còn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Linh hồn có thực hay không? Có
thế giới bên kia không?
Một nhà nghiên cứu văn hóa đã viết: “Tâm linh là linh cảm về hiện tượng vô hình ảnh hưởng đến đời sống con người cảm nhận được qua sống trải nghiệm lâu dài của một cộng đồng người… Linh cảm về Sống và Chết, thể xác còn đó, mất một cái gì đó nên chết, gọi cái mất đi là Hồn Vạn vật đều sinh hoa kết quả sống chết nên cũng có hồn… Như vậy linh cảm là nhận thức, là trí tuệ Một số linh cảm thành kinh nghiệm, tục lệ trong cuộc sống Một số linh cảm thành tín ngưỡng hoặc thờ
Trang 21cúng như hồn tổ tiên, một số không được thờ mà vẫn cúng như cô hồn… Đó là tinh
thần nhân bản cao cả vị nhân sinh” [Nguyễn Duy Hinh 2008:47] Điều này một lần
nữa khẳng định rằng chính tôn giáo, tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng, nhất định trong đời sống tâm linh của con người
Với người Việt ở Tây Nam Bộ cũng thế, ngoài tôn giáo, họ còn niềm tin vào thần thánh, ma quỷ mà cô hồn là cũng nằm trong những thế lực siêu nhiên ấy Chính vì tin tưởng, tín ngưỡng mà họ thờ cúng để cầu mong an lành cho mình, cho gia đình và cho cả người đã chết sớm siêu thoát về cõi vĩnh hằng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của người Việt ở miền Tây Nam bộ
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên tại Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng khá
đa dạng, được cho là vừa hào phóng nhưng cũng không kém khắc nghiệt đối với những người Việt đầu tiên đến đây khai phá bởi “sự hoang vu đến kinh người cũng như quá nhiều thú dữ Cuộc sống của họ một lần nữa lại mong manh không tự kiểm được Khi còn ở vùng ngoài thì quyền sinh – sát nằm trong tay của giới quan quyền thống trị, khi vào đây thì lại bị kiểm soát vô hình của muôn trùng thú dữ” [Phan Đình Đức 2010:26]
Yếu tố khắc nghiệt, khó khăn của điều kiện tự nhiên được chúng tôi lưu ý bởi vùng đất này xưa kia được ghi chép là “vùng rừng bụi hoang vắng, đầy ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí, luôn dọa dẫm kẻ phương xa đặt bước đến đây càng làm cho lưu dân luôn cảm thấy có áp lực vô hình” [Nguyễn Hữu Hiếu 2004:13] Thêm vào đó, đồng rộng mênh mông, sông to nước chảy lững lờ ẩn chứa nhiều rủi ro, hiểm họa với những lưu dân đặt chân đến đây Cũng vì những hiểm họa rủi ro đó mà không ít người phải bỏ mình trong buổi đầu khai phá khiến cho người dân lưu tâm nhiều hơn về những cái chết bất ngờ, những chuyện mất mạng thảm khốc… và đâm ra tin vào thế lực siêu nhiên vô hình đa dạng hơn và xuất hiện
Trang 22nhiều hình thức tín ngưỡng hơn Họ thấy rằng “cần phải cầu cúng để gởi gắm niềm tin” [Nguyễn Hữu Hiếu 2004:13]
Phải chăng đây là cơ sở, là yếu tố quan trọng, góp phần để những lưu dân người Việt vẫn lưu giữ và phổ biến tập tục cúng cô hồn cho đến tận hôm nay trong khi có khá nhiều tập tục khác đã bị quên lãng, “rơi rớt” trong suốt quá trình Nam tiến Đặc biệt là ngày càng nhiều tập tục của văn hóa Việt đã mai một hoặc biến mất trong sự ồ ạt của đô thị hóa, toàn cầu hóa trong đời sống người Việt ở Nam Bộ Theo các nhà nghiên cứu đi trước, “vùng đất hiện nay được gọi là Nam Bộ bấy giờ chỉ là một vùng hoang dại, đất đai trũng úng, sình lầy, sông rạch chằng chịt,
từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [Phan Khoang 2001: 354] Các yếu tố sông rạch, khí hậu, biển, đất liền tác động lẫn nhau đã mang lại cho miền Tây Nam Bộ một điều kiện thiên nhiên hết sức đa dạng, khác nhau theo từng tiểu vùng và mang nhiều yếu tố tương phản: tương phản giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, đất phù sa ngọt và đất phèn, đất mặn
Hình 1: Sơ đồ định vị các tỉnh Tây Nam Bộ từ nguồn Internet
Trang 23Miền Tây Nam Bộ còn gọi là Tây Nam Bộ hoặc Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long hay Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích khoảng 40.000 km2 Phía Đông giáp đồng bằng sông Đồng Nai thuộc Đông Nam Bộ; phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông Nam và Nam giáp biển Đông Hiện nay Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh thành sau: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền
Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long (xem Hình 1)
Khu vực Tây Nam Bộ có ba mặt Đông, Nam, Tây Nam giáp biển với chiều dài bờ biển khoảng 600km đã mang đến cho vùng đất này tính chất bán đảo Dưới chế độ thủy triều phức tạp tác động đã hình thành những vùng “giáp nước” ngập úng quanh năm thích hợp cho các loại cây chịu ngập mặn như: mắm, tràm, đước, dừa nước phát triển Bởi thế có câu:
Mắm trước, đước sau, tràm theo sát, Sau hàng dừa nước mái nhà ai
Ngoài ra, vùng đất này có hệ thống sông ngòi vô cùng chằng chịt, tổng chiều
dài sông ngòi tự nhiên khoảng 2500 km, bên cạnh đó trong quá trình khai hoang, lập nghiệp, người dân còn tự đào thêm khoảng 2500 km sông rạch Mặt khác, ở đây
do chịu sự ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc nên hình thành một mùa lũ và một mùa khô rõ rệt và mực thủy triều lên xuồng có thể chênh lệch đến 4m Vào mùa lũ (từ tháng 6 đến 9) diện tích ngập lũ có thể trên một triệu hecta, trong khi vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 4) toàn bộ đồng bằng rơi vào trạng thái khô cạn Do vậy, trong quá khứ nơi này sản xuất nông nghiệp tùy thuộc vào thủy triều là chủ yếu Và hệ thống giao thông đường thủy của vùng đất này rất phát triển và cư dân miền Tây Nam Bộ từ trong quá khứ đến nay sử dụng xuồng ghe vô
cùng thông thạo (xem Hình 2 và 3) Trịnh Hoài Đức đã từng ghi nhận: “Đất Gia
Định nhiều sông, kênh, cù lao và bãi cát, trong 10 người đã có 9 người quen việc chèo thuyền, biết nghề bơi lội” [Trịnh Hoài Đức (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch) tập Hạ 1972:14]
Trang 24Hình 2 và 3: Xuồng ghe là phương tiện di chuyển phổ biến trên sông rạch Ảnh: Nguồn VMT chụp ngày 5/8/2006 trên sông Cái Côn, tỉnh Hậu Giang
Từ sau khi vương quốc Phù Nam sụp đổ, nơi đây thuộc Thủy Chân Lạp dân
cư chủ yếu là người Kh’mer Tuy nhiên số lượng rất ít nên về cơ bản nơi đây vẫn là một vùng đất hoang vu, rừng thiêng nước độc Trong Chân Lạp Phong thổ ký của Châu Đạt Quan, một sứ thần nhà Nguyên (Trung Quốc) nhân một chuyến đi sang
kinh đô Angkor vào năm 1296 có ghi chép: “Bắt đầu vào Chân Bồ (ngày nay là
Vũng Tàu 7) gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng
tụ họp từng bầy Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [Châu Đạt Quan (bản dịch của Lê Hương) 1970:8]
Trong Phủ Biên Tạp Lục viết vào nửa cuối thế kỷ XVIII, có đoạn ghi: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu vào, toàn là rừng rặm hàng ngàn dặm” [Lê Quí Đôn (Viện Sử học dịch) 1977: Quyển 4: 23] Và theo những ghi chép của chính phủ thuộc địa Sài Gòn vào năm
7 Theo Lê văn Hương
Trang 251879 đã được nhắc lại trong bút ký của nhà nghiên cứu Sơn Nam, mô tả hành trình truy nã quân “phiến loạn” ở vùng Rạch Giá như sau: “Phải chống xuồng trên cỏ, xuồng lướt tới như kiểu đi trên bàn trượt tuyết Rạch Cái Cau (ngọn sông Cái Lớn)
là nơi hội tụ của trâu rừng, thỉnh thoảng đoàn người đi thám sát phải cõng nhau trên lưng để nhận phương hướng cho rõ Sậy, đế cao hai mét Vừa chạng vạng thì muỗi
bu lại ào ào, đêm ngủ trên sàn, đốt lửa bốn phía Bắt vài con rùa mà nướng để làm thức ăn Chống xuồng liên tiếp bốn tiếng đồng hồ mới qua khỏi cánh đồng lúa ma Gặp vài miệng đìa, vài con đường mòn của người dùng cộ kéo cá Dây choại mọc
um tùm, gặp đàn voi trên mười con, phải bắn vài tiếng súng để xua đuổi”
Khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII là thời điểm mà người Việt bắt đầu đặt chân đến mảnh đất Nam bộ để bắt đầu quá trình khẩn hoang và Nam tiến Với những điều kiện địa lý nắng mưa tương phản như đã nêu trên, phần lớn đất đai là rừng hoang cỏ rậm, trũng thấp sình lầy nên người dân buổi đầu khai hoang ngoài chuyện đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt còn phải đối đầu với các loại thú dữ, cọp beo, cá sấu, rắn rết, muỗi mòng…Những cảm giác sợ hãi trước cảnh rừng thiên
nước độc vẫn còn lưu lại trong những câu: “Tháp Mười nước mặn, đồng chua/Nửa
mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng”; “Đường đi Rạch Giá, thị quá sơn trường/Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp đua” và “Đến đây xứ sở lạ lùng/Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh” Vùng đất nổi tiếng đầy côn trùng “Muỗi kêu như sáo thổi/Đỉa lội như bánh canh” hay là “Cỏ mọc thành tinh/Rắn đồng biết gáy” hoặc “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma” Những
hiểm họa của vùng đất này còn thể hiện trong câu hát: “Dấn mình vô chốn chông
gai, kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân Lao xao sóng bủa dưới lùm, thò tay vớt bạn chết chùm cũng ưng”
“Rõ ràng môi trường tự nhiên, hệ sinh thái của vùng Tây Nam Bộ có những nét tiêu biểu đặc trưng, trong môi trường đó cư dân Tây Nam Bộ đã đã thích ứng và tác động để tạo dựng nên môi trường sống cho mình, tạo nên những tập quán canh
Trang 26tác, sản xuất đặc thù cũng như các phong tục phù hợp cho cộng đồng” [Đinh Thị Dung 2010].8
Điều kiện xã hội
Từ giữa thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng bắt đầu hình thành lớp dân cư mới sau một thời gian dài là vùng đất hoang hóa thưa thớt người Kh’mer sinh sống Lưu dân đến đây hầu hết là những người Việt ở phía Bắc Họ là nông dân, thợ thủ công nghèo, những người bần cùng dưới
sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến cũng như những cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn triền miên Họ đành khăn gói ra đi và dừng chân nơi đây đã tạo lập cuộc
sống mới ở vùng đất hoang vu (xem Hình 4)
Ngoài lưu dân người Việt, vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ XVII, xuất hiện ở miền Tây Nam Bộ còn có người Hoa đến từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến của Trung Quốc Phần lớn là quan quân, con cháu nhà Minh không phục tùng nhà Thanh và theo chủ nghĩa “bài Thah phục Minh” nên chạy sang Việt Nam
tị nạn Theo sử sách ghi lại thì họ đến Việt Nam chia làm 2 nhóm Nhóm đến Biên Hòa, Mỹ Tho khoảng 3.000 người (do hai tướng Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên dẫn đầu), nhóm đến Hà Tiên khoảng 200 người (do Mạc Cửu dẫn đầu) Đến giữa thế kỷ XVIII có thêm một số người Chăm chuyển về định cư ở vùng Núi Bà Đen Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn
Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh Về sau, người Chăm ở Châu Đốc (An Giang) tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương (xem Hình 4, 5 và 6)
Trang 27Người Việt, Hoa, Chăm, Kh’mer là bốn dân tộc chính cùng định cư ở Tây Nam Bộ lúc bấy giờ, ngoài ra còn có một số ít người Pháp, Anh, Ma Cao, Giava,
Ấn Độ… Sách Gia Định thành thông chí có ghi lại như sau: “Gia Định là đất phương Nam của đất Việt Khi mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người kiều ngụ nhưng người Đường (Trung Quốc), người Cao Miên, người Tây Phương, người Phú Lang Sa (Pháp), người Hồng Mao (Anh), Mã Cao (người Tây ở Ma Cao đến), người
Đồ Bà (Gia va) ở lẫn lộn, nhưng về y phục, khí cụ thì người nước nào theo tục ấy” [Trịnh Hoài Đức (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch) 1972: Quyển IV tờ 2b,3a]
Kể từ khi cuộc Nam Bắc phân tranh giữa Trịnh – Nguyễn chấm dứt vào năm
1678, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý miền Nam, thiết lập
cơ sở hành chánh tại đây thì công cuộc Nam tiến trở nên mạnh mẽ, làng xã phát triển ngày một nhiều hơn Sự kiện “Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh Nguyễn Phúc Chu thiết lập hành chánh tại miền Nam với hai huyện đầu tiên là huyện Phước Long và huyện Tân Bình Nhân việc này ông mộ thêm nhiều lưu dân từ Quảng Bình trở vào, mang vào định cư tại hai huyện Sau đó, có lần Nguyễn Hữu Cảnh đưa quân đánh Cao Miên tới tận Nam Vang Dù thắng trận nhưng trên đường trở về đã phải bệnh
và mất Số quân sĩ là người Việt từ miền Trung đã tan rã, chia nhau sinh sống tại An Giang và Hà Tiên.[Sơn Nam 2007: 34] đã góp phần bổ sung thêm một lực lượng lưu dân miền Trung đáng kể để sau này trở thành cư dân Tây Nam Bộ
Trang 28Hình 4,5 và 6: Các thiếu nữ người Việt, Chăm, Kh’mer ở Tây Nam Bộ Ảnh: Nguồn từ Internet và của VMT chụp ngày 25/11/2009 tại An Giang
Mang theo hành trang là văn hóa Bắc Bộ lâu đời, người Việt ở Tây Nam Bộ trong buổi đầu cũng tụ họp thành làng xã cùng nhau sinh sống Tuy nhiên, vốn là những người tha phương tứ xứ cùng tụ về nên những ràng buộc mang tính huyết thống, dòng tộc cũng không còn đậm nét Điều này lý giải vì sao làng xã ở Tây Nam
Bộ không khép kín như ở đồng bằng sông Hồng Nó mang tính chất mở hơn và phần lớn nằm gần sông rạch, trục đường chính, những nơi thuận tiện giao thông Nhà nghiên cứu Phan An ghi nhận: “Là những người đi tiên phong trong công cuộc khai mở vùng đất Nam Bộ, người Việt ở đây là những người dũng cảm dám chấp nhận, đối diện với những khó khăn và thách đố Sức mạnh của cộng đồng
là hết sức quan trọng Tổ chức làng xóm vốn từ phía Bắc đã được người Việt tái cấu trúc, như một tập hợp của cộng đồng, có chăng đây là cộng đồng của những người cùng đi khai mở, là những người “trọng nghĩa”
Phần lớn lưu dân người Việt đều có nguồn gốc từ miền Trung, vùng Ngũ Quảng, Thuận Quảng Cuộc giao tranh Trịnh (Đàng ngoài) – Nguyễn (Đàng trong) gây nên cảnh đói khổ lầm than khắp nơi, đặc biệt là vùng Thuận Quảng, được xem
là vùng địa đầu của Đàng trong, nơi gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn Trong một công trình nghiên cứu của mình, Sơn Nam đã viết: “Họ là những người ở Bình Định, Quảng Nam Họ chán chê những thửa ruộng kém màu mỡ nhỏ hẹp, giới hạn bởi dãy Trường Sơn khô cằn và biển Đông đầy giông bão Người Việt Nam ta thích đi xa Vùng đồng bằng Đồng Nai và Cửu Long đang chờ đón Từ thời Hiền Vương cách đây 300 năm, người Việt Nam trong thời Nam Bắc phân tranh đã sẵn sàng đi xa hơn ranh giới của quê cha Họ đi theo đường biển, dùng ghe đánh lưới, đến tận mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc” [Sơn Nam 2007:28]
Trong đời sống người Việt ở miền Tây Nam Bộ ta cũng thấy các kỹ thuật canh tác nương rẫy, trồng lúa, đánh bắt thủy sản, làm ghe thuyền…không khác biệt
so với người Việt ở xứ Quảng Trong phong tục, lễ nghi vẫn còn giữ đúng nếp của
Trang 29người Thuận Quảng như: đêm 23 tháng Chạp có tục hát sắc bùa, bùa trừ tịch thượng nêu, mồng bảy hạ nêu, cùng với các kiêng kỵ, khi sinh đẻ vẫn treo thanh củi cháy trước nhà để báo tin sanh con trai hay con gái, ăn những thứ mặn khô khan, ngày con đầy tháng làm bánh tạ lễ 12 bà mụ, đầy năm cúng thôi nôi, thờ ông Táo, kính trọng nữ thần, thờ cá Ông” [Trịnh Hoài Đức 1988:141-147]
Ở miền Tây Nam Bộ, với điều kiện tự nhiên thuận tiện cho hoạt động lao động sản xuất chính là những giồng đất ven sông, ven biển, những cù lao màu mỡ cùng với vùng ba mặt giáp biển nên hoạt động sản xuất ở đây khá phong phú từ nông nghiệp làm ruộng, trồng lúa, trồng cây ăn trái và làm muối, làm nghề chài lưới, đánh bắt thủy hải sản… Bên cạnh đó còn có hoạt động khai thác rừng, săn bắn, khai thác gỗ… Từ các đặc điểm này, ta có thể nhận định những hiện tượng văn hóa của miền Tây Nam Bộ chứa đựng cả yếu tố văn hóa trên cạn lẫn văn hóa biển
Do có sự hiện diện của dân tộc Hoa, một dân tộc có truyền thống giỏi buôn bán, trao đổi nên nền kinh tế hàng hóa, kinh doanh ở Tây Nam Bộ nhanh chóng phát triển; nhiều thị tứ, thương cảng mọc lên Vào thế kỷ XVIII, đã có những thương cảng lớn như Bãi Xàu ở Sóc Trăng, thương cảng Hà Tiên, phố chợ Mỹ
Tho…[Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990:36]
Sự cộng cư hòa bình của dân tộc Việt bên cạnh các dân tộc Kh’mer, Chăm, Hoa… đã tạo nên những ảnh hưởng, tiếp nhận nhiều màu sắc văn hóa, từ đó mang đến sự đa dạng cũng như đặc thù cho văn hóa miền Tây Nam Bộ Đó là văn hóa Ấn
Độ và văn hóa Hồi giáo từ người Chăm, văn hóa Trung Quốc từ người Hoa, và sau này tiếp nhận văn hóa của các nước phương Tây từ rất sóm… Đây cũng là một trong những yếu tố cơ bản để văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ có nhiều nét khác biệt so với văn hóa Việt gốc từ Bắc Bộ
Như vậy, “Tây Nam Bộ là vùng văn hóa được sáp nhập cuối cùng vào văn hóa Việt Nam, xét về thời gian văn hóa, đây là vùng đất trẻ, mới và tiếp nhận nhiều tộc người khác nhau đến làm ăn sinh sống Do vậy trên vùng đất này đã diễn biến tự nhiên một quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người, từ đó những thành tựu văn hóa ở đây phản ánh thành tựu của quá trình giao lưu và biến đổi văn hóa rõ nét Đặc
Trang 30trưng văn hóa Tây Nam Bộ đó là sự dung hợp văn hóa của nhiều tộc người (Việt- Hoa –Chăm - Khmer…)” [Đinh Thị Dung 2010]9
1.2.2 Truyền thống văn hóa của người Việt Tây Nam bộ
Đối với một cộng đồng thì những tinh giá trị truyền thống luôn là nền tảng cho sự vận động và phát triển một nền văn hóa giàu bản sắc Qua quá trình không ngừng vận động song cũng là quá trình bảo tồn, bồi đắp của văn hóa Việt qua thời gian đã khiến cho những giá trị văn hóa ấy trở nên bền vững, như những “hằng số” được cộng đồng thừa nhận được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có sức tác động và chi phối trong mọi hoạt động, ứng xử của cộng đồng Trong luận văn này chỉ để cập đến những yếu tố truyền thống tiêu biểu mà người Việt Tây Nam bộ kết thừa và có mối liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc duy trì và phổ biến tập tục cúng cô hồn trong cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Quá trình hình thành và phát triển, người Việt gắn với tiến trình khai phá thiên nhiên để thiết lập cuộc sống mới, mở mang bờ cõi Trong hoàn cảnh đối diện với thiên nhiên còn hoang sơ mà công cụ kỹ thuật và sự hiểu biết của con người thực tại lúc ấy về khoa học còn non kém nên lưu dân sợ và từ trong tiềm thức trỗi dây tín ngưỡng đa thần thêm phần mãnh liệt Đây chính là những hình thức tư duy
cổ xưa theo thuyết vạn vật hữu linh, thưở mà con người phải đối chọi với muôn vàn khó khăn từ những hiện tượng thiên nhiên mà họ chưa giải thích được Tư duy ấy càng sâu đậm với dân tộc Việt gắn chặt với nền sản xuất nông nghiệp, một loại hình sản xuất phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Trần Ngọc Thêm viết: “Với người Việt, đất Việt – một dân tộc, một quốc gia sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, thì sự gắn
bó với tự nhiên càng lâu dài và bền chặt” [Trần Ngọc Thêm 2006: 242]
Trang 31Trên vùng đất còn hoang sơ của buổi đầu khai hoang, người Việt ở Tây Nam
Bộ “vừa khơi dậy tiềm năng khai thác dồi dào về nông nghiệp trên chân trời mở rộng, vừa đòi hỏi phải vượt qua biết bao thử thách của thiên nhiên: thú dữ, âm khí nặng nề, … bắt buộc những người tha phương cầu thực phải có sự đổi mới về chất rong tư duy cũng như hành động” [Hội khoa học Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh 2004:7]
Bởi quan niệm mọi vật đều có linh hồn nên con người thờ tất cả những gì trong tự nhiên, tất cả đều có thể trở thành thần thánh để cúng bái Nhìn vào truyền thống văn hóa Việt, ta có thể thấy vô số những vị thần từ tự nhiên như: thờ tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (thần mây, thần mưa, thần sấm, thần chớp) hoặc thờ các con vật như thờ rắn, cọp ,cá sấu, chim… Rồi cả cây, cỏ… Nhà
nghiên cứu Cadière viết trong công trình “Tục thờ cây” rằng: “Các bà các cô trên
cây hay bắt trẻ con ốm nên người ta đặt một hình nhân giống đứa bé để hầu Trong
nhiều làng, ngay gần đây vẫn còn những bát hương đặt trên các cây cổ thụ” [Dẫn
theo Phan Ngọc 2004:316]
Quan niệm cây cỏ còn có linh hồn thì con người có linh hồn là một điều hiển nhiên Sự tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn đã hình thành tục lễ thờ cúng tổ tiên Tập tục này như một biểu hiện cao độ nhất của niềm tin này Có thể xem đây là kết
quả của sự “cộng hưởng” giữa niềm tin linh hồn và truyền thống hiếu nghĩa Uống
nước nhớ nguồn của người Việt Biết ơn còn là nền tảng đạo lý của người Việt Tác
giả Phan Ngọc cho rằng “hình thức thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam là phổ biến nhất và đầy đủ nhất” [Phan Ngọc 2004:319]
Tín ngưỡng sùng bái con người và trọng âm đã dẫn đến hiện tượng xem trọng nữ thần cũng là một trong những đặc điểm văn hóa của người Việt ở vùng cực Nam của tổ quốc
Tinh thần cộng đồng được xem như một giá trị quan trọng trong xã hội Việt Nam truyền thống được người Việt Tây Nam bộ kế thừa Bởi tính chất của nghề trồng lúa nước luôn cần sự chung tay, góp sức, dựa vào nhau vừa để đảm bảo việc trồng trọt, thu hoạch theo vụ mùa hiệu quả vừa cùng khắc phục thiên tai lũ lụt
Trang 32Trong mối liên kết cộng đồng này thì sự cố kết cộng đồng làng xã là quan trọng vì
nó dựa trên nền tảng hạt nhân là gia đình và dòng tộc
Theo Trần Ngọc Thêm thì “ở Việt Nam làng và gia tộc có khi đồng nhất với nhau” [Trần Ngọc Thêm 2006:180] Với tinh thần cộng đồng, những người cùng làng, xã có truyền thống đùm bọc, giúp đỡ nhau Từ sự “giúp đỡ, hỗ trợ nhau trên phương diện “có qua có lại” đã hình thành tư duy tôn trọng sự bình đẳng Đây chính
là một hình thức dân chủ nông nghiệp, một hình thức dân chủ sơ khai” [Trần Ngọc Thêm 2006: 183]
Mặt khác, Tây Nam bộ còn được xem là nơi có đặc điểm linh hoạt trong sự tiếp biến, giao lưu văn hóa, “vùng đất phát triển sớm nền kinh tế hàng hóa, một vùng nông thôn sớm tiếp cận với lối sống hiện đại” [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990:414] Đặc điểm văn hóa này đã có những tác động không nhỏ trong tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa với các tộc người cùng cộng cư để tạo nên những sắc thái của văn hóa người Việt Tây Nam bộ
Lịch sử Việt Nam luôn phải đối diện với các cuộc chiến tranh giữ nước với quá trình đấu tranh chống ngoại xâm triền miên, từ đó đã hun đúc truyền thống yêu nước, đấu tranh đến cùng để bảo vệ bờ cõi Phan Huy Lê đã tổng kết: “Nếu tính từ cuộc kháng chiến chống nhà Tần vào thế kỷ thứ III TCN cho đến kháng chiến chống Mỹ kết thúc năm 1975, Việt Nam đã phải tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ tự do, độc lập” [Dẫn theo Ngô Đức Thịnh 2010:126]
Truyền thống yêu nước lại tiếp tục được lưu giữ và phát huy trong tâm thức người Việt Tây Nam bộ hình thành sự tôn kính đối với những vị anh hùng chống giặc, xem họ như những vị thần thánh, xem họ là những vị Thượng đẳng thần Sự tôn kính có nguồn gốc lâu đời, trong Phong tục thờ cúng, Toan Ánh ghi: “Thượng Đẳng thần còn gồm các vị nhân thần đã có công với quốc gia dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… Khi sinh thời các vị này đã từng cứu nguy cho quốc gia, giết giặc lập công, lúc chết được nhà vua và nhân dân nhớ ơn lập đền thờ” [Toan Ánh 2005:161]
Trang 33Với sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật với truyền thống xem Phật giáo như
là một quốc giáo Phật giáo đời sống tâm linh của người Việt Tây Nam bộ có nhiều
điểm tương đồng trong văn hóa Việt vốn ưa chuộng sự khoan dung, độ lượng Và tính chất mềm dẻo, dễ dàng thích nghi với những vùng văn hóa mà đạo Phật đi qua nên Phật giáo đã hòa vào tín ngưỡng dân gian Việt Nam, dung nạp nhiều thần linh trong đó Sự tiếp biến giao thoa văn hóa này đã hình thành nên một nhân sinh quan mang đậm tinh thần nhân đạo, từ bi bác ái trong lòng của người Việt Tây Nam bộ Bên cạnh đó với sự tiếp thu và ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống xem trọng gia phong, lễ nghĩa cũng tác động đến đời sống của cộng đồng lưu dân Việt mặc dù không còn đậm nét như người Việt ở Bắc Bộ Sự quan trọng nghi lễ thể hiện trong việc bảo tồn những nghi thức quan trọng trong đời sống như tang ma, dựng vợ
gả chồng …gọi tắt là Hôn – Quan – Tang – Tế Truyền thống này ảnh hưởng từ triết
lý Nho gia, một hệ ý thức phát triển trong vua quan phong kiến rồi lan truyền trong dân chúng cho đến tận ngày nay dù có phần phai nhạt so với văn hóa Việt Bắc bộ nhưng vẫn còn có những tác động nhất định trong việc ổn định nền nếp gia phong của gia đình dòng họ người Việt Tây Nam bộ
Tây Nam bộ còn là “vùng đất có một nền văn hóa địa phương rất phong phú
và đa dạng Vùng đất này hội tụ những nét đặc trưng của đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa của cư dân nhiều vùng trên đất nước Việt Nam… Những điều kiện sinh thái và địa lý thiên nhiên của vùng đất Nam Bộ, sự đan xen văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau của các dân tộc ở Nam Bộ, sự giao lưu văn hóa với các dân tộc và các quốc gia láng giềng đã tạo nên những nét riêng của đời sống tinh thần và văn hóa của cư dân Nam Bộ” [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990:414]
Song song đó, với tính linh hoạt trong việc tiếp nhận và cải biến cũng như dung hợp các nền văn hóa của các tộc người cùng cộng cư cho nên tín ngưỡng dân gian của người Việt Tây Nam Bộ rất phong phú về loại hình và mang đậm tính nhân văn Đời sống tâm linh của người Việt Tây Nam Bộ đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa mà họ đã có điều kiện tiếp nhận thông qua quá trình cộng cư hàng trăm năm và ít nhiều đã có những tác động đến nhân sinh quan, thế giới quan của họ Nói
Trang 34cách khác, “trong quá trình cộng cư, người Việt đã tiếp thu nhiều nét văn hóa của các tộc cùng họ sống trên một địa bàn chung Nhìn mặt cắt của văn hóa dân gian Việt ở đây (bao gồm cả phong tục tập quán trong đó có cả tục thờ cúng cô hồn), thật khó xác định đâu là yếu tố ngoại nhập, đâu là nền văn hóa người Việt vốn mang theo” [Nguyễn Phương Thảo 1997:25] Đó cũng chính là một trong những cơ sở để tục thờ cúng cô hồn của người Việt vùng này có nhiều đặc điểm riêng mà chúng tôi
sẽ trình bày ở các chương sau
Trang 35TIỂU KẾT
Tây Nam Bộ là một tiểu vùng của Nam Bộ cho nên có đầy đủ các đặc điểm lịch sử – xã hội – văn hóa của vùng đất mới So với Đông Nam Bộ thì đây là vùng đất trũng thường xuyên ngập mặn Tây Nam bộ vùng đất mới được khai phá hơn
300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn của Tây Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4.000 năm lịch sử
Cách đây hơn 300 năm, Nam Bộ là miền đất hoang vu rừng thẳm có nhiều
sông rạch, đầm lầy với đặc điểm “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”,
nhưng người nông dân Việt với tính cần cù, dũng cảm, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước quyết tâm chinh phục thiên nhiên, phòng chống thú dữ trên rừng, dưới nước
để sinh sống và sản xuất Trải qua nhiều biến động của lịch sử, nền kinh tế Nam Bộ ngày càng phát triển, đường giao thông ngày càng thuận lợi, sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của nông dân các làng quê ngày càng mở rộng Nam Bộ đã trở thành một vùng đất trù phú với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa, nhiều nếp sống khác nhau của các tộc người Việt, Kh’mer, Hoa, Chăm, v.v cho tới nếp sống mới do người phương Tây mang đến vùng đất này Tuy nhiên, người dân Tây Nam Bộ đã khéo dung hòa lẫn nhau mà sống, không tỏ ra phân biệt chủng tộc hay nguồn gốc Đó là nền tảng hình thành một vùng văn hóa đặc trưng mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam có được
Người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long có nền kinh tế chủ yếu làm nông nghiệp, thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt ven bờ Tuy là nơi cộng
cư lâu đời của các tộc người khác nhau nhưng văn hóa của tộc người Việt vẫn đóng vai trò chủ đạo thông qua các mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu giữa các tộc người ở đây được thể hiện trong hoạt động kinh tế, sinh hoạt xã hội và đời sống văn hóa vật thể, phi vật thể, nhất là trong tín ngưỡng và các lễ hội dân gian Có thể nói, đây cũng chính là môi trường thuận lợi làm cơ sở hình thành một số dạng sinh hoạt tâm linh trên vùng đất mới để người Việt nơi này gửi gắm lòng tin, trong đó có tập tục thờ cúng cô hồn
Trang 36CHƯƠNG 2 NGHI THỨC THỜ CÚNG CÔ HỒN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
Người Việt ở miền Tây Nam Bộ vốn dĩ sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trong không gian thuần nông họ phát sinh và duy trì nhiều tín ngưỡng dân gian nhằm giữ vững niềm tin vào cuộc sống vốn xưa nay gặp phải nhiều trắc trở do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh loạn lạc và sau này thì nhiều lý do khách quan khác nữa luôn rình rập, đe dọa sự an toàn của con người Nội dung chương này nhằm nêu rõ quan niệm và các hành xử của con người với một trong những đối tượng thuộc về
thế giới siêu hình mà họ vừa kinh sợ lại vừa thương cảm: cô hồn Chính sự mâu
thuẫn không giải thích được ấy làm phát xuất tập tục thờ cúng cô hồn trong cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ
2.1 Thờ cúng cô hồn là hiện tượng phổ biến trong văn hóa người Việt nói chung và người Việt Tây Nam bộ nói riêng
Thờ cúng cô hồn đã hình thành và phổ biến từ lâu đời trong văn hóa Việt Theo các nhà nghiên cứu đi trước, tại miền Bắc, lễ cúng chẩn tế (một hình thức của cúng cô hồn – VMT) được du nhập vào sớm hơn hai miền còn lại Thông tin về lịch
sử du nhập chưa rõ ràng, nhưng quyển thứ 6 trong bộ Thủy Lục của vị Tổ thứ ba dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, Huyền Quang trình bày về lễ cúng này Ở đây (miền Bắc) lễ cúng chẩn tế chịu ảnh hưởng khá đậm yếu tố của Đạo giáo trong việc sử dụng nhiều bùa chú [Phan Đình Đức 2010:72] Mặt khác, tục thờ cúng cô hồn mà điển hình là “tục thờ chiến sĩ trận vong không phân biệt ta hay địch Việc cúng tế do nhà nước phong kiến đảm nhận, dân làng chỉ tham dự” [Phan Kế Bính 1990:120 - 121] cho thấy điều này là hoàn toàn có cơ sở
Người Việt cổ ở Bắc Bộ từ xa xưa cũng có quan niệm “cô hồn chính là tác nhân gây ra dịch bệnh, vì vong linh bị quấy nhiễu hoặc vì cuộc sống thiếu thốn ở thế giới bên kia Để tiêu trừ dịch bệnh, công đồng người sống phải sắm lễ vật cúng
cô hồn” [Đỗ Trinh Huệ 2006:234] Có thể nói, người Việt ngay từ rất xa xưa cũng
Trang 37đặt niềm tin vào uy lực vô biên của thế giới vô hình, chính vì vậy mà họ đã có tục cúng thí cho những vong hồn đói khát, lang thang
Tại miền Trung và miền Nam, “lễ cúng chịu ảnh hưởng dòng thiền Lâm Tế Nhà sư Nguyên Thiều và các đệ tử của ông được coi là những người đầu tiên đưa lễ cúng này vào xứ Đàng Trong Trong quá trình phát triển tại đây, lễ cúng chẩn tế dựa
chủ yếu vào bản kinh Chánh khắc trung khoa Du Già tập yếu, được rút gọn từ bản kinh Du Già diệm khẩu thí thực đàn nghi của sư Vân Thê Châu Hoằng (Trung
Quốc) Các nghi thức cúng và cách thiết trí đàn tràng của lễ cúng này rất phức tạp Tuy nhiên, có thể tăng hoặc giảm cho phù hợp với điều kiện gia chủ và nhu cầu của buổi lễ Quy trình của lễ cúng chẩn tế theo nghi thức truyền thống hiện nay cũng đã
có sự thay đổi theo bối cảnh xã hội mới, theo từng vùng miền, đặc biệt là ở Nam Bộ [Phan Đình Đức 2010:72]
Ở Huế, tập tục thờ cúng cô hồn được gọi là tục chạp cô mộ, biểu hiện qua cô đàn và nghĩa trũng, hay còn gọi là “chạp mả làng” Vào tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, người dân dành thời gian để đến các nghĩa trũng để quét dọn, chỉnh trang cho sạch sẽ, tươm tất… Cũng tại nơi này, “vào cuối thế kỷ XIX còn xuất hiện một lễ cúng âm hồn vào ngày 23 tháng Năm âm lịch để cúng những người chết trong cuộc binh biến năm Ất Dậu (1885), ngày kinh đô thất thủ Từ sự kiện này có rất nhiều miếu thờ cúng nhưng lớn nhất là mang tên miếu Âm Hồn được xây dựng từ năm
1895 [Lê Nguyễn Lưu 2006: 468]
Cũng việc cúng sĩ tử trận vong, ở làng Thái Dương – Thuận An cũng có riêng một ngày thất thủ Thuận An năm 1883 và được cúng vào ngày 16 và 17 tháng Bảy âm lịch Rồi “sự kết hợp lễ tế cô hồn với tế tiền hiền nam giới, tế tiền hiền nữ giới trong lễ “hiệp tế” vào ngày 12 tháng Hai âm lịch [Lê Nguyễn Lưu 2006: 466- 492] nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Việt vùng này
Cư dân biển Quảng Nam – Đà Nẵng quan niệm ở vùng này có âm linh, Cô Bác (là cách gọi tương đồng với cô hồn, Cô Bác chính là cách gọi thân mật của âm linh) Theo Nguyễn Xuân Hương, âm linh - Cô Bác được người dân Quảng Nam -
Đà Nẵng tôn là bề trên,rất linh thiêng sẽ trở thành những phúc thần nếu được thờ
Trang 38phụng chu đáo Với quan iệm như thế, âm linh – Cô Bác được thờ ở lăng âm linh và nghĩa trũng được cộng đồng thiết lập Âm linh - Cô Bác được cúng với nhiều nghi
lễ khác nhau gồm:
- Lễ tế âm linh: thường được tổ chức vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng
Ba và tháng Bảy; thường diễn ra trong hai ngày, ngày đầu gọi là lễ túc hoặc lễ chưng thường, ngày thứ hai là chánh lễ
- Lễ rẫy mả âm linh: là nghi lễ diễn ra ở tất cả các làng có nghĩa trũng, người dân chia nhau rẫy cỏ, vun lại mộ, thắp hương …
- Lễ quẻ cơm Cô Bác: Còn gọi là giỗ hội hay hiệp kỵ Đối tượng cúng là những
Cô Bác của họ tộc trong làng đã chết trên biển được thờ phụng trong lăng âm linh
- Lễ tống ôn: đây là một nghi lễ có ở hầu hết các làng biển Quảng Nam - Đà Nẵng, còn gọi là “lễ tống cói hạ kỳ” hay “tống ôn đưa khách” [Nguyễn Xuân Hương 2009: 129]
Ở Khánh Hòa, người dân gọi cô hồn là “Các Bác” với một ý nghĩa hết sức trân trọng và Các Bác luôn được cúng tế cùng với cúng tế thần linh trong các nhiều
lễ cúng
Một trong các hình thức cúng Các Bác của ngư dân vùng biển Khánh Hòa là thờ cúng Các Bác cùng với nghi lễ “Cúng Lịch Y” nhằm mục đích cầu mong thần linh phù hộ, trợ giúp để ngư dân trúng mùa cá, bình an trở về sau mỗi lần xuất hành
ra biển khơi mưu cầu kế sinh nhai Cúng Các Bác với Cúng Lịch Y thường diễn ra vào tháng Hai âm lịch Cũng nhân dịp này, ngư dân vùng biển Khánh Hòa tin rằng linh hồn của những người bạc phước còn vương vấn nơi đầu gành cuối bãi, chịu đói rét hẩm hiu, và vì vậy cần phải tổ chức lễ cúng cầu siêu cđể các vong hồn ấy (mà họ tôn xưng là Các Bác) sớm siêu thoát Tuy nhiên, ở một số nơi chỉ tiến hành Cúng Lịch Y kết hợp với lễ cầu siêu khi ngư phủ gặp những tai họa bất thường, họ quan niệm những tai họa đó do Các Bác gây ra Họ làm lễ cầu siêu sau tai họa để trừ xui
và cầu bình an Lễ vật cúng cầu siêu gồm vài thứ trái cây, bánh ngọt, chè xôi, giấy tiền vàng bạc, giấy thanh y, giấy ngũ sắc Trong khi cúng Lịch Y là lễ mặn thì cúng cầu siêu là lễ chay [Lê Quang Nghiêm 1970: 72]
Trang 39Cúng Các Bác còn có mặt trong lễ cúng cầu ngư được tổ chức ở miễu thờ Hội đồng và miễu thờ Các Bác Sau lễ cúng Hội Đồng kéo dài 20 phút là lễ cúng Các Bác: “Người ta lật con heo quay nằm ngửa trên tợ, khiển để trước miễu thờ Các Bác Tại đây đã sắp bày đầy đủ những phẩm vật như tại miễu thờ Hội đồng, lễ cúng Các Bác diễn ra trong vòng 15 phút thì chấm dứt” [Lê Quang Nghiêm 1970: 78] Những thế kỷ trước vào thời khai hoang mở đất, “ở Đồng bằng sông Cửu Long, chẳng nghe đến hai tiếng “phúc thần” Các hạng tà thần tuyệt nhiên không có, họa chăng vài am miễu dựng lên nới có người chết oan ức vì tai nạn xe cộ, đắm thuyền, hùm tha sấu bắt” [Sơn Nam 1994: 34] Điều này cho thấy cô hồn vốn được người Việt nơi đây quan tâm và có phần kính sợ nên sớm có tập tục lập am miễu để thờ cúng cầu an, cầu siêu
Cúng cô hồn ở Nam bộ được thể hiện rõ nét nhất là vào ngày rằm tháng Bảy
Theo quan niệm dân gian, đây là ngày xá tội vong nhân Nhà nghiên cứu Sơn Nam
mô tả cúng cô hồn ở Nam Bộ như sau: “Nhiều người dịp này bày cúng đơn sơ, trước sân, với thức ăn đơn giản như: trái cây, mía, bánh ngọt Người chết oan ức, vì tai nạn, vất vưởng, không được người cai quản cõi âm lưu ý dịp ấy cũng được ăn
Lắm nơi cúng gạo, muối (xem Hình 7 và 8) Sau khi cúng, thức ăn được bố thí cho
trẻ con, chúng tha hồ giựt vì trẻ con được gọi đùa là “cô hồn sống” Ngày tưởng nhớ những người bất hạnh, chết ở “đầu bãi cuối gành, hùm tha sấu bắt” Nam Bộ là đất mới khẩn hoang, nhiều người chẳng biết mồ mả của ông nội, ông ngoại, hoặc chú bác ở đâu, thêm những năm chiến tranh dai dẳng, lắm người không đứng hẳn về bên nào cũng chết vì bom đạn, chưa kể đến tai nạn giao thông đường bộ, đường sông, đường biển gia tăng nhanh so với những thập niên trước Ít ra, những người không
tên không tuổi này cũng được nhắc nhở tượng trưng, “thương người như thể thương
thân” Đứng về nghi thức mà xét, nếu những thức ăn dâng cúng cho thần thánh, cho
ông bà đều là món sạch, để người cúng “cộng hưởng” với người khuất mặt, lấy sự may mắn, thì cúng cô hồn tháng Bảy mang ý nghĩa khác Đó là những món ăn bị ô
uế (ma quỉ đã ăn rồi), nếu ăn là xui xẻo, nhưng vất bỏ thì phí phạm Thời xưa, ở nông thôn, lũ trẻ chăn trâu được ưu tiên ăn uống những món ấy mà không sao cả, vì
Trang 40chúng nó là “con của Thần Nông” Ở thành thị, ta quan niệm trẻ con ngây thơ ở
hàng xóm giành giựt nhau cũng phải, vì chúng nó đều vô tội” [Sơn Nam 2006: 260]
Hình 7 và 8: Thức cúng cô hồn ở ven đường rất đạm bạc Ảnh do VMT chụp vào ngày 12 và 19/6/2012 tại huyện Châu Phú, An Giang
Các tục lệ ở các vùng trên được lưu truyền trong nhân dân và được nhân dân
tự thực hành Bên cạnh đó còn có lễ tế âm hồn được tổ chức hàng năm do các quan triều đình thực hiện vào mồng 3 tháng Ba và tháng Chạp âm lịch trong phạm vi cả nước Theo Phan Huy Chú thì “nghi lễ cúng âm hồn do chính quyền phong kiến thực hiện có từ thời nhà Lê và được các đời vua sau làm theo” [Phan Huy Chú 1992:143]
Trong nội các triều Nguyễn, Đại Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ cũng
có ghi về việc cúng âm linh của chính quyền phong kiến như sau: “Gia Long năm thứ 2 (1803), chuẩn định ở kinh và các địa phương, đều làm đàn ở mãi phía bắc bên ngoài thành Hàng năm cứ mồng ba tháng Quí Xuân, Quí Đông đến tế; như gặp ngày cấm kỵ thì lùi lại sau ba ngày; đàn sở thì đặt bài vị thành hoàng ở trên, hai bên
tả hữu đều đặt bài vị “vô tự quỉ thần” (quỉ thần không người thờ tự) lễ phẩm ba con
dê, ba con lợn, hai phương gạo nếp xôi, ba phương gạo cơm cháo; ở kinh thì quan ở doanh Quảng Đức, ở ngoài thì các quan địa phương khâm mạng làm lễ
Thiệu Trị năm thứ 4 (1844), xuống dụ: “Các địa phương trong kinh, ngoài trấn, tế âm hồn đã có lệ định, hàng năm cứ tháng Quí Xuân, Quí Đông thì tế, tất cả