Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.3 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
1.3.1. Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở Việt Nam
Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh của Việt Nam có thể được chia thành bốn giai đoạn: (1) Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây; (2) Giai đoạn tiếp thu ảnh hưởng phương Tây (từ năm 1859 đến năm 1975); (3)
Giai đoạn trước đổi mới kinh tế (4) Giai đoạn đổi mới kinh tế (1976 – 1985).
[dẫn theo Nguyễn Thanh Lân [2007: 84 -105].
Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây (từ thời kỳ dựng nước đến khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858)
Ở giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo hướng sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp. Hoạt động thương mại dừng lại ở mức buôn bán nhỏ nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngày. Ngoại thương không phát triển vì “Nhà nước Đại Việt thường tỏ ra không mấy có thiện cảm đối với việc buôn bán nói chung và đối với ngoại thương nói riêng. Chư Phiên Chí, cuốn sách của một du khách người Trung Hoa xuất bản vào thế kỷ 13 đã tóm tắt thái độ đặc biệt này của nước Đại Việt đối với buôn bán trong một câu ngắn ngủi: “Xứ này không buôn bán (với người nước ngoài)” [Li Tana 1999: 84].
Kinh tế thị trường và ngoại thương chỉ bắt đầu manh nha hình thành cùng với việc mở đất về phía Nam và định cư tại đồng bằng sông Cửu Long.
“Tuy không thể xác định rõ được mức độ của sản xuất và kinh tế hàng hóa lúc bấy giờ, nhưng có thể nói rằng trước khi người Pháp đến, chính sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã mở rộng tầm mắt của người nông dân ra khỏi xóm làng, kích thích sản xuất, tăng năng suất, ...” [Võ Văn Sen – Phan Văn Dốp, trong Nam Bộ đất và người 2008: 70].
Giai đoạn tiếp thu ảnh hưởng phương Tây (từ năm 1859 đến 1975)
Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, hoạt động thương nghiệp nói riêng và kinh doanh nói chung ở Việt Nam bắt đầu bước sang một giai đoạn mới. Một số nhà trí thức yêu nước, nhận ra thương nghiệp chính là một phương cách làm cho dân giàu nước mạnh, đã bắt tay vào kinh doanh.
“Doanh nghiệp Duy Tân” (những công ty của các cụ đồ Nho bỏ khoa cử để
kinh thương tế thế), công ty Hồng Tân Hưng, Đông Thành Xương (Hà Nội), Quảng Nam Hiệp Thương (Đà Nẵng), Liên Thành Thương Quán5 … ra đời.
Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nhân có ý thức làm giàu một cách chân chính còn có những nhà kinh doanh đã tiếp thu những mặt trái của kinh doanh tư bản chủ nghĩa như tính tàn bạo, hám lợi, bất chấp thủ đoạn ...”
[Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 81].
Ở miền Nam, những doanh nhân người Hoa cũng đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn này.
Họ rất thành công trong các lĩnh vực dịch vụ ăn uống, khách sạn, xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng, bất động sản nhờ tầm nhìn dài hạn và quan niệm trọng chữ “TÍN” trong kinh doanh.
Sau hiệp định Geneve, miền Bắc tiến hành xây dựng nền kinh tế chủ nghĩa xã hội và giữ vai trò hậu phương cho cuộc cách mạng chống đế quốc Mỹ ở miền Nam. Mục tiêu kinh tế lúc này là xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước, hạn chế và đi dần đến xóa bỏ loại hình kinh tế tư nhân. Về mặt pháp luật, nhà nước không thừa nhận kinh doanh. Hoạt động kinh doanh thật sự chỉ tồn tại dưới hình thức tiểu thương ở quy mô nhỏ. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh ở miền Nam lại phát triển đáng kể. Việc giao lưu với văn hoá Mỹ cũng ảnh hưởng đến văn hoá kinh doanh ở miền Nam trong thời kỳ 1954-1975. “Sự giao lưu này đã bổ sung cho văn hóa kinh doanh nơi đây một số kiến thức, yếu tố cần thiết cho kinh tế thị trường như cơ sở hạ tầng, công nghệ, kiến thức kinh doanh hiện đại...”6 [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 82]
5 Được thành lập năm 1906, tại Phan Thiết, do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Bang chủ xướng… Đây là tiền thân của Công ty Nước mắm Liên Thành (1917) còn hoạt động cho đến ngày nay.
6 Chỉ sau 5-7 năm có viện trợ Mỹ ở miền Nam, hầu hết các ghe xuồng đã được gắn máy, không còn cảnh chèo thuyền bằng tay [Đặng Phong 2008:41]
Giai đoạn trước đổi mới kinh tế (1976 – 1985)
Sau khi thống nhất đất nước, thực trạng kinh doanh của miền Bắc và miền Nam có những điểm tương đồng và khác biệt. Điểm tương đồng là sự vận hành các doanh nghiệp tư sản miền Nam bị chuyển đổi theo định hướng xã hội chủ nghĩa giống như doanh nghiệp miền Bắc bằng cách quốc hữu hoá, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và xây dựng những doanh nghiệp của nhà nước [dẫn theo Nguyễn Thanh Lân 2007: 96].
Nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến nhu cầu của thị trường, chỉ sản xuất và phân phối những sản phẩm lạc hậu, kém chất lượng. Cơ chế bao cấp (có lãi thì nộp cho Nhà nước, lỗ thì được Nhà nước bù vào) khiến cạnh tranh, kinh doanh theo định hướng khách hàng bị triệt tiêu. “Với bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều tầng quản lý và đầu mối cơ quan trung gian, doanh nghiệp nhà nước không thể ‘ứng phó’ và giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế sản xuất kinh doanh” [Nguyễn Thanh Lân 2007: 97].
Tuy nhiên với tinh thần sáng tạo một số doanh nhân lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước ở miền Nam như Xí nghiệp Việt Thắng, Công ty Biti’s dần dần hướng hoạt động kinh doanh vào việc đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Điều này phản ánh sự linh hoạt, sáng tạo trong tính cách của doanh nhân Việt Nam nói chung và giới doanh nhân Nam Bộ nói riêng.
Giai đoạn đổi mới kinh tế (1986 đến nay)
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Việt Nam. Năm 2000, sự ra đời của luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho kinh doanh phát triển mạnh. Số lượng doanh nghiệp năm 2000 tăng lên gấp 3 lần so với năm 1999. Luật doanh
nghiệp 2005 cho phép mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh và công bằng dưới sự bảo vệ của pháp luật. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn yếu kém cùng với những “lề lối” làm ăn theo kiểu cũ vẫn tiếp tục cản trở cho sự phát triển và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.
Có thể khái quát quá trình phát triển và những đặc điểm của hoạt động kinh doanh ở miền Bắc và miền Nam như sau:
Giai đoạn Đặc điểm
Miền Bắc Miền Nam
Giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây
Từ thời kỳ dựng nước đến khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858
Sản xuất hàng hóa và thương mại không phát triển
Nghề buôn và nhà buôn bị coi rẻ
Ngoại thương không phát triển
Kinh tế hàng hóa và thương mại bắt đầu manh nha ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ khi vùng này được khai phá.
Giai đoạn tiếp thu ảnh hưởng phương Tây
Từ 1858 – 1954
Sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường bắt đầu hình thành và phát triển.
Vai trò của người doanh nhân bắt đầu được nhìn nhận.
Từ 1954 – 1975
Xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh tế tập trung trong tay nhà nước.
Nhà nước không thừa nhận kinh doanh tư nhân
Hoạt động kinh doanh khá phát triển.
Giai đoạn trước khi đổi mới kinh tế
Từ 1975 – 1986
Chuyển đối các doanh nghiệp tư sản miền Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Các doanh nghiệp nhà nước vận hành theo cơ chế bao cấp, kém hiệu quả.
Các doanh nghiệp phía Nam năng động hơn các doanh nghiệp miền Bắc trong định hướng thị trường.
Giai đoạn đổi mới kinh tế (1986 đến nay)
Từ 1986 cho đến nay
Luật doanh nghiệp ra đời tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh phát triển.
Số lượng doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh tăng lên.
Kinh doanh chỉ ở mức quy mô vừa và nhỏ
Trình độ chuyên môn cũng như những hạn chế do yếu tố văn hoá vẫn còn gây trở ngại cho sự phát triển của kinh doanh.
Bảng 3: Những đặc điểm về truyền thống kinh doanh ở Việt Nam